THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO DỊCH VỤ THẺ QUỐC TẾ TẠI SỞ GIAO DỊCH –NHNT VN - Pdf 32

1
CHƯƠNG 1:
QUẢN LÝ RỦI RO DỊCH VỤ THẺ QUỐC TẾ CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 Những khái niệm chung về thẻ ngân hàng
1.1.1 Khái niệm về thẻ thanh toán của ngân hàng
Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ
phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với sự ứng
dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng. Thẻ ngân hàng là công cụ
thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng thanh toán
hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc
hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện các dịch vụ
thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ
ATM.
Theo “Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng” ban
hành kèm theo quyết định số 371/1999 QĐ/NHNN ngày 19/10 năm 1999 thì
thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách
hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
Thẻ ngân hàng luôn được làm bằng Plastic theo kích cỡ tiêu chuẩn quốc
tế và bao gồm các yếu tố: nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của nhà
phát hành thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực và tên của chủ thẻ. Ngoài ra trên thẻ còn
có thể có tên công ty phát hành thẻ hoặc thêm một số yếu tố khác theo tiêu
chuẩn của Tổ chức hoặc tập đoàn thẻ quốc tế…..
2
1.1.2 Lịch sử phát triển thẻ ngân hàng:
Để có được các sản phẩm đa dạng như hiện nay, lĩnh vực thẻ ngân hàng
đã trải qua nhiều giai đoạn thử nghiệm và phát triển. Tuy nhiên, xét về mặt
thời gian, kinh doanh thẻ là một ngành kinh doanh tương đối mới mẻ, ra đời
và bắt đầu phát triển từ những năm đầu thế kỷ 20 cho tới nay.
Thẻ ngân hàng được hình thành tại Mỹ từ thói quen cho khách hàng
mua chịu của các chủ tiệm bán lẻ trên cơ sở uy tín của khách đối với cửa hàng.

dụng sau này. Tuy nhiên cùng với sự phát triển sản phẩm quá nhanh các ngân
hàng cũng như các tổ chức tài chính cũng đã gặp những bài học xương máu và
buộc phải xem lại chiến lược kinh doanh của đơn vị mình.
Vào năm 1950, Diners Club phát hành tấm thẻ tín dụng đầu tiên được
làm bằng chất liệu Plastic. Sau này Frank NcNamara, người sáng lập ra Diners
Club kể lại là ông đã từng trải qua một trường hợp rất lúng túng khi ông đi ăn
tại một cửa hiệu ở New York nhưng quên mang theo ví. Chính việc phải cam
kết thanh toán sau đó đã gợi lên ý tưởng kinh doanh thẻ đối với Frank
NcNamara.
4
Sau Diners Club, vào năm 1958, công ty American Express cũng tham
gia vào thị trường thẻ ngân hàng và đã thiết lập thành công tên tuổi của mình
trong lĩnh vực mới mẻ này. Cũng giống như các đối thủ cạnh tranh, American
Express chú trọng phát triển thẻ trong lĩnh vực giải trí và du lịch, hai lĩnh vực
có tốc độ phát triển nhanh chóng tại Mỹ và châu Âu trong thời kỳ sau chiến
tranh thế giới.
Đến trước năm 1970, khái niệm thẻ tín dụng đã được mọi người biết
đến và nhanh chóng được đón nhận. Năm 1966, ngân hàng Bank of American
chính thức trao quyền phát hành thẻ BankAmerican của mình cho các ngân
hàng khác thông qua việc ký các hợp đồng đại lý, khởi đầu cho giai đoạn tăng
tốc trong phát triển dịch vụ thẻ. Người dân đi du lịch nhiều hơn trên nước Mỹ
và cả nước ngoài mà không còn lo lắng tới việc phải có sẵn tiền để thanh toán.
Thẻ tín dụng lúc này không chỉ mặc định dành cho những đối tượng giàu có
và nổi tiếng mà trở thành một phương tiện thanh toán thông dụng. Thương
hiệu BankAmerican với một loạt sản phẩm có ba màu xanh, trắng, vàng đặc
trưng ngày càng trở nên quen thuộc với người tiêu dùng. Bằng việc ký hợp
đồng đại lý và cho các ngân hàng khác hưởng phí thanh toán chuyển đổi,
Bank of American đã nhanh chóng tăng được lượng thẻ phát hành cũng như
ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với các ĐVCNT trên khắp nước Mỹ và mở
rộng ra thế giới. Tới năm 1977, thẻ của ngân hàng Bank of American thực sự

Trên thị trường thẻ quốc tế hiện nay có rất nhiều tiêu thức để phân loại
thẻ nhưng chủ yếu các tổ chức thẻ sử dụng theo 2 phương thức chính: Phân
loại theo công nghệ sản xuất và phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ.

