Tinh thần nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam sau 1986 - Pdf 32

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nữ quyền là khái niệm mới được nhắc đến nhiều trong đời sống văn học
nước ta những năm gần đây, cùng với sự ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào nữ quyền
thế giới những năm 60 – 70 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, trên thực tế, trước đó từ rất lâu,
ý thức nữ quyền đã có ở Việt Nam, trong cội nguồn nền văn hóa nông nghiệp lúa nước
tôn thờ Mẫu và đã ghi dấu ấn trong suốt tiến trình văn học Việt Nam. Khi gặp gỡ bối
cảnh khách quan thuận lợi cùng với quá trình vận động nội tại trong đời sống văn học,
đáng chú ý là sự xuất hiện và trưởng thành vượt bậc của đội ngũ nhà văn nữ, tinh thần
nữ quyền trở thành một trong những nhân tố chủ đạo chi phối nội dung sáng tác sau
1986. Nghiên cứu tinh thần nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam sau 1986 sẽ làm rõ
những tiền đề xã hội, thẩm mĩ dẫn đến sự xuất hiện tinh thần nữ quyền sau 1986, để
tránh sự ngộ nhận cho rằng tinh thần nữ quyền chỉ là sự “mô phỏng”, “bắt chước” văn
học nữ quyền thế giới hay một vài xu hướng văn học đang thịnh hành (như linglei)
trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài cũng góp phần chỉ ra
sự kế thừa có phát triển, nét tương đồng và bản sắc riêng độc đáo của tinh thần nữ
quyền trong văn xuôi Việt Nam sau 1986 với tinh thần nữ quyền trong văn học truyền
thống và văn học nữ quyền thế giới.
1.2. Văn học sau 1986 chứng kiến sự xuất hiện đông đảo và trưởng thành vượt
bậc của các nhà văn nữ. Điều này đã làm cho tinh thần nữ quyền trở lại mạnh mẽ chưa
từng có trong đời sống văn học. Nhiều câu hỏi xoay quanh vấn đề nữ quyền được các
nhà văn đặt ra và “trả lời” sâu sắc trong tác phẩm như quan niệm về vị trí, vai trò của
người phụ nữ trong đời sống và trong văn chương; đặc trưng bản thể nữ; vấn đề nhu
cầu, quyền lợi của người phụ nữ hiện đại; ý thức nữ quyền trong sáng tạo văn chương;
hình ảnh người đàn ông trong xã hội hiện đại… Có thể nói, nữ quyền đã trở thành
nguồn cảm hứng quan trọng chi phối diện mạo của văn xuôi Việt Nam giai đoạn này.
Nghiên cứu tinh thần nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam sau 1986 sẽ góp phần “trả
lời” những câu hỏi này và tiến tới làm sáng tỏ diện mạo cũng như quy luật vận động
của văn xuôi Việt Nam sau 1986.
1.3. Trên hoạt động sáng tác, các nhà văn sau 1986 đã sáng tạo nên những tác

tác phẩm của các tác giả văn học nữ quyền Châu Âu, Châu Á với mục đích so sánh,
làm rõ sự tương đồng và khác biệt giữa tinh thần nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam
sau 1986 với các tác phẩm văn học nữ quyền thế giới.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu những tiền đề xã hội, thẩm mĩ dẫn đến sự
xuất hiện của tinh thần nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam từ sau 1986, nghiên cứu
những biểu hiện của tinh thần nữ quyền trong sáng tác xét trên cả bình diện nội dung
và hình thức thể hiện, từ đó khẳng định tinh thần nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam
sau 1986 là sự kế thừa có phát triển, có bản sắc riêng so với tinh thần nữ quyền trong
văn học trước đó.

2


3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích như vậy, luận án hướng đến thực hiện bốn nhiệm vụ trọng tâm:
Thứ nhất, minh định khái niệm nữ quyền, tinh thần nữ quyền (bằng việc xác
định nội hàm khái niệm và phân biệt với những khái niệm gần gũi) làm cơ sở cho việc
xác định các biểu hiện của tinh thần nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam sau 1986.
Thứ hai, chỉ ra và phân tích những tiền đề xã hội – thẩm mỹ dẫn tới sự xuất
hiện tinh thần nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam sau 1986.
Thứ ba, phân tích, làm rõ những nội dung cơ bản của tinh thần nữ quyền trong
văn xuôi Việt Nam sau 1986 trên các phương diện: ý thức sáng tạo văn chương; cách
tiếp cận và thể hiện hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm; cái nhìn về trật tự nam
quyền và người đàn ông.
Thứ tư, khám phá một số phương thức nghệ thuật tương ứng với việc thể hiện
tinh thần nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam sau 1986 như: việc lựa chọn và vận dụng
ưu thế của các thể loại sáng tác, việc xây dựng hình tượng nhân vật, nghệ thuật trần

