Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Văn Linh
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các hoạt động của con người trong nhiều thập kỷ gần đây đã làm gia tăng
đáng kể những tác nhân gây hiệu ứng nhà kính (nồng độ khí thải trong các hoạt
động công nghiệp, giao thông, sự gia tăng dân số…), làm trái đất nóng dần lên, từ
đó gây ra hàng loạt những thay đổi trong môi trường tự nhiên. Nếu chúng ta không
có những hành động kịp thời nhằm hạn chế, giảm thiểu tác động và tìm kiếm những
giải pháp để thích ứng thì hậu quả mang đến sẽ vô cùng nặng nề.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển
toàn cầu hay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm …Những
biến đổi này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời và gần
đây có thêm hoạt động của con người. Biến đổi khí hậu trong thời gian từ thế kỷ
XX đến nay được gây ra chủ yếu đến con người, do vậy thuật ngữ biến đổi khí hậu
(hoặc còn được gọi là sự ấm lên toàn cầu-global warming) được coi là đồng nghĩa
với biến đổi khí hậu hiện đại.
Theo dự báo của Ủy ban Liên Quốc gia về biến đổi khí hậu (IPCC), đến năm
2100 nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng thêm từ 1,40 C tới 5,80 C. Sự nóng lên của bề mặt trái
đất sẽ làm băng tan ở hai cực và các vùng núi cao, làm mực nước biển dâng cao
thêm trung bình khoảng 90 cm (theo kịch bản cao), sẽ nhấn chìm một số đảo nhỏ và
nhiều vùng đồng bằng ven biển có địa hình thấp. Cũng theo dự báo này, cái giá mà
mỗi quốc gia phải trả để giải quyết hậu quả của biến đổi khí hậu trong một vài chục
năm nữa sẽ vào khoảng từ 5-20% GDP mỗi năm, trong đó chi phí và tổn thất ở các
nước đang phát triển sẽ lớn hơn nhiều so với các nước phát triển.
Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí
hậu, trong đó khu vực đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long sẽ chịu
tăng. Vì vậy chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá tác động của biến
đổi khí hậu đến tài nguyên đất do nước biển dâng ở tỉnh Thừa thiên Huế và đề
xuất các giải pháp sử dụng đất hợp lý”.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
a. Mục tiêu
Mục tiêu của đề tài là xác định được mức độ tác động của nước biển dâng theo
kịch bản biến đổi khí hậu đến diện tích đất liền bị ngập, các loại đất và loại hình sử
dụng đất bị ảnh hưởng. Đồng thời đề xuất được các mô hình, giải pháp sử dụng đất
thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm giảm thiểu và thích nghi với biến đổi khí hậu giúp
sử dụng đất hiệu quả và ổn định kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế.
b. Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu đã đặt ra thì nhiệm vụ chính của đề tài như sau:
- Thu thập các tài liệu, dữ liệu có liên quan đến khu vực nghiên cứu.
- Phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực
nghiên cứu.
- Khảo sát thực địa để xác định được những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
đến tài nguyên đất.
- Phân tích đặc điểm tài nguyên đất, hiện trạng sử dụng đất khu vực nghiên cứu.
Địa lý Tài nguyên & Môi trường
~2~
Niên khóa 2008-2012
Khóa luận tốt nghiệp
(1/25.000 ở đồng bằng và 1/50.000 ở vùng đồi núi).
- Các mô hình sử dụng đất thích ứng biến đổi khí hậu được đề xuất dựa trên
các mô hình hiện có hoặc tham khảo các mô hình tiêu biểu trong và ngoài nước có
xem xét bổ sung cho phù hợp tỉnh Thừa Thiên Huế.
4. Các phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp thống kê
Địa lý Tài nguyên & Môi trường
~3~
Niên khóa 2008-2012
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Văn Linh
Phương pháp này dựa vào các số liệu thu thập liên quan đến đề tài về điều
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế. Trên cơ sở các tài liệu, số liệu
thu thập được tiến hành hệ thống hoá các loại bản đồ, tài liệu, số liệu liên quan đến
đề tài, qua đó tránh được việc dư thừa các số liệu không cần thiết. Nguồn tài liệu
được thống kê bao gồm:
- Các tài liệu, số liệu về biến đổi khí hậu.
- Các báo cáo về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 tỉnh Thừa Thiên Huế và các bản đồ
hành chính, bản đồ địa hình, bản đồ đất,…
- Các số liệu thống kê về khí hậu, thủy văn qua các năm.
Nguyễn Văn Linh
Chúng tôi sử dụng phần mềm ARCGIS để chạy mô hình DEM và xác định
mực nước biển dâng theo các kịch bản và dựa vào đó xác định được tác động của
nước biển dâng đến loại đất, loại hình sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất.
e. Phương pháp nhanh có sự tham gia của người dân (PRA)
Với phương pháp này chủ yếu là đi thu thập, điều tra, phỏng vấn ý kiến có sự
tham gia của cộng đồng để xác định được các khu vực bị tác động do biến đổi khí hậu.
Ngoài ra cộng đồng còn đưa ra các ý kiến đề xuất các giải pháp sử dụng đất thích
ứng với biến đổi khí hậu và kinh nghiệm sẵn có.
5. Cấu trúc đề tài
Cấu trúc của đề tài ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và
phụ lục thì nội dung chính được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sử
dụng đất ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 2: Khái quát về biến đổi khí hậu và các kịch bản biến đổi khí hậu ở
khu vực nghiên cứu.
Chương 3: Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu do nước biển dâng đến tài
nguyên đất tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 4: Đề xuất các mô hình và giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu.
Khóa luận tốt nghiệp hoàn thành được trình bày trong 82 trang giấy A4, với 25
hình, 24 bảng biểu, 15 tài liệu tham khảo.
Địa lý Tài nguyên & Môi trường
~5~
không Phú Bài nằm trên đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo
tỉnh, có 81 km biên giới với Lào.
Ranh giới phía Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế kéo dài trên đường biên khoảng
111,671 km tiếp giáp với các huyện Hải Lăng, Đakrông và Hướng Hóa, tỉnh Quảng
Trị. Phía Nam tỉnh có đường biên chung với huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam dài
56,66km và huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng dài 55,82 km. Ở phía Tây tiếp
giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với đường biên giới dài 87,97km.
Phía Đông, tiếp giáp với biển Đông theo đường bờ biển dài trên 120km.
Phần đất liền, Thừa Thiên Huế có diện tích 503.320,53 ha (theo số liệu
thống kê đất đai năm 2011 của UBND tỉnh) , lãnh thổ kéo dài theo hướng Tây
Bắc - Đông Nam, nơi dài nhất 120 km (dọc bờ biển), nơi ngắn nhất 44 km (phần
phía Tây); mở rộng chiều ngang theo hướng Đông Bắc - Tây Nam với nơi rộng
Địa lý Tài nguyên & Môi trường
~6~
Niên khóa 2008-2012
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Văn Linh
nhất dọc tuyến cắt từ xã Quảng Công (Quảng Điền), thị trấn Tứ Hạ (Hương Trà)
đến xã Sơn (A Lưới) 65km và nơi hẹp nhất là khối đất cực Nam tỉnh (dưới chân
đèo Hải Vân) chỉ khoảng 2-3km.
Phần thềm lục địa biển Đông của Thừa Thiên Huế kéo dài tự nhiên từ đất liền
~7~
Niên khóa 2008-2012
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Văn Linh
Địa hình hiện tại lãnh thổ Thừa Thiên Huế nằm ở tận cùng phía Nam của dãy
núi trung bình Trường Sơn Bắc, phát triển theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với
đặc trưng chung về địa hình là sườn phía Tây thoải, thấp dần về phía sông Mêkông,
còn sườn phía Đông khá dốc, bị chia cắt mạnh thành các dãy núi trung bình, núi
thấp, gò đồi và tiếp nối là đồng bằng duyên hải, đầm phá, cồn đụn cát chắn bờ và
biển Đông. Trong đó, khoảng 75% tổng diện tích là núi đồi, 25% diện tích là đồng
bằng duyên hải, đầm phá và cồn cát.
Thừa Thiên Huế nằm trên một dải đất hẹp với chiều rộng trung bình 60 km và
chiều dài 120 km với đầy đủ các dạng địa hình: Vùng núi, gò đồi, đồng bằng , đầm
phá và cát ven biển.
Nhìn chung, địa hình của tỉnh Thừa Thiên Huế bị chia cắt mạnh, hướng thấp
dần từ Tây sang Đông và có thể chia ra 5 tiểu vùng địa hình như sau:
- Tiểu vùng núi: Là dải đất phía Tây của tỉnh kéo dài chủ yếu từ huyện A Lưới
đến huyện Nam Đông và kết thúc tại đèo Hải Vân gồm những dãy núi cao liên tiếp,
độ cao trung bình khoảng 1000 m, có điểm cao 1540 m, nhiều nơi có địa hình hiểm
trở, phân bố chủ yếu ở huyện A Lưới và huyện Nam Đông.
- Tiểu vùng đồi: là vùng tiếp giáp giữa vùng núi và đồng bằng, gồm những
dãy đồi lượn sóng có độ cao từ 300m trở xuống, độ dốc trung bình là 15 0 - 250 phân
nhân dân nói chung.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu của tỉnh mang tính chất
chuyển tiếp giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam nước ta.
Do địa hình bị chia cắt và ảnh hưởng của mưa ẩm nhiệt đới, khí hậu ven biển,
nên Thừa Thiên Huế có nhiều vùng tiểu khí hậu khác nhau. Vùng duyên hải, đồng
bằng của tỉnh có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng III đến tháng VIII, trời nóng oi
bức, có khi lên tới 40ºC. Từ tháng IX đến tháng II (năm sau) ở Thừa Thiên Huế là
mùa mưa, bão lụt nhiệt độ thấp khoảng dưới 20ºC, có khi lạnh nhất xuống dưới
8,8ºC. Vào mùa này thường có những thời kỳ mưa suốt ngày, có khi kéo dài cả tuần
lễ. Vùng núi mưa nhiều, khí hậu mát, nhiệt độ thấp nhất 9ºC, cao nhất 29ºC.
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hằng năm vùng đồng bằng từ 24 0 - 250C,
vùng miền núi từ 210 - 220C; chia thành 2 mùa
+ Mùa nóng: từ tháng III đến tháng VIII, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam
nên khô nóng. Nhiệt độ trung bình từ 270 - 290C, tháng nóng nhất (tháng VII) có khi
lên đến 380 - 400C.
+ Mùa lạnh: từ tháng IX đến tháng II năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa
Đông Bắc nên mưa nhiều và lạnh, nhiệt độ hạ thấp dưới 200C
- Chế độ mưa: Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh có lượng mưa lớn
nhất nước ta, lượng mưa trung bình năm trên toàn lãnh thổ đều vượt quá 2.600mm
có nơi lên đến hơn 4.500mm (huyện Nam Đông và A Lưới). Tâm mưa lớn nằm ở
sườn đông dãy Bạch Mã và vùng đồng bằng. Có những năm lượng mưa cực lớn như
Nam Đông (năm 1973) lượng mưa đạt 5.182mm, Bạch Mã (năm 1982) lượng mưa
đạt 8.664mm, A Lưới (năm 1990) lượng mưa đạt 5.086mm. Trung bình một năm có
tới 200 - 220 ngày có mưa.
Do đặc điểm lượng mưa thường tập trung theo những đợt mưa liên tục kéo dài
6 - 7 ngày, có khi lên đến 19 - 31 ngày và hàng năm có các cơn bão kèm theo mưa
lớn tập trung trên diện rộng nên gây lụt lớn.
Mùa mưa từ tháng IX đến tháng II (năm sau) chiếm 70-75% tổng lượng mưa
cả năm. Thời kỳ mưa nhiều nhất tập trung tháng IX-XII, trong đó tháng XI có lượng
mưa cao nhất chiếm khoảng 30% tổng lượng mưa cả năm. Những trận mưa lớn
hướng gió chủ yếu là hướng Đông Bắc tốc độ gió từ 1,6 - 1,8m/s, mùa khô từ tháng
II đến tháng VIII thì gió Nam và Tây Nam là chủ yếu, tốc độ gió bình quân là
1,7m/s. Tốc độ gió ở các cơn bão thường tới 40m/s và bình quân hàng năm có hơn 1
cơn bão đổ bộ trực tiếp vào và thường gây mưa lớn cho toàn tỉnh.
1.1.5. Đặc điểm thủy văn
Hệ thống thuỷ văn ở Thừa Thiên Huế hết sức phức tạp và độc đáo. Tính phức
tạp và độc đáo thể hiện ở chỗ là hầu hết các con sông đan nối vào nhau thành một
mạng lưới chằng chịt: sông Ô Lâu - phá Tam Giang - sông Hương - sông Lợi Nông
- sông Đại Giang - sông Hà Tạ - sông Cống Quan - sông Truồi - sông Nong - đầm
Cầu Hai. Tính độc đáo của hệ thống thuỷ văn Thừa Thiên Huế còn thể hiện ở chỗ là
nơi hội tụ của hầu hết các con sông trước khi ra biển là một vực nước lớn, kéo dài
gần 70km dọc bờ biển, có diện tích lớn nhất Đông Nam Á (trừ sông A Sáp chạy về
phía Tây và sông Bù Lu chảy trực tiếp ra biển qua cửa Cảnh Dương). Hệ Đầm Phá
Địa lý Tài nguyên & Môi trường
~ 10 ~
Niên khóa 2008-2012
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Văn Linh
Tam Giang - Cầu Hai là đầm phá tiêu biểu nhất trong 12 vực nước cùng loại ven bờ
biển Đông Nam Á và là một trong nhóm những đầm phá lớn nhất thế giới.
Mạng lưới sông - đầm phá đó còn liên kết với rất nhiều trằm, bàu tự nhiên, có
Địa lý Tài nguyên & Môi trường
~ 11 ~
Niên khóa 2008-2012
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Văn Linh
Thừa Thiên Huế có tổng diện tích tự nhiên là 503.320 ha, trong đó diện tích
đất là 468.275 ha; hồ, ao, đầm, sông suối, núi đá là 37.124 ha. Đất đồi núi chiếm
trên 3/4 tổng diện tích tự nhiên, còn đất đồng bằng duyên hải chỉ dưới 1/5 tổng
diện tích tự nhiên của tỉnh.
Về phân loại, ở Thừa Thiên Huế có các nhóm và loại đất chủ yếu sau:
1. Nhóm cồn cát và đất cát biển (Arenosols)
2. Nhóm đất mặn (Salic Fluvisols)
3. Nhóm đất phèn (Thionic Fluvisols)
4. Nhóm đất phù sa (Fluvisols)
5. Đât lầy và than bùn (Gieysols and Histosols)
6. Nhóm đất xám bạc màu (Acrisols)
7. Nhóm đất đỏ vàng (Acrisols)
8. Nhóm đất thung lũng dốc tụ (Dystric Gleysols)
9. Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi (Humic Acrisols)
10. Đất xói mòn trơ sỏi đá (Leptosols)
Là tỉnh có diện tích đất tự nhiên không lớn nhưng thổ nhưỡng có sự phân hóa
đa dạng, với 10 nhóm đất khác nhau. Trong đó, nhóm đất đỏ vàng chiếm diện tích lớn
yếu có nguồn gốc biển và phân bố trên các dải gò cao nội đồng từ Phò Trạch đến
Phong Điền, từ Phú Đa đến Vinh Thái. Cát xám trắng cũng được phát hiện ở Vinh
Thanh - Vinh Hiền và rải rác ở ven rìa đồng bằng. Cát vàng nghệ nguồn gốc biển
phần lớn bị cát vàng nhạt và cát xám trắng trẻ hơn che phủ. Loại cát vàng nghệ xuất
lộ trên diện rộng ở Phú Bài, Lăng Cô, Bồ Điền và chỏm nhỏ ở Vinh Thanh.
Loại đất này có hình thái phẫu diện ít phân hóa, đồng nhất cả về màu sắc và
thành phần cơ giới, từ trên xuống dưới đều là cát tơi hoặc cát dính. Thành phần cơ
giới rất nhẹ, rời rạc. Tỷ lệ sét rất thấp hoặc không đáng kể, chủ yếu là cấp hạt cát, tỷ
lệ cát khô khá cao. Các đồn cát, đụn cát phần lớn chưa ổn định, hiện tượng di dộng
của cát đang thường xuyên xảy ra. Những nơi có địa hình thấp thì đã có sự phân hóa
về màu sắc; nơi nào trũng đọng nước thì tầng mặt xám hơi đen, tầng dưới có màu
xám vàng xen vệt trắng. Đây là loại đất rất nghèo mùn và các chất dinh dưỡng; cation
trao đổi rất thấp; dung tích hấp thu rất thấp, nên khả năng giữ nước, giữ phân kém.
Phần lớn diện tích loại đất này đang bị bỏ hoang.
* Đất cát biển (Dystric Arenosols): Có diện tích 19.604ha, chiếm 3,9% tổng
diện tích tự nhiên của tỉnh, phân bố không thành dải dài tiên tục, có ở khu vực ven
biển tất cả các huyện của tỉnh, gồm: Quảng Điền, Hương Thủy, Hương Trà, Phú
Vang, Phong Điền, Phú Lộc.
Đất cũng được hình thành do quá trình bồi tích của biển nhưng đã được khai
thác sử dụng từ lâu đời, vì vậy tính chất lý hóa học của đất đã được cải tạo nhằm
phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Hình thái phẫu diện đã có sự phân hóa khá rõ,
lớp đất mặt thường trắng hơi xám hoặc xám sáng, có nơi hơi vàng; các tầng dưới
thường chặt, khả năng tích lũy oxyt sắt lớn nên màu sắc thường vàng hoặc vàng
nhạt. Thành phần cơ giới cát đến cát rời - cát pha, nghèo mùn và các chất dinh
dưỡng, nhưng so với loại cồn cát trắng vàng thì tỷ lệ cấp hạt sét cao hơn, kết cấu đất tốt
hơn, hàm lượng mùn cao hơn, nên khả năng giữ nước, giữ phân tốt hơn nhiều.
2. Nhóm đất mặn (Salic Fluvisols)
Đất mặn chiếm 6.290ha, chiếm 1,24% diện tích đất tự nhiên và có 2 loại là:
Đất mặn nhiều và đất mặn ít và trung bình.
giới cũng rất khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc phát sinh. Đất có phản ứng trung
tính. Hàm lượng mùn trung bình (1 - 1,5%), đạm tổng số trung bình, lân tổng số hơi
nghèo - trung bình, nhưng lân dễ tiêu rất nghèo, hàm lượng tổng số muối tan dao động
từ 0,3 - 0,91%.
3. Nhóm đất phèn (Thionic Fluvisols)
Nhóm này chỉ có 1 loại đất là đất phèn ít và trung bình, mặn nhiều (Sali
Hyper Thionic Fluvisols), có diện tích 6.888ha, chiếm 1,36% diện tích đất tự nhiên,
phân bố ở các huyện Phú Lộc, Hương Thủy, Hương Trà, Phú Vang, Quảng Điền và
Phong Điền. Đất hình thành ở địa hình thấp trũng, khó thoát nước, có nhiều chất
hữu cơ, thường chịu ảnh hưởng của nước mặn hoặc nước lợ hiện đại hoặc quá khứ,
môi trường tích lũy nhiều lưu huỳnh từ nước biển, nước lợ hay xác hữu cơ. Thực
vật phổ biến là cỏ năn (Heleochasia dulcis), lác (Cyperus malaceensiss), tràm,...
Hình thái phân hóa khá rõ: xuất hiện tầng chứa vật liệu phèn và tầng phèn có các
đốm màu vàng rơm (Jarosite), lớp mặt thường có màu xám hơi đen, tầng kế tiếp
thường có màu vàng có các đốm đỏ, một vài nơi gặp kết von hình ống. Thành phần
Địa lý Tài nguyên & Môi trường
~ 14 ~
Niên khóa 2008-2012
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Văn Linh
cơ giới thường nặng, đất rất chua, hàm lượng mùn ở tầng mặt khác, đạm và kali
diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện Phú Lộc, Hương Trà, Phú Vang, Quảng
Địa lý Tài nguyên & Môi trường
~ 15 ~
Niên khóa 2008-2012
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Văn Linh
Điền và Phong Điền. Đất cũng được hình thành do quá trình lắng đọng phù sa,
nhưng phân bố ở địa hình thấp, khó thoát nước. Đất có thành phần cơ giới nặng, tỷ
lệ sét vật lý cao, chặt, bí, trong đất các quá trình khử xảy ra mãnh liệt, hình thái
phẫu diện thường có màu xanh ánh thép nguội, dính dẻo, glây trong toàn phẫu diện,
màu xám xanh có xen lẫn những vệt vàng. Đất có phản ứng chua vừa (pH KCl dao
động từ 4,4 - 4,8), mùn ở tầng mặt khá cao (2 - 3%), đạm, lân tổng số và cation trao
đổi đều thuộc loại khá.
* Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Dystric Plinthosols): Diện tích
4.846ha, chiếm 0,96% diện tích tự nhiên của tỉnh, phân bố ở thành phố Huế và các
huyện: Hương Thủy, Hương Trà, Phú Vang, Quảng Điền, Phong Điền, Phú Lộc.
Đất cũng có nguồn gốc hình thành như các loại đất cùng nhóm, nhưng phân bố ở
địa hình vàm cao hoặc cao, có chế độ nước không đều trong năm, mùa mưa cũng bị
ngập nhưng mùa khô đất bị thiếu nước nghiêm trọng. Vì vậy trong đất xảy ra 2 quá
trình: quá trình khử và quá trình oxy hóa; mùa mưa ngập nước thì quá trình khử xảy
ra mạnh, mùa khô thì quá trình oxy hóa xảy ra, Fe 2+ bị oxy hóa thành Fe 3+ tạo ra
Nguyễn Văn Linh
trình tích lũy mùn mạnh, nên giàu mùn, đất bị glây mạnh, rất chua, đạm tổng số
giàu, nhưng nghèo lân và kali tổng số cũng như dễ tiêu. Đây là loại đất có nhiều yếu
tố hạn chế, không chỉ do ngập úng mà trong đất chứa nhiều chất độc cho cây như:
Al3+ di động, H2S, CH4,... vì thế đất thường cho năng suất lúa thấp, không ổn định.
* Đất phù sa ngòi suối (Dystric Fluvisols): Diện tích 590ha, chiếm 0,12%
diện tích tự nhiên của tỉnh, phân bố tập trung ở Phong Điền, Phú Lộc, Nam Đông.
Đất hình thành do sự lắng đọng của phù sa suối, nên thành phần cơ giới thường thô,
nhẹ, lẫn nhiều khoáng vật nguyên sinh bền. Độ phì nhiêu tự nhiên tùy từng nơi mà rất
khác nhau, nhưng nói chung đất có phản ứng chua đến rất chua, hàm lượng mùn trung
bình, đạm tổng số khá, lân và kali nghèo.
5. Nhóm đất lầy và than bùn (Gleysols and Histosols)
Diện tích 100ha, chiếm 0,02% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở Phong
Điền, Phú Lộc. Đất được hình thành ở những địa hình thấp, trũng, quanh năm đọng
nước hoặc ở những nơi có mực nước ngầm dâng cao gần mặt đất. Quá trình glây
xảy ra trong đất lâu ngày, kết cấu bị phá hủy, đất trở nên nhão nhoét toàn phẫu diện,
phản ứng đất rất chua, hàm lượng mùn rất giàu, đạm giàu, lân tổng số trung bình,
nhưng lân dễ tiêu nghèo, trong đất chứa rất nhiều chất độc có hại cho cây trồng.
6. Nhóm đất xám bạc màu (Acrisols)
Diện tích 800ha, chiếm 0,16% tổng diện tích tự nhiên và chỉ có 01 loại đất là
đất xám phát triển trên đá macma axit và đá cát, phân bố chủ yếu ở huyện A Lưới,
vùng lâm trường thuộc các xã Phong Sơn, Phong An huyện Phong Điền. Đất có
thành phần cơ giới nhẹ, thô, lẫn nhiều khoáng vật nguyên sinh bền. Phân bố ở địa
hình dốc, nên quá trình rửa trôi xảy ra mạnh, mùn và sắt bị rửa trôi, nên tầng đất
mặt bị bạc màu trở nên xám trắng. Mùn, đạm, lân, kali, cation trao đổi đều rất nghèo,
phản ứng của đất chua, độ no bazơ thấp.
7. Nhóm đất đỏ vàng (Acrisols)
Đất đỏ vàng có diện tích 347.431ha, chiếm 68,74% tổng diện tích tự nhiên,
bao gồm 6 loại đất là: Đất nâu vàng trên gabro và đá diorit, đất đỏ vàng trên đá sét
đất có tính chất tốt trong các loại đất đồi núi của tỉnh, hiện đang được sử dụng có
hiệu quả trong sản xuất nông lâm nghiệp.
* Đất đỏ vàng phát triển trên đá macma axit (Ferralic Acrisols): Diện tích
135.450ha, chiếm 26,80% diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện: Nam Đông
(32,05%), A Lưới (19,85%), Phú Lộc (17,94%), Hương Thủy (16,67%), Hương Trà
(10,61%), Phong Điền (2,88%).
Đất chua, độ no bazơ nhỏ hơn 50%, nghèo mùn, đạm, lân; hàm lượng kali
khá hơn so với loại đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất, đất có hàm lượng cấp
hạt sét thấp (nhỏ hơn 20%, nếu tính cả cấp hạt sét vật lý thì cũng chỉ đạt xấp xỉ
30%), vì thế dung tích hấp thu thấp, khả năng giữ nước, giữ chất dinh dưỡng kém.
* Đất vàng nhạt phát triển trên đá cát (Ferralic Acrisols): Diện tích
37.523ha, chiếm 7,42% diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện: Phong Điền
(91,75%), A Lưới (3,62%), Hương Trà (2,53%), Hương Thủy (2,10%).
Tính chất chung là thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ cấp hạt cát rất cao, đất
không có kết cấu hoặc kết cấu rất kém. Tầng đất mỏng (30 - 60cm). Phẫu diện
tầng trên mỏng (10 - 15cm) có màu xám sáng, thành phần cơ giới cát - cát pha,
kết cấu rời rạc, độ xốp 40 - 45%; tầng đất dưới 50cm có màu vàng sáng, cát pha,
rời rạc.
Đất rất chua, hàm lượng mùn thấp (< l%), lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo rất nghèo, kali ở mức nghèo - trung bình; dung tích hấp thu rất thấp nên khả năng
Địa lý Tài nguyên & Môi trường
~ 18 ~
Niên khóa 2008-2012
Khóa luận tốt nghiệp
nhiều chất độc, hàm lượng mùn và đạm tổng số từ trung bình - giàu, lân và kali nghèo.
9. Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi (Humic Acrisols)
Nhóm này chỉ có 01 loại đất là đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit, có diện
tích 15.942 ha, chiếm 3,15% diện tích tự nhiên của tỉnh, phân bố ở các huyện: A
Lưới (59,02%), Nam Đông (25,87%), Phú Lộc (15,10%).
Địa lý Tài nguyên & Môi trường
~ 19 ~
Niên khóa 2008-2012
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Văn Linh
Phần lớn chúng được phân bố ở độ dốc từ 15 - 25°. Tầng đất dày từ 0,6 1,2m, thành phần cơ giới trung bình - nhẹ. Đất có hàm lượng mùn và đạm ở tầng
mặt khá, nghèo lân, nhưng kali trao đổi giàu. Do nằm ở địa hình cao, dốc, nên dễ bị
xói mòn, Ca2+, Mg2+ bị rửa trôi mạnh, đất có phản ứng chua, độ no bazơ thấp (50%), độ
chua thủy phân cao.
10. Đất xói mòn trơ sỏi đá (Leptosols)
Có diện tích 5.220ha, chiếm 1,03% diện tích tự nhiên của tỉnh, phân bố ở các
huyện: Phú Lộc (35,42%), Phong Điền (33,27%), Hương Trà (18,70%), Nam Đông
(6,91%), Hương Thủy (5,47%), Huế (0,23%).
Loại đất này có mặt ở tất cả các loại đá mẹ khác nhau. