Phân tích tranh chấp lao động và đình công
ở Việt Nam từ góc độ quan hệ lao động
1. Tranh chấp lao động, đình công - biểu hiện của sự bế tắc trong quan
hệ lao động.
Hiện nay, vấn đề tranh chấp lao động và đình công, đặc biệt là đình
công tự phát và việc đa ra các biện pháp có tính khả thi để điều chỉnh vấn đề
đình công đang là một trong những vấn đề nóng bỏng nhất trong quan hệ lao
động ở Việt Nam. Việc hiểu đúng, khoa học và khách quan các loại đình công
khác nhau là chìa khoá đánh giá sự tiến bộ cũng nh khó khăn trong quan hệ
lao động ở Việt Nam. Việc giải quyết sớm các tranh chấp lao động để tránh
xảy ra đình công có thể đợc coi là biện pháp phòng ngừa có hiệu quả nhằm
làm giảm đi các hậu quả xấu do đình công gây ra.
Thực tiễn cho thấy rằng, trớc khi xảy ra tranh chấp lao động, ngời lao
động thờng có những dấu hiệu bất bình. Nếu không giải quyết sớm bất bình,
các mâu thuẫn sẽ tích tụ và sẽ xảy ra tranh chấp. Vì vậy, bất bình có thể đợc
coi là giai đoạn tiền tranh chấp, nó cha thể hiện sự bế tắc trong quan hệ lao
động vì ngay sau khi phát hiện bất bình, có thể giải quyết ổn thoả thông qua
đối thoại.
Tranh chấp lao động xảy ra khi hai bên thực sự có xung đột về quyền và
lợi ích. Nó có thể xảy ra thông qua việc tích tụ các mâu thuẫn, bất bình nh đã
đề cập, song có một số trờng hợp, tranh chấp xảy ra ngay mà không thông qua
giai đoạn tích tụ này. Chẳng hạn, một quyết định đơn phơng của ngời sử dụng
lao động sa thải ngời lao động có thể tạo ra ngay tranh chấp lao động lớn mà
đôi khi có thể dẫn đến tranh chấp ở mức độ lớn hơn.
Tranh chấp lao động thờng là tranh chấp về quyền và lợi ích. Khi tranh
chấp lao động ở mức cao, hai bên không thể đi đến thoả thuận, ngời lao động
sẽ sử dụng đến vũ khí tối thợng của mình - đó là đình công. Theo Luật sửa
đổi, bổ sung một số Điều của Luật lao động đợc ban hành ngày 29/11/2006,
đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và c tổ chức của tập thể lao
động để giải quyết tranh chấp lao động tập thể. Đình công phải do Ban chấp
hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời tổ chức và lãnh
Việt Nam.
Tranh chấp lao động, đình công hiện đang là điểm nóng của trong quan
hệ lao động của các doanh nghiệp. Theo thống kê, chỉ tính riêng các vụ tranh
chấp lao động đợc Toà lao động thụ lý, giải quyết đã là: năm 2000 - 745 vụ;
năm 2001 - 690 vụ; năm 2002 - 805 vụ; năm 2003 - 781 vụ; năm 2004 - 714
vụ và năm 2005 có 835 vụ
1
. Cần lu ý rằng, chỉ khi nào tranh chấp không thể
giải quyết thông qua hoà giải lao động và trọng tài lao động thì mới đợc đa ra
Toà lao động thì có thể thấy, số các vụ tranh chấp lao động diễn ra khá phổ
biến ở Việt Nam.
Sơ đồ 06: Các vụ tranh chấp lao động đợc
toà lao động thụ lý giai đoạn 2000 - 2005
0
200
400
600
800
1000
2000 2001 2002 2003 2004 2005
Nguyên nhân của tranh chấp lao động có nhiều. Loại nguyên nhân thứ
nhất cần đợc đề cập đến là tranh chấp lao động xảy ra do các doanh nghiệp
vi phạm pháp luật lao động. Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy rằng, các
hành vi vi phạm pháp luật lao động của ngời sử dụng lao động khá phong phú
và đa dạng. Sau đây là những hành vi vi phạm thờng gặp dẫn đến tranh chấp lao
động:
Vi phạm các quy định Hợp đồng lao động, chủ yếu gồm các hành vi sau:
Cha thực hiện việc ký kết hợp đồng lao động với ngời lao động
Ký hợp đồng lao động với ngời lao động không đúng loại
Các nội dung trong bản hợp đồng lao động chung chung, hình thức,
Ngời sử dụng lao động trả lơng dới mức lơng tối thiểu cho ngời lao động.
Sai phạm này thờng xảy ra đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn trong
sản xuất kinh doanh, lệ thuộc vào mùa vụ hoặc đơn đặt hàng, ví dụ nh các
doanh nghiệp thuộc loại hình dệt may, kinh doanh khách sạn để phục vụ nghỉ
mát.
Trả lơng mức tối thiểu đối với lao động đã qua đào tạo.
Sai phạm này chủ yếu thờng gặp ở các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài và doanh nghiệp t nhân. Mặc dù ngời lao động đã đợc sử dụng đúng
ngành nghề đợc đào tạo và hoàn thành khối lợng, chất lợng sản phẩm nhng ng-
ời sử dụng lao động vẫn thoả thuận trong hợp đồng lao động mức lơng tối
thiểu để bớt gánh nặng nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội và đem lại lợi nhuận
cao hơn do tiền lơng phải trả ít hơn, còn ngời lao động thì do sức ép về việc
làm nên vẫn phải thoả thuận để làm việc với mức lơng thấp. Mục tiêu lợi
nhuận đã làm cho các doanh nghiệp thuộc loại hình này bất chấp luật pháp,
miễn là đạt đợc mục tiêu đề ra.
Cũng có một số doanh nghiệp trả mức l ơng tối thiểu đối với lao động đã
qua đào tạo do không hiểu biết pháp luật, cho rằng cứ áp dụng mức lơng do
Chính phủ công bố là đã thực hiện đúng pháp luật.
Không xây dựng định mức lao động, thang, bảng lơng trong doanh
nghiệp.
Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, pháp luật lao động bắt buộc phải
xây dựng thang, bảng lơng, định mức lao động. Tuy nhiên, quy định này cha
đợc đa số các doanh nghiệp thực hiện. đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu
t nớc ngoài, doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn thì hầu nh cha
thực hiện. Đây không phải là quy định khó, không thể thực hiện đợc đối với
doanh nghiệp nhng các doanh nghiệp cố tình không thực hiện để có thể trả l-
ơng cho ngời lao động thấp hơn, bắt buộc ngời lao động làm việc nhiều hơn
mà không phải trả lơng làm thêm giờ do số sản phẩm làm ra nhiều hơn so với
định mức lao động trung bình tiên tiến.
Không trả lơng làm thêm giờ theo quy định cho lao động làm việc vào
Không đóng bảo hiểm xã hội bằng cách ký hợp đồng lao động có thời
hạn 1 đến dới 3 tháng, hết hạn hợp đồng lại ký tiếp.
Nợ tiền bảo hiểm xã hội, thậm chí vẫn thu 5% tiền lơng đóng bảo hiểm
xã hội của ngời lao động nhng không nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
Về thu và nộp bảo hiểm y tế.
Không trả đủ lơng và các chi phí chữa trị vì tai nạn lao động hoặc bệnh
nghề nghiệp cho ngời lao động.
Không thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc thực hiện
các thủ tục nhằm đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm xã hội cho ngời lao
động nh ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hu trí hoặc tử
tuất.
Vi phạm về sử dụng lao động đặc thù, gồm:
Sử dụng lao động nữ làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp
xúc với chất độc hại có ảnh hởng xấu đến chức năng sinh đẻ và nuôi
con.
Sa thải hoặc đơn phơng chấm dứt hợp đồng lao động với ngời lao động nữ
vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dới 12 tháng tuổi.
Sử dụng lao động nữ có thai từ tháng thứ 7 hoặc đang nuôi con dới 12
tháng tuổi làm thêm giờ, làm việc ban đêm và đi công tác xa (Nh đã đ-
ợc phân tích ở những phần trớc).
Không thực hiện quy định cho lao động nghỉ trong thời gian hành kinh,
thời gian nuôi con dới 12 tháng tuổi theo quy đnh tại khoản 3, điều
115, Bộ Luật lao động (Nh đã đợc nêu ở các nội dung trớc).
Nơi có sử dụng lao động nữ nhng không có chỗ thay quần áo, buồng
tắm, buồng vệ sinh nữ.
Sử dụng lao động dới 15 tuổi vào làm việc ở những nghỉ, công việc có
quy định cấm.
Sử dụng lao động dới 15 tuổi đối với những nghề, công việc đợc sử
dụng lao động loại này nhng không đợc sự đồng ý của cha mẹ hoặc ng-
ời đỡ đầu.
trí làm việc, tiếng ồn quá lớn ảnh hởng tới việc kiểm tra, theo dõi, các
yếu tố khác gây mỏi mệt, thiếu tập trung.
Các sai phạm về vệ sinh lao động, gồm:
Không thực hiện công tác y tế- chăm sóc quản lí sức khoẻ ngời lao động.
Không bố trí cán bộ tế, trang bị thuốc men y dụng cụ y tế và thành lập
mạng lới vệ sinh viên.
Không tổ chức khám sức khoẻ tuyển dụng, định kì và khám phát hiện
bệnh nghề nghiệp.
Ngời lao động bị bệnh nghề nghiệp không đợc giám định sức khoẻ,
điều trị và khai báo theo qui định.
Không thực hiện công tác quản lí, cải thiện môi trờng lao động:
Nơi sản xuất có phát sinh yếu tố độc hại không trang bị hoặc trang bị
không đầy đủ các phơng tiện kĩ thuật vệ sinh nhằm cải thiện ĐKLĐ
Ngời sử dụng lao động không trang bị hoặc trang bị không đủ, không
đúng chủng loại các phơng tiện bảo hộ lao động cho NLĐ.
Ngời lao động làm các nghề/công việc độc hại nguy hiểm không đợc
bồi dỡng tại chỗ bằng hiện vật hoặc bồi dỡng bằng tiền.
Tranh chấp lao động ở mức cao thờng dẫn đến đình công. Theo báo cáo
số 02/BC-CP ngày 28 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ thì từ khi Bộ luật lao
động có hiệu lực thi hành đến ngày 15 tháng 4 năm 2006, cả nớc đã xảy ra
1.250 cuộc đình công, bình quân 111 cuộc/năm. Tại thời điểm cuối năm 2005,
đầu năm 2006, các cuộc đình công tự phát liên tiếp xẩy ra theo phản ứng dây
chuyền và chỉ tính trong tháng 5/2006, đã có 19 cuộc đình công xảy ra trên địa
bàn cả nớc. Theo báo Lao động số 131 số ra ngày 9/6/2007, chỉ riêng 6 tháng
đầu năm 2007 đã có 150 vụ đình công trên phạm vi cả nớc.
Trong số 1250 cuộc đình công đợc đề cập trên, có 841 cuộc xảy ra ở
các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài (chiếm 66,7%); các doanh nghiệp
dân doanh có 332 cuộc (chiếm 26,4%) và các doanh nghiệp nhà nớc có 87