ngữ học, Tâm lý học để tìm hiểu những biểu hiện của tinh thần nữ quyền trong tác
phẩm cả về phương diện nọi dung và hình thức nghệ thuật.
5. Đóng góp của luận án
5.1. Trên cơ sở phân tích các tiền đề xã hội, thẩm mĩ của việc xuất hiện tinh
thần nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam sau 1986, luận án đã khẳng định tinh thần nữ
quyền trong văn xuôi Việt Nam sau 1986 chịu sự tác động đa dạng, nhiều chiều của cả
các nhân tố khách quan (truyền thống văn hóa, văn học dân tộc, chủ nghĩa nữ quyền
thế giới, bối cảnh lịch sử xã hội sau 1986) và nhân tố chủ quan (sự vận động, đổi mới
nội tại của văn học). Điều này làm cho tinh thần nữ quyền trong văn học Việt Nam sau
1986 có sự hòa hợp Đông – Tây, truyền thống – hiện đại rất rõ.
5.2. Luận án đã phân tích biểu hiện của tinh thần nữ quyền trong văn học Việt
Nam sau 1986 trên ba phương diện cơ bản: tư duy sáng tác; cách thể hiện hình tượng
nhân vật nữ và cái nhìn về trật tự nam quyền. Việc phát hiện hai quá trình tưởng chừng
mâu thuẫn trong hoạt động sáng tạo của nhà văn nữ (xu hướng bình đẳng trong sáng
tạo văn chương và xu hướng khẳng định bản sắc riêng của văn chương giới nữ), việc
tiếp cận hình tượng người phụ nữ với góc nhìn mới mẻ hay niềm hy vọng về một sự
thay đổi của trật tự nam quyền, nỗi khát khao hòa hợp bản thể nam - nữ… là những
điểm mới mẻ của luận án so với các công trình nghiên cứu về tinh thần nữ quyền trong
văn xuôi Việt Nam sau 1986. Nó khẳng định điểm khác biệt của tinh thần nữ quyền
trong văn học Việt Nam so với tinh thần nữ quyền của văn học thế giới.
5.3. Từ phương diện hình thức nghệ thuật, luận án đã chỉ ra rằng các thành tố
nghệ thuật không phải là sự tồn tại khách quan mà tự bản thân việc lựa chọn các thành
tố nghệ thuật, xử lý nó như thế nào đã có tác dụng rất quan trọng trong việc biểu đạt
tinh thần nữ quyền. Đồng thời, tinh thần nữ quyền cũng chi phối mạnh mẽ đến hình
thức nghệ thuật của tác phẩm như lựa chọn thể loại văn xuôi tự sự và phát huy những
ưu thế của thể loại; thể hiện hình tượng nhân vật trong sự mâu thuẫn, xung đột giới

4



quyền” (quyền lợi của người đàn ông). Từ năm 1981, Hosken và Fran P đã nhận định
nữ quyền là các quyền lợi bình đẳng giới dành cho phụ nữ và trẻ em gái trong nhiều xã
hội trên thế giới. Các quyền này khác biệt với các khái niệm rộng hơn về quyền con
người thông qua các nhận định về thành kiến truyền thống và lịch sử cố hữu chống lại
việc thực hiện quyền của phụ nữ và trẻ em gái trong khi thiên vị nam giới và trẻ em
trai [143; 10]. Ở Việt Nam, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, Nguyễn Văn Vĩnh –
chủ bút Đông Dương tạp chí thông qua mục Nhời đàn bà (trên Đăng cổ tùng báo và
tiếp theo là Đông Dương tạp chí) đã gửi thông điệp: “nữ quyền” chính là sự lên tiếng
của phụ nữ về các vấn đề của mình. Khái niệm “nữ quyền” mà ông khơi lên đã phát
động một trào lưu bàn về các quyền của phụ nữ mà mục tiêu chính của nó là “phụ nữ
nói về phụ nữ”.
Trong thời phong kiến, với cả phương Đông và phương Tây, khái niệm “nữ
quyền” hiểu theo nghĩa này là do sự chi phối của điều kiện lịch sử. Xuất phát điểm,
nền văn hóa phương Tây gắn với cuộc sống du mục, coi trọng yếu tố thể lực đã dành
nhiều sự ưu ái, quyền lợi cho người đàn ông. Nền văn hóa phương Đông sớm chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ bởi tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, kỳ thị giới tính của Nho giáo nên
cũng áp chế quyền lợi của người phụ nữ về mọi mặt. Do vậy, “nữ quyền” nhấn mạnh
đến phương diện quyền lợi của người phụ nữ và cuộc đấu tranh đòi nữ quyền chính là
đấu tranh cho sự đảm bảo về quyền lợi của người phụ nữ. Nếu hiểu như vậy, khái
niệm “nữ quyền” trong tiếng Việt đồng nghĩa với cụm từ women’s right – quyền lợi
của phụ nữ trong tiếng Anh. Các vấn đề thường liên quan tới khái niệm về quyền nữ
giới gồm các quyền: toàn vẹn và tự chủ thân thể, bầu cử, nắm giữ chức vụ công, làm

6


7
việc, nhận mức lương bình đẳng hoặc công bằng, nắm giữ tài sản riêng, tiếp nhận giáo
dục, phục vụ trong quân ngũ, ký kết hợp đồng pháp lý, và các quyền trong hôn nhân
và làm mẹ [144].


7


8
điểm của giới nữ mà chỉ dùng để gọi những tính chất đặc trưng (chủ yếu về tính cách,
tâm hồn) như: dịu dàng, giàu tình cảm, đảm đang, chịu thương chịu khó, cam chịu,
giàu đức hy sinh… Nhiều khi, nữ tính được dùng như một tính từ (“rất nữ tính”, “giàu
nữ tính”) khi ngợi ca người phụ nữ hội tụ được những nét đẹp đặc trưng, điển hình
trong tính cách của giới nữ.
Như vậy, nếu nữ tính nhấn mạnh đến thuộc tính tính cách đặc trưng của giới
nữ, phái tính nhấn mạnh đến đặc điểm giới tính thì nữ quyền là khái niệm có nội hàm
khác hẳn. Đây là một chủ trương, một cách tiếp cận về người phụ nữ theo hướng tôn
trọng, đề cao, xem người phụ nữ là trung tâm của sự phản ánh, đánh giá về hiện thực.
Tuy nhiên, nữ quyền lại có mối liên hệ mật thiết với hai khái niệm còn lại. Để khẳng
định bản sắc, giá trị riêng của giới nữ, nữ quyền thường chủ trương nhấn mạnh đến sự
khác biệt phái tính và đề cao nữ tính – phẩm chất tính cách tốt đẹp đặc trưng của nữ
giới, tạo nên sự khác biệt của họ so với nam giới.
Đặt trong bối cảnh văn hóa xã hội nói chung và sự phát triển của văn học hiện
nay, theo chúng tôi, không chỉ hiểu khái niệm nữ quyền như là sự bó hẹp của nội dung
“quyền lợi của người phụ nữ” mà còn hiểu đó chỉ một cách nhìn nhận về người phụ nữ
theo hướng trân trọng, đề cao. Có như vậy, bản thân khái niệm “nữ quyền” mới theo
kịp với sự biểu hiện nội dung “nữ quyền” phong phú, đa dạng hiện nay của văn học.
1.1.2 Khái niệm tinh thần nữ quyền
Trong phạm vi luận án, chúng tôi sử dụng khái niệm “tinh thần nữ quyền” thay
vì “cảm hứng nữ quyền” hay “phong trào nữ quyền”. Sự gặp gỡ của ba khái niệm này
là đã rõ: xem những vấn đề liên quan đến người phụ nữ là trung tâm luận. Tuy nhiên,
khi sử dụng khái niệm “phong trào nữ quyền” thì vô hình trung, chúng ta phải thừa
nhận có sự tồn tại của một phong trào nữ quyền với sự huy động lực lượng lớn, sức
ảnh hưởng mạnh mẽ với tuyên ngôn, tôn chỉ, mục đích rõ ràng như Chủ nghĩa nữ

chỉ thiên về yếu tố cảm xúc, ý thức nữ quyền nhấn mạnh đến yếu tố tư duy, nhận thức
của chủ thể sáng tác thì tinh thần nữ quyền được hiểu là toàn bộ cách nhà văn tư duy,
tưởng tượng, thể hiện cảm xúc, mong muốn của mình khi lựa chọn nhân vật nữ là
trung tâm của sự phản ánh (thế giới chủ quan và khách quan) trong tác phẩm.
Nếu cảm hứng nữ quyền nhấn mạnh đến sự xuất hiện của một nguồn cảm xúc
mạnh mẽ thúc đẩy sự ra đời của tác phẩm văn học nhưng lại chỉ tồn tại “nhất thời”
trong một giai đoạn văn học nhất định thì tinh thần nữ quyền lại là cái ngấm sâu trong
văn hóa, văn học, trong tâm thức của dân tộc. Chúng ta có thể tìm thấy nó trong tín
ngưỡng, trong hội họa, điêu khắc, âm nhạc, trong di sản vật thể và phi vật thể… Nó có
cội rễ sâu xa từ truyền thống. Dù có lúc trở thành “cảm hứng” hoặc không nhưng nó
vẫn luôn là một “dòng chảy” không dứt, tiếp nối từ văn học dân gian đến văn học
đương đại.
Tất nhiên, việc minh định, vạch ranh giới thật rõ ràng ba khái niệm này không
phải là điều đơn giản, nhất là đối với hai khái niệm cảm hứng nữ quyền và tinh thần
nữ quyền. Hiện nay, trong giới sáng tác và nghiên cứu, phê bình, hai khái niệm này
vẫn được dùng đồng thời và có thể thay thế cho nhau. Chúng tôi thiết nghĩ, việc lựa

9


10
chọn sử dụng khái niệm nào cần tùy vào góc độ tiếp cận của người nghiên cứu vấn đề,
không nên áp đặt máy móc ở việc lựa chọn, sử dụng khái niệm trong trường hợp này.
1.1.3. Những biểu hiện của tinh thần nữ quyền trong văn chương
Loài người khởi đầu lịch sử của mình bằng chế độ mẫu hệ nhưng dần dần,
người đàn ông với những thế mạnh về sinh lý, sức mạnh (thể xác và tinh thần), khả
năng hoạt động hướng ngoại, ưu thế về thu nhập kinh tế… đã vươn lên làm chủ gia
đình và xã hội. Nam quyền suốt trong một thời gian dài không chỉ được củng cố bằng
các thiết chế xã hội mà nó còn in sâu vào tâm lí, quan niệm của nhân loại như một điều
hiển nhiên.

mà còn đối với các vấn đề xã hội…
Trong hoạt động phê bình văn học, tinh thần nữ quyền thể hiện qua phong trào
phê bình nữ quyền. Tuy Giới tính thứ hai của Simone de Beauvoir xuất bản năm 1949
được xem là công trình mở đầu của phê bình nữ quyền nhưng lý luận phê bình nữ
quyền bắt đầu thịnh hành từ đầu thập niên 70. Trên cơ sở khẳng định kinh nghiệm văn
học và kinh nghiệm xã hội của nữ giới, các nhà phê bình nữ quyền chủ trương dù là
nam hay nữ, hãy “lấy thân phận của phụ nữ để đọc” tác phẩm văn học mới phát hiện
được những vấn đề tiềm ẩn cả hai mặt văn học và chính trị. Các cây bút nữ “không chỉ
chống lại mọi hình thức áp chế của nam giới mà còn phải cố gắng xác lập một thứ mỹ
học riêng của nữ giới, từ đó thiết lập nên những điển phạm riêng, xây dựng nhiều tiêu
chí riêng trong việc cảm thụ và đánh giá lại các hiện tượng của văn học” [91]. Bằng lý
lẽ sắc bén và lập luận riêng của mình, các nhà nữ quyền luận nhằm đến mục tiêu “cố
gắng phát hiện và tái hiện các tác phẩm của phụ nữ qua đó, đánh giá phân tích các khía
cạnh hình thức của tác phẩm ấy, tìm hiểu xem những tác phẩm ấy đã phản ánh quan hệ
nam nữ ra sao và những yếu tố liên quan đến tâm lý, huyền thoại của người phụ nữ
như thế nào trong văn học” [91]. Bên cạnh xu hướng “lấy cái nhìn của phụ nữ để đọc
tác phẩm”, các nhà phê bình nữ quyền cũng tập trung khẳng định khả năng và bản sắc
riêng của văn chương nữ giới. Điểm trọng tâm trong lý thuyết nữ quyền của Hélène
Cixous là mối quan hệ giữa giới tính và diễn ngôn, từ đó hình thành nên ý niệm về
phong cách tu từ riêng của nữ giới, về một lối viết nữ (L’écriture féminine). Theo bà,
nhà văn nữ bằng lối biểu đạt đặc thù đã phá vỡ những công thức “chuẩn mực” trong
diễn ngôn nam giới. Gặp gỡ quan điểm của Hélène Cixous, phê bình nữ quyền ở Mỹ
và Ý cũng tập trung khẳng định đặc trưng lối viết nữ trong hệ thống từ ngữ, ngữ pháp,
cấu trúc và cách thức diễn đạt… Lý thuyết phê bình nữ quyền là động lực thúc đẩy các
thế hệ nhà văn nữ từ bỏ lối viết phụ thuộc vào nam giới để tạọ nên diễn ngôn độc lập
của giới mình.
Trong sáng tác, tinh thần nữ quyền biểu hiện khác nhau trong văn học phương
Đông và phương Tây. Bởi phương Đông và phương Tây có cách nhìn nhận riêng về vị
trí, vai trò, quyền lợi của người phụ nữ và truyền thống thể hiện hình tượng người phụ
nữ trong văn chương mỗi khu vực khác nhau. Tuy nhiên, có thể khái quát một số nội

độc đáo trong công việc, trong tình yêu và tình dục. Họ có thể có những phút giây nổi
loạn, vượt qua sự kiềm tỏa của đàn ông, của lễ giáo, luật tục nhưng chỉ có chấp nhận
họ sống như một chủ thể, chúng ta mới trả họ về bản chất của quyền được làm một
người đàn bà đích thực.
Như vậy, nhìn chung, trong văn học, tinh thần nữ quyền biểu hiện ở khuynh
hướng xem phụ nữ là đối tượng trung tâm của văn học; đấu tranh cho quyền sống,
quyền được yêu, được hưởng tự do, hạnh phúc của người phụ nữ; phản ánh và lên án
tình trạng mất bình quyền nam nữ; đề cao vẻ đẹp hình thể và tâm hồn của người phụ

12


13
nữ; lấy cái nhìn của phụ nữ làm căn cứ nhìn nhận và đánh giá hiện thực; khẳng định
khả năng và bản sắc riêng của văn chương nữ giới…
Tinh thần nữ quyền trong văn học đã xuất hiện ở Việt Nam từ khá sớm (từ văn
học dân gian) nhưng mới chỉ dừng lại ở những biểu hiện đơn lẻ, mang nhiều tính chất
cảm tính. Phải đến văn học sau 1986, nữ quyền mới xuất hiện trở lại với tư cách là một
trong những cảm hứng trung tâm của văn học thời đại mới, với một hệ thống những
biểu hiện rõ ràng, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc “đòi quyền lợi” cho người
phụ nữ cũng không còn chung chung là đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc,
tình yêu như trước mà đã có những biểu hiện mới, cụ thể hơn như: quyền bình đẳng
trong tình dục, bình đẳng ngôn ngữ, quyền được tôn trọng, quyền thoả mãn những nhu
cầu, sở thích cá nhân… Hơn thế, cảm hứng nữ quyền trong văn học còn có một số
biểu hiện cực đoan như xu hướng “hạ bệ”, phủ nhận vai trò của nam giới, xác lập lại
vai trò làm chủ của giới nữ, đề cao “nữ quyền” thái quá... Những biểu hiện này cho
thấy cảm hứng nữ quyền trong văn học đương đại Việt Nam chưa định hình bền vững
mà vẫn đang trong quá trình vận động cùng sự phát triển của xã hội và tư duy của nhà
văn.
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

khẳng định ý nghĩa, vai trò và tiềm năng của nền văn học nữ lưu. Thế nhưng, họ chưa
đủ sức tạo nên một nền văn học của giới mình do sự tham gia còn “khiêm tốn” trong
lĩnh vực văn học. Trên cơ sở đó, Phan Khôi đã “cổ súy mạnh mẽ việc đào tạo học vấn
cho người phụ nữ để họ thoát khỏi sự đói nghèo thi ca và tri thức, nghĩa là giải quyết
đến triệt để cội rễ sinh ra sự bất bình đẳng của phụ nữ trong đời sống nói chung và
trong lĩnh vực văn hoá nói riêng” [124]. Theo ông, phụ nữ có nhiều điểm thích hợp với
văn học hơn nhà văn nam như “tánh trầm tĩnh, nhẫn nại”. Hơn nữa, “văn học chuyên
trọng về đường tình cảm” mà đàn bà “là giống có tình cảm nhiều hơn đờn ông” [49].
Phan Khôi khẳng định phụ nữ nên tham gia vào sáng tác văn học và có thể tạo nên một
nền văn học vững chãi, dày dặn, có giá trị cho giới của mình. Phan Khôi “nhận ra sự
khác biệt giữa tính chủ thể và tính khách thể trong sáng tác văn chương, sự khác biệt
giữa cách thức biểu hiện của tác giả nam khi nhận diện người phụ nữ như một đối
tượng sáng tác và tác giả nữ viết về chính mình trong vai trò chủ thể” [124].
Bên cạnh Phan Khôi, còn có nhiều cây bút nữ như Manh Manh nữ sĩ, Vân
Hương nữ sĩ, Nguyễn Thị Hồng Đăng, Lệ Hương, Lê Thị Huỳnh Lan, Đạm Phương
nữ sĩ, Phan Thị Bạch Vân, Bùi Thị Út… bàn về nữ quyền trong văn học. Nguyễn Thị
Kiêm trong bài diễn thuyết nhằm khẳng định vai trò của người phụ nữ đối với văn
chương và tri thức của nhân loại đã đưa ra những dẫn chứng khẳng định vai trò to lớn
của nữ giới trong phong trào sáng tác, học thuật ở các quốc gia tiên tiến. Đáng chú ý là
ở đầu thế kỷ XX, Nguyễn Thị Kiêm đã từng vạch ra những ranh giới tạo nên sự khác
biệt về giới trong hành trình sáng tác văn học với các cặp đôi khái niệm: khách quan –
chủ quan, nam hóa - nữ hóa và luận giải rằng phụ nữ muốn thay đổi địa vị của mình
trong các thang bậc của đời sống thi ca thì phải vượt qua ranh giới của sự khác biệt ấy,
nhưng đồng thời vẫn giữ bản sắc giới tính của mình. Điều này ảnh hưởng đậm nét tư

14


15
tưởng của Chủ nghĩa nữ quyền thế giới và khá tương đồng với tư duy sáng tác của các

nước ta. Sự phát triển, nở rộ của ý thức nữ quyền trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hóa xã hội đã tác động không nhỏ đến việc nghiên cứu về nữ quyền trong văn học

15


16
ở Việt Nam.
Về phương diện sáng tạo, rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhìn thấy ở đội ngũ các
nhà văn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay một khả năng riêng trong việc biểu đạt nội dung
và sáng tạo hình thức biểu hiện so với các nhà văn nam. Ngay từ năm 1988, trong
cuốn Tổng quan văn học miền Nam, Võ Phiến đã nhìn nhận lại và phát hiện ra sự xuất
hiện và lấn át của văn học nữ miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 với chất đặc thù:
“Đứng về phương diện phái tính, văn học Miền Nam thời kỳ 54-75 càng ngày càng
nghiêng về nữ phái… Thoạt đầu trên văn đàn nghe tiếng ồm ồm, cuối cùng nghe ra éo
éo” [89]. Anatoli A.Sokolov trong bài viết Văn hóa và văn học Việt Nam trong những
năm đổi mới (1986 - 1996) đã đánh giá: “Văn xuôi nữ dám trình diện mình thực sự
gây niềm lạc quan, trở thành một hiện tượng thực thụ của văn học Việt Nam hiện
thời… Chính các tác giả này sẽ quy định tương lai văn học Việt Nam và sự phát triển
sau này của nó” [1].
Trên Tạp chí Văn học, số 6, (1996), Vương Trí Nhàn đã tập hợp ý kiến của các
cây bút phê bình Đặng Anh Đào, Văn Tâm, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Phạm
Xuân Nguyên, hai nhà văn Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, hai nhà thơ Ngô Thế Oanh,
Đặng Minh Châu trao đổi xoay quanh vấn đề sáng tác của các nhà văn nữ hiện nay.
Các nhà phê bình và những người cầm bút cũng dựa trên đặc trưng tính nữ để lý giải
hiện tượng các nhà văn nữ xuất hiện rầm rộ và nhanh chóng bắt kịp nhịp thời đại, đạt
được những thành tựu mới mẻ như hiện nay. Vương Trí Nhàn nhận định: “Hình như
do sự nhạy cảm riêng của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới”. Phạm
Xuân Nguyên cũng nêu ý kiến: “Các nhà văn nữ hiện nay khá đa dạng, mỗi người có
một gam riêng chứ không thuần túy bản năng như có người nghĩ”.

viết có giá trị như: Tản mạn về vấn đề nữ quyền ở các nhà văn Nhật Bản của Phạm Vũ
Thịnh; Tiểu thuyết Hương Hương Sastra Wangi và Văn chương khích động nữ quyền
của Monica Arnez do Nguyễn Đức Nguyên dịch. Các công trình này đã đi sâu hơn vào
việc giới thiệu những nội dung chính của chủ nghĩa nữ quyền và đã áp dụng nó như
một xu hướng nghiên cứu, phê bình văn chương. Tuy nhiên, các tác giả này lại chưa đề
cập đến các hiện tượng của văn chương Việt Nam.
Đã có một số ít tác giả vận dụng xu hướng phê bình nữ quyền để tìm hiều các
tác phẩm văn học trước 1986 (chủ yếu là văn học dân gian và văn học trung đại) như:
Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết “Tự lực văn đoàn” (tác giả
Trương Chính, đăng trên Tạp chí Văn học, số 5/1990); Kiểu truyện về Thánh Mẫu và
truyền thống trọng Mẫu trong văn hóa dân gian Việt Nam (tác giả Nguyễn Thị
Nguyệt, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6/2010); Nho giáo và nữ quyền của
Trần Nho Thìn (Tham luận trình bày tại Hội thảo khoa học quốc tế Nho giáo Việt Nam
và văn hóa Đông Á, tổ chức tại Viện Triết học, ngày 23-24/6/2009), Đọc lại thơ Hồ
Xuân Hương với cái nhìn nữ quyền luận – Nguyễn Minh Triết, trên www.tienve.org;
Ý thức nữ quyền và sự phát triển bước đầu của văn học nữ Nam Bộ trong tiến trình
hiện đại hoá văn học dân tộc đầu thế kỉ XX của Hồ Khánh Vân trên Tạp chí Nghiên
cứu văn học, số 7/2010; Phan Thị Bạch Vân và tinh thần phụ nữ của tác giả Lê Thị

17


18
Thanh Tâm (trên www.hcmussh.edu.vn); đề tài khoa học Sự thức tỉnh của người phụ
nữ trong văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX của Lê Ngọc Phương (2006), Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh; Luận văn Thạc sĩ của Cao Hạnh
Thủy (2007), Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn TP Hồ Chí Minh với đề tài
Hồ Xuân Hương – tiếp cận quan điểm giới tính.
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, có cảm tưởng bất cứ nhà nghiên cứu nào khi
đề cập đến văn xuôi sau 1986 đều ít nhiều đề cập đến những biểu hiện của ý thức nữ

Tinh thần nữ quyền trong văn học cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên
cứu ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiếp cận với
một số công trình nghiên cứu của học viên Cao học tại trường như: Vấn đề nữ quyền
trong tiểu thuyết của Thiết Ngưng của tác giả Bùi Thị Diễn; Nữ tính trong sáng tác
của Nam Cao và Ngô Tất Tố nhìn từ lí thuyết diễn ngôn của tác giả Đàm Phương
Thảo; Vẻ đẹp thiên tính nữ trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 của tác giả Đồng Thị
Thanh Thuỷ; Tư duy thơ nữ sau 1975 của tác giả Hoàng Thuỳ Linh; Nhân vật nữ
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của tác giả Lê Thị Hương; Nhân vật nữ trong
sáng tác văn xuôi của Lý Lan của tác giả Hoàng Diệu Thúy; Nhân vật nữ trong truyện
ngắn Đỗ Bích Thúy của tác giả Nguyễn Như Quỳnh; Hình tượng nhân vật nữ trong
truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại của tác giả Phùng Kim Trang… Điểm chung ở
các công trình là đều hướng vào tìm hiểu thế giới nhân vật nữ trong sáng tác của các
tác giả cụ thể để đi đến khẳng định sự tồn tại của cảm hứng nữ quyền trong văn học
đương đại. Tuy nhiên, phần lớn các tác giả mới chỉ phân tích khía cạnh “nữ tính” ở
nhân vật (hay tác phẩm) mà chưa mở rộng phạm vi nghiên cứu rộng hơn đến vấn đề
“nữ quyền”. Những chỗ trống này là một trong những cơ sở để chúng tôi triển khai
luận án của mình.
Ngoài ra, chúng tôi còn tiếp cận với một số bài phỏng vấn có đề cập đến vấn đề
nữ quyền (Phỏng vấn 10 nhà văn nữ trong và ngoài nước (2005): “Có một cách viết nữ
hay không”, www.gio-o.com; Phỏng vấn Y Ban (2006): “Hãy lắng nghe tác phẩm của
nhà văn nữ”, http://vietbao.vn; nội dung của một số cuộc tọa đàm xoay quanh vấn đề
văn học nữ quyền như cuộc Tọa đàm văn học nữ quyền - chuyện cũ nói lại (cuộc thảo
luận tại Viện Văn học Việt Nam, Hà Nội, sáng 9/9.); Ưu điểm của văn học nữ chính là
tinh thần nữ (Mai Sen ghi), website: http://nhansuvietnam.vn
Tiếp cận các bài viết trên, chúng tôi nhận thấy:
Ở Việt Nam, dù có khá nhiều tác giả từ đầu thế kỷ XX đến nay bàn về vấn đề ý
thức nữ quyền nhưng các bài viết của họ thường mang nặng tính chất giới thiệu các
quan điểm của chủ nghĩa nữ quyền phương Tây. Chỉ có một số ít tác giả tiếp cận, phân
tích ý thức nữ quyền trong tác phẩm.
Các tác giả đều đã thống nhất có sự hiện diện của ý thức nữ quyền trong văn

20


21

Chương 2
NHỮNG TIỀN ĐỀ XÃ HỘI – THẪM MỸ CỦA SỰ XUẤT HIỆN
TINH THẦN NỮ QUYỀN TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1986
2.1. Sự tiếp nối tinh thần nữ quyền trong truyền thống văn hóa, văn học
dân tộc
2.1.1. Tinh thần nữ quyền trong truyền thống văn hóa dân tộc
Việt Nam thuộc loại văn hóa gốc nông nghiệp. Nền kinh tế nông nghiệp lúa
nước đặc biệt thích ứng với sự đảm đang, khéo léo của người phụ nữ, vì thế, người
Việt cổ tôn thờ nước, lúa, và người phụ nữ. Mặt khác, con người nông nghiệp ưa sống
theo nguyên tắc trọng tình, điều đó dẫn đến thái độ trọng người phụ nữ. Trong thời cổ
đại, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia Đông Á khác cũng tồn tại chế độ mẫu hệ với
truyền thống tôn trọng người phụ nữ. Ở Việt Nam, đã có bằng chứng về sự tồn tại của
chế độ mẫu hệ trong văn hoá Bắc Sơn, thuộc sơ kỳ đồ đá mới, niên đại khoảng 8 000
năm trước. Các di chỉ được phát hiện ở Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Lạng Sơn,
Bắc Cạn, Ninh Bình, Quảng Bình… cho thấy cư dân đã biết làm nông nghiệp, biết chế
tác đồ gốm và quần cư thành các công xã thị tộc mẫu hệ. Chế độ mẫu hệ cũng để lại
dấu tích trong truyền thuyết họ Hồng Bàng nói về sự hình thành dân tộc Việt và nhà
nước Văn Lang. Bóc tách lớp vỏ phong kiến được khoác lên truyền thuyết, hoàn toàn
không khó để thấy rằng trước thời đại Hùng Vương, người Lạc Việt vẫn còn theo mẫu
hệ.
Huyền thoại dân tộc cũng đã nhiều lần đề cập đến vai trò của người phụ nữ: mẹ
Âu Cơ, Mẫu Thượng ngàn, bà Mụ, bà Nữ Oa… Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một
tín ngưỡng bản địa (cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ Đạo giáo) lấy việc tôn thờ
Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trợ và che chở cho con
người. Tục thờ Mẫu phổ biến ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. Ở miền Bắc, hình thức

Xét về ngôn ngữ, tiếng Việt có thể được xem là minh chứng sinh động cho
truyền thống tôn trọng người phụ nữ của dân tộc. So sánh một chút với phương Tây:
man (trong tiếng Anh) có nghĩa là đàn ông, lại có thể dùng phiếm chỉ con người nói
chung (cả nam và nữ) trong khi woman (phụ nữ) lại không thể như thế. Hơn thế, man
có thể được dùng như yếu tố gốc cấu tạo nhiều từ mới (chairman: chủ tịch; super man:
siêu nhân; spokesman: phát ngôn viên; manmade: nhân tạo…), kể cả từ woman! Tiếng
Anh đã phản ánh rõ nét thái độ kỳ thị giới tính, “nam tôn nữ ty”. Trong khi đó, ở tiếng
Việt, từ mẫu (mẹ) lại được sử dụng như tính từ chỉ những gì chuẩn mực nhất (mẫu
hình, mẫu mực). Những từ dùng chỉ người phụ nữ như Cả, Mẫu, Cái cũng được dùng
để chỉ những đối tượng to lớn, có vị trí quan trọng trong đời sống (sông cái, đường cái,
ngón tay cái, mẫu số, đũa cả… ). Dù nằm trong “vòng văn hóa Hán”, dù suốt một thời
gian dài chúng ta sử dụng tiếng Hán nhưng ngôn ngữ Việt vẫn có sự vận hành theo
quy luật riêng của nền văn hóa nông nghiệp thờ Mẫu.

22


23
Như vậy, từ lịch sử, tín ngưỡng, ngôn ngữ… có thể thấy, văn hóa Việt Nam có
gốc tôn trọng, đề cao người phụ nữ. Trong suốt nghìn năm phong kiến Bắc thuộc, chịu
ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tư tưởng Nho giáo, nền văn hóa ấy đã phát triển theo khuynh
hướng phụ hệ “trọng nam khinh nữ”. Tuy vậy, truy tìm từ cội nguồn văn hóa dân tộc
(đặc biệt là văn hóa dân gian), có thể thấy, truyền thống tôn trọng người phụ nữ vẫn
chưa bao giờ bị mất đi mà vẫn luôn là một mạch chảy ngầm xuyên suốt sự phát triển
của lịch sử, ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần nữ quyền trong văn học dân tộc.
2.1.2. Tinh thần nữ quyền trong văn học Việt Nam trước 1986
Tinh thần nữ quyền trong văn hóa, một cách rất tự nhiên, qua chiều dài lịch sử,
đã ngấm vào mạch ngầm văn học dân tộc. Trong văn học dân gian, thần thoại Lạc
Long Quân và Âu Cơ đã chỉ rõ vai trò của mẹ Âu Cơ là đẻ ra trăm trứng, tạo nên dân
tộc Việt. Cũng chính Mẹ là người khởi nguồn cho sự phát triển của dân cư đồng bằng

lên ở đây không phải là cảm hứng nữ quyền mà là cảm hứng trào lộng. Tuy nhiên,
thông qua hình thức trào lộng, tác giả dân gian cũng có ý thức “hạ bệ” người đàn ông
và nâng người phụ nữ lên vị trí bình đẳng giới… Cảm hứng nữ quyền trong văn học
dân gian chính là cơ sở để văn học viết nối tiếp.
Đến văn học trung đại, dưới sự tác động sâu sắc của tư tưởng Khổng giáo,
khuôn khổ xã hội và văn hoá được đặt ra chủ yếu để phục vụ đàn ông. Theo Đào Duy
Anh trong Việt Nam văn hoá sử cương, xã hội trong giai đoạn này rất bất công với
người phụ nữ vì “trong gia đình, chủ quyền ở trong tay gia trưởng mà đè nén địa vị của
đàn bà” [2, 109]. Nền văn học đó cũng được dùng để khuyến dụ và cưỡng chế đàn bà
phải chấp nhận vị trí thua kém đàn ông. Trong giai đoạn đầu, chịu ảnh hưởng bởi chủ
nghĩa yêu nước trong văn học, nội dung phản ánh về số phận con người cá nhân chưa
thực sự nổi bật trong văn học trung đại. Phải đến giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII nửa
đầu XIX, ý thức nữ quyền trong văn học được thổi một luồng khí mới với sự xuất hiện
của một số tác giả nữ như: Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan,
Lê Ngọc Hân, Sương Nguyệt Ánh… cùng với tác phẩm của một số tác giả nam có ý
thức bênh vực cho quyền sống của người phụ nữ như Nguyễn Du, Tú Xương…Trên
mọi thể loại văn học, hình ảnh người phụ nữ xuất hiện với vị trí nhân vật trung tâm, từ
người quý tộc đến người bình dân, lao động, thậm chí có cả tầng lớp thấp hèn là ca
nhi, kĩ nữ... Các tác giả đã chú trọng đề cao vẻ đẹp hình thể, tài năng và tâm hồn của
người phụ nữ (Truyện Kiều của Nguyễn Du là trường hợp tiêu biểu). Với Hồ Xuân
Hương, vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ không chỉ thể hiện trên những nét đẹp hình
thể thông thường: Thân em vừa trắng lại vừa tròn/…Mà em vẫn giữ tấm lòng son
(Bánh trôi nước) mà còn trong cả những bộ phận vốn bị “kiêng kị”: Hồng hồng má
phấn duyên vì cậy/ Chúa dầu, vua yêu một cái này (Vịnh cái quạt). Đề cao bộ phận
sinh thực khí của người phụ nữ như là cách bỡn cợt của Hồ Xuân Hương với xã hội và
người quân tử. Bên cạnh việc đề cao vẻ đẹp của người phụ nữ, các tác giả văn học
trung đại đều có ý thức bênh vực quyền sống của người phụ nữ, lên án xã hội bất công
chà đạp quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc tình yêu lứa đôi của con người. Tiêu biểu
trong số này có Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm (thơ của Đặng Trần


những mẫu anh hùng. Trong nhiều tác phẩm, người phụ nữ được hình dung như những
anh hùng tiêu biểu cho vẻ đẹp của thời đại như chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng của
Nguyễn Thi), chị Sứ (Hòn Đất của Anh Đức), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng của
Nguyễn Minh Châu), Trần Thị Lý (Người con gái Việt Nam của Tố Hữu)… Tuy
nhiên, do sự chi phối của đời sống chính trị nên “đời sống tinh thần của nữ giới mới
được khai thác nhiều ở khía cạnh xã hội mà chưa chú ý nhiều đến đặc trưng về giới”
[33]. Dù vậy, nó cũng cho thấy truyền thống đề cao, tôn trọng người phụ nữ của dân

25


Trích đoạn Ảnh hưởng của Chủ nghĩa nữ quyền thế giớ Ảnh hưởng của văn học nữ quyền thế giớ Điểm nhìn trần thuật Ngôn ngữ trần thuật Giọng điệu trần thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status