1.1.3.1. Nếu căn cứ theo công nghệ sản xuất chia thành 2 loại: thẻ từ
và thẻ thông minh:
* Thẻ từ: là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa được dập nổi ở
mặt trước của thẻ vừa được mã hoá trong bằng từ ở mặt sau của thẻ, các thông
tin này phải đảm bảo chính xác và khớp với nhau. Thẻ từ hiện nay đang chiếm
phần lớn trong tổng số lượng thẻ đang sử dụng trên thị trường. Nhược điểm
của thẻ từ là số lượng các thông tin được mã hoá không nhiều và mang tính cố
định nên không thể áp dụng kỹ thuật mã hoá an toàn và có thể bị ăn cắp thông
tin bằng các thiết bị nối với máy vi tính. Loại thẻ này ngày càng ít được sử
dụng vì công nghệ in đơn giản, dễ bị làm giả. Hiện nay các công nghệ thẻ mới
như thẻ từ, thẻ thông minh ngày càng được sử dụng rộng rãi.
* Thẻ thông minh (Smart card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có đặc
tính bảo mật và an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ
một chip điện tử có cấu tạo như một máy tính hoàn hảo. Thông thường một
tấm thẻ thông minh được gắn chip điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ.
Cũng có trường hợp thẻ thông minh có cả Chip điện tử và băng từ. Chip điện
tử độc lập với thẻ và được gắn trên bề mặt của thẻ, về bản chất gồm 2 loại
chip: chip bộ nhớ và chip xử lý dữ liệu. Chip bộ nhớ lưu trữ toàn bộ các thông
tin cần thiết phục vụ cho công tác thanh toán thẻ trong mỗi lần sử dụng còn
chip xử lý dữ liệu có khả năng bổ sung, xoá bỏ hoặc điều chỉnh các thông tin
7
trong bộ nhớ. Thẻ thông minh gắn chip xử lý dữ liệu có khả năng vừa lưu trữ
các thông tin về chủ thẻ, điểm thưởng tích luỹ đồng thời lưu trữ cả số liệu về
những lần giao dịch của chủ thẻ tại ĐVCNT. Tính năng vượt trội này của thẻ
thông minh giúp cắt giảm chi phí xử lý đối với ngân hàng và các trung gian
thanh toán bởi việc đối chiếu thông tin tài khoản và thông tin của chủ thẻ cũng

sẽ được khôi phục như ban đầu. Đây chính là tính chất tuần hoàn của thẻ tín
dụng
Ngân hàng và các tổ chức tài chính phát hành thẻ tín dụng cho khách
hàng dựa trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng. Khả
năng đảm bảo chi trả được xác định dựa trên các tiêu chí như: thu nhập, tình
hình chi tiêu, uy tín, mối quan hệ sẵn có với các tổ chức tài chính, tài sản thế
chấp … của khách hàng. Khi sử dụng thẻ, thay bằng tiền mặt, chủ thẻ xuất
trình thẻ của mình tại các điểm cung ứng hàng hóa dịch vụ có chấp nhận thẻ
để thanh toán.
Ngoài các sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế thông thường như Visa vàng,
chuẩn; Master vàng, chuẩn để đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, các tổ
chức thẻ quốc tế còn đưa ra một sản phẩm thẻ tín dụng đặc biệt phục vụ những
khách hàng có thu nhập rất cao, có khả năng tài chính vững vàng và có mức
chi tiêu lớn. Đó là thẻ thanh toán (Charge card). Khi sử dụng thẻ thanh toán
khách hàng được hưởng một hạn mức tín dụng đặc biệt cao hoặc không bị chi
9
phối bởi hạn mức tín dụng nhưng chủ thẻ sẽ phải thanh toán toàn bộ số tiền
phát sinh cho ngân hàng vào ngày đến hạn.
Thẻ ghi nợ (Debit card): Giống như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ cũng là một
phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, nó cho phép khách hàng tiếp cận
với số dư tài khoản mình qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toán hàng
hoá dịch vụ tại các ĐVCNT hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tới tài
khoản tại các máy ATM. Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc chủ yếu vào số
dư trong tài khoản, ngân hàng giữ vai trò cung cấp dịch vụ cho chủ thẻ và thu
phí dịch vụ. Đối với thẻ ghi nợ, giữa ngân hàng và khách hàng không diễn ra
quá trình cho vay tín dụng, không có việc phân loại khách hàng nên khách
hàng chỉ cần có tài khoản tại ngân hàng đều có thể tiếp cận với sản phẩm thẻ
ghi nợ của ngân hàng. Chính vì vậy về mức độ có thể thay thể tiền mặt thẻ ghi
nợ chiếm ưu thế vượt trội so với thẻ tín dụng.
Thẻ ATM là hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép

Thẻ trong nước: là thẻ do các ngân hàng, tổ chức tín dụng phát hành sử
dụng thay thế tiền mặt để thanh toán hàng hoá dịch vụ và rút tiền mặt trong
phạm vi quốc gia. Thông thường đó là thẻ ghi nợ nội địa của các ngân hàng
thương mại phát hành sử dụng tại hệ thống máy ATM và mạng lưới các
11
ĐVCNT của ngân hàng phát hành và ngân hàng đại lý, ngân hàng liên kết với
ngân hàng phát hành đó.
Thẻ quốc tế: là thẻ mang thương hiệu của các tổ chức thẻ quốc tế do các
ngân hàng, tổ chức tín dụng phát hành. Thẻ quốc tế có thể được sử dụng trên
phạm vi quốc tế, tại bất kỳ các ĐVCNT hoặc máy ATM có mang biểu tượng
chấp nhận thanh toán thẻ đó. Để phát hành thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành
thẻ phải đăng ký và được chấp nhận làm thành viên của Tổ chức thẻ quốc tế
đó, tuân thủ chặt chẽ các quy định trong việc phát hành và thanh toán thẻ do
Tổ chức thẻ quốc tế đó ban hành. Có 2 loại thẻ quốc tế là thẻ ghi nợ quốc tế và
thẻ tín dụng quốc tế.
1.1.4. Các chủ thể tham gia trong hoạt động dịch vụ thẻ quốc tế của
ngân hàng thương mại
Hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng có sự tham
gia chặt chẽ của 5 thành phần cơ bản là: Tổ chức thẻ quốc tế, ngân hàng phát
hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ
(ĐVCNT). Mỗi chủ thể đóng vai trò quan trọng khác nhau trong việc phát huy
tối đa tính năng phương tiện thanh toán hiên đại không dùng tiền mặt của thẻ
ngân hàng.
1.1.4.1. Tổ chức thẻ quốc tế (TCTQT):
Tổ chức thẻ quốc tế là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động và thanh
toán thẻ trong mạng lưới của mình. Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín
dụng lớn có mạng lưới hoạt động rông khắp và đạt được sự nổi tiếng với
thương hiệu và các sản phẩm đa dạng: tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ
MasterCard, công ty thẻ American Express, công ty thẻ JCB, công ty thẻ
12

cấp cho các ĐVCNT thiết bị phục vụ cho việc thanh toán thẻ, hướng dẫn đơn
vị cách thức vận hành, chấp nhận thanh toán thẻ cũng như quản lý và xử lý
những giao dịch thẻ tại các đơn vị này. Thông thường ngân hàng thanh toán sẽ
thu từ các ĐVCNT một mức phí chiết khấu cho việc chấp nhận thanh toán thẻ
của đơn vị, nó có thể tính phần trăm trên giá trị mỗi giao dịch hoặc tính theo
tổng giá trị giao dịch thẻ. Mức chiết khấu cao hay thấp phụ thuộc vào từng
ngân hàng và vào mối quan hệ chiến lược của ngân hàng với ĐVCNT.
Trên thực tế rất nhiều ngân hàng vừa là ngân hàng phát hành vừa là
ngân hàng thanh toán thẻ. Với tư cách là ngân hàng phát hành, khách hàng của
họ là chủ thẻ còn với tư cách là ngân hàng thanh toán, khách hàng là các đơn
vị cung ứng hàng hoá dịch vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ.
1.1.4.4. Chủ thẻ:
Chủ thẻ là những cá nhân hoặc người được uỷ quyền (nếu là thẻ do
công ty uỷ quyền sử dụng đối với thẻ tín dụng quốc tế ) được ngân hàng phát
hành thẻ, có tên in nổi trên thẻ và sử dụng thẻ theo những điều khoản, điều
kiện ngân hàng quy định. Theo thông lệ mỗi chủ thẻ chính có thể phát hành
thêm thẻ phụ, cả thẻ chính và thẻ phụ cùng chi tiêu chung một tài khoản. Chủ
thẻ phụ cũng có trách nhiệm thanh toán các khoản phát sinh trong kỳ nhưng
14
chủ thẻ chính là người có trách nhiệm thanh toán cuối cùng đối với ngân hàng.
Chủ thẻ sử dụng thẻ của mình để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại các đơn vị
cung ứng hàng hoá, dịch vụ có chấp nhận thẻ (ĐVCNT), các điểm ứng tiền
mặt thuộc hệ thống ngân hàng hoặc sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch tại
máy rút tiền tự động. Đối với thẻ tín dụng, sau một khoảng thời gian nhất định
tuỳ theo quy định của từng ngân hàng phát hành, chủ thẻ sẽ nhận được sao kê
(statement). Sao kê là bảng thông báo chi tiết các giao dịch chi tiêu sử dụng
thẻ của chủ thẻ trong kỳ sao kê, số dư nợ cuối kỳ, ngày đến hạn thanh toán
cũng như số tiền thanh toán tối thiểu mà khách hàng phải thanh toán trong kỳ
cho ngân hàng và các thông báo liên quan đến việc sử dụng thẻ. Căn cứ vào
các thông tin trên sao kê, nếu không có gì thắc mắc chủ thẻ sẽ thực hiện việc

9
thanh
toán
Chủ thẻ
Đơn vị chấp
nhân thẻ
Ngân hàng
thanh toán
Tổ chức thẻ
quốc tế
1- mua hàng hóa dịch vụ
3-
tạm
ứng
2-
hóa
đơn
giao
dịch
Ngân hàng
phát hành
4 - gửi dữ liệu
5 - báo có
6 - gửi dữ liệu
7 – báo nợ
8
Sao kê
16
1.1.5.1. Hoạt động phát hành:
Hoạt động phát hành của ngân hàng bao gồm việc quản lý và triển khai

trị giao dịch thanh toán bằng thẻ từ các ĐVCNT mà còn là mong muốn cung
cấp cho khách hàng một dịch vụ hoàn chỉnh, tạo cơ sở thuận lợi cho việc sử
dụng thẻ. Đối với tổ chức thẻ quốc tế và các thành viên, việc khuyến khích
hoạt động thanh toán thẻ thông qua mở rộng ĐVCNT có ý nghĩa rất quan
trọng.
Thứ nhất: Hoạt động thanh toán một loại thẻ nhất định nào đó được mở
rộng trên một thị trường, điều đó có nghĩa là chủ thẻ có thể sử dụng thẻ một
cách dễ dàng và thuận tiện hơn. Khi mà nhu cầu du lịch, giải trí của người dân
nói chung ngày càng tăng thì việc phát triển thị trường thanh toán thẻ ra nước
ngoài càng trở nên cấp thiết. Số lượng ĐVCNT lớn, có mặt tại khắp các thị
trường tiềm năng và các ngành hàng kinh doanh đồng nghĩa rằng thẻ ngân
hàng được chấp nhận thanh toán tại nhiều nơi hơn, dễ dàng hơn, thuận tiện
18
hơn và mang lại lợi ích nhiều hơn cho cả chủ thẻ, các ĐVCNT và sau đó là
các ngân hàng phát hành và thanh toán thẻ.
Thứ hai: Không chỉ mở rộng thị trường thanh toán bằng cách ký kết hợp
đồng thanh toán với các ĐVCNT mới, một ngân hàng thanh toán thẻ đặc biệt
quan tâm tới viêc duy trì mối quan hệ với các ĐVCNT sẵn có, thể hiện trong
công tác chăm sóc khách hàng. Nếu không có những chính sách thích hợp,
những dịch vụ hỗ trợ tốt, tạo điều kiện cho các ĐVCNT có thể chấp nhận
thanh toản thẻ một cách dễ dàng, được ngân hàng báo có đúng cam kết sau khi
đã trừ đi tỷ lệ phí chiết khấu, các ngân hàng khác sẽ tranh thủ cơ hội này để
chào những dịch vụ hoàn hảo hơn tới các ĐVCNT. Như vậy khách hàng trong
hoạt động thanh toán sẽ giảm đi, mục tiêu thu lợi của các ngân hàng sẽ bị ảnh
hưởng sâu sắc.
Hiện nay hoạt động thanh toán thẻ trên thị trường quốc tế đã phát triển
ở mức độ rất cao với trên hàng trăm nghìn ĐVCNT tại hơn 200 quốc gia,,
chấp nhận thẻ mang các thương hiệu nổi tiếng thế giới như Visa, MasterCard,
American Express,, Diners Club, JCB và nhiều loại thẻ quốc tế và ngân hàng
nội địa khác. Tại Việt nam tuy thẻ ngân hàng còn mới mẻ nhưng nhằm đáp

tra , xử lý các hành vi vi pham hợp đồng, giả mạo.
20
 Tổ chức tập huấn cho nhân viên ĐVCNT và chủ thẻ về các biện
pháp phòng ngừa giả mạo.
Kinh doanh thẻ ngân hàng càng phát triển thì lĩnh vực quản lý rủi ro
càng được đầu tư nhiều hơn. Các chuyên gia trong lĩnh vực này thường là
những người có kinh nghiệm và thực sự am hiểu về thẻ và công nghệ vì chỉ có
vậy họ mới có thể ngăn ngừa, dự đoán và phát hiện các hành vi giả mạo trong
lĩnh vực thẻ.
1.1.5.4. Marketing và dịch vụ khách hàng
Cũng như những ngành nghề kinh doanh khác, kinh doanh thẻ ngân
hàng đòi hỏi chú trong đáng kể vào công tác Marketing và dịch vụ khách
hàng. Về lý thuyết, Marketing và dịch vụ khách hàng trong kinh doanh thẻ là
khái niệm tương đối rộng, bao gồm toàn bộ các phương thức để tìm kiếm
khách hàng (ĐVCNT và chủ thẻ), giúp họ tiếp cận, quyết định và lựa chọn
phương thức thanh toán phi tiền mặt này và trở thành khách hàng lâu dài của
ngân hàng
Hoạt động Marketing bao gồm các hoạt động cơ bản sau:
 Tiếp xúc với các đơn vị cung ứng hàng hóa dịch vụ có tiềm năng
cho hoạt động thẻ, thuyết phục ký kết họ ký hợp đồng chấp nhận thanh toán
thẻ.
 Cung cấp dịch vụ cho các ĐVCNT : lắp đặt thiết bị đọc thẻ,
hướng dẫn quy trình nghiệp vụ chấp nhận thẻ, bảo trì bảo dưỡng máy móc
thiết bị thanh toán thẻ
21
 Tiến hành việc quảng cáo cho các ĐVCNT nói chung hoặc các
ĐVCNT tiềm năng cùng với chương trình quảng cáo, khuyếch trương thẻ
 Nâng cao tính trung thành của các ĐVCNT bằng cách xếp hạng,
tính điểm phục vụ hoặc lượng giá trị giao dịch tại đơn vị để từ đó có chính
sách giảm phí, tỷ lệ chiết khấu cho chủ thẻ và ĐVCNT

những khó khăn cho ngân hàng khi muốn liên hệ với chủ thẻ và đặt ngân hàng
trước nguy cơ tổn thất tín dụng khi chủ thẻ sử dụng thẻ nhưng không có đủ
khả năng thanh toán hoặc chủ thẻ cố tình lừa đảo để chiếm dụng tiền của ngân
hàng.
b. Thẻ giả:
Thẻ giả là thẻ do các tổ chức hoặc cá nhân làm giả căn cứ vào các thông
tin có được từ việc đánh cắp các dữ liệu trên băng từ của thẻ thật từ các thẻ
mất cắp, thất lạc. Thẻ có thể được làm giả dưới các hình thức: Thông tin dập
nổi trên thẻ bị sửa lại, thẻ bị mã hóa lại băng từ, thẻ trắng nhưng đã được mã
hóa băng từ hoặc thẻ bị làm giả hoàn toàn dựa trên các dữ liệu của thẻ thật.
Thẻ giả được sử dụng sẽ gây tổn thất cho ngân hàng phát hành bởi vì theo quy
định của tổ chức thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành chịu hoàn toàn trách nhiệm
23
với mọi giao dịch mang mã số BIN của Ngân hàng phát hành. Đây là loại hình
rủi ro có tỷ lệ cao, thường được tội phạm thẻ sử dụng rộng rãi, phổ biến nhất.
 Thẻ bị dập nổi lại: là loại thẻ giả mà các thông tin trên thẻ
được dập lại bằng công nghệ đơn giản trên nền phôi thẻ bị mất cắp, thất
lạc.Các thông tin an ninh trên thẻ giồng như thẻ thật nhưng có thể dể dàng
kiểm tra và phát hiện bằng mắt thường. Có thể phát hiện thẻ giả khi đối chiếu
thông tin in nổi ở mặt trước thẻ với các thông tin in chìm trên băng chữ lý mặt
sau của thẻ hoặc với dữ liêu trên băng từ khi đọc thẻ qua máy EDC.
 Thẻ bị thay đổi thông tin trên thẻ: Tội phạm dùng thẻ thật
không còn giá trị lưu hành để thay đổi các thông tin trên thẻ. Thường sử dụng
các công nghệ đơn giản, có thể dễ dàng kiểm tra bằng mắt thường. Phát hiện
giả mạo bằng cách kiểm tra so sánh thông tin in nổi trên thẻ với các thông tin
được in trên băng chữ ký mặt sau của thẻ hoặc với dữ liệu trên băng từ khi đọc
thẻ qua máy EDC.
 Thẻ giả mạo: Tội phạm làm thẻ giả dựa trên các thông tin
lấy được từ việc đánh cắp các dữ liệu của thẻ thật bằng các thủ đoạn khác
nhau. Loại giả mạo này thường liên quan đến tội phạm có tổ chức (vì yêu cầu

thông báo cho ngân hàng phát hành để có các biện pháp chấm dứt sử dụng
hoặc thu hồi thẻ. Thẻ bị mất cắp thất lạc cũng có thể bị tội phạm thẻ sử dụng
25
làm thẻ giả như trường hợp thẻ giả (dập nổi, mã hóa lại băng từ bằng các
thông tin giả mạo). Đôi khi giả mạo có liên quan đến chủ thẻ cố tình báo mất
thẻ và sau đó sử dụng thẻ.
d. Chủ thẻ không nhận được thẻ do ngân hàng phát hành gửi (Never
Received Issue) :
Là trường hợp thẻ bị đánh cắp hoặc bị lợi dụng thực hiện giao dich
trong quá trình chuyển từ ngân hàng phát hành đến chủ thẻ. Việc xác định thẻ
bị ăn cắp trên đường mất nhiều thời gian do khoảng thời gian chủ thẻ nhận
được thẻ và gửi xác nhận cho ngân hàng thường kéo dài, đôi khi chủ thẻ khiếu
nại là không nhận được thẻ thì ngân hàng mới phát hiện được.
e.Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng (Account Takeover):
Rủi ro này phát sinh khi ngân hàng phát hành nhận được những yêu cầu
thay đổi thông tin của chủ thẻ, đặc biệt là thay đổi địa chỉ của chủ thẻ. Do
không xác minh kỹ nên ngân hàng phát hành đã gửi thẻ về địa chỉ như yêu cầu
mà không đến tay chủ thẻ thật. Tài khoản của chủ thẻ thật đã bị người khác lợi
dụng sử dụng
1.2.1.2.2. Rủi ro trong hoạt động thanh toán thẻ
a.Đơn vị chấp nhận thẻ giả mạo:
Đơn vị chấp nhận thẻ cố tình đăng ký các thông tin không chính xác với
ngân hàng thanh toán. Ngân hàng thanh toán sẽ chịu tổn thất khi không thu
được những khoản đã tạm ứng cho những ĐVCNT này trong trường hợp
ĐVCNT thông đồng với chủ thẻ hoặc cố tình tạo ra các háo đơn hoặc giao
dịch giả mạo để chiém dụng vốn của ngân hàng.

Trích đoạn Giải phỏp hạn chế rủi ro dịch vụ thẻ tại Sở giao dịch –NHNT VN 1 Xõy dựng hệ thống chấm điểm và phõn loại khỏch hàng Nõng cao nhận thức và trỡnh độ cũng như phải thường xuyờn kiễm tra cụng tỏc thanh toỏn thẻ tại cỏc ĐVCNT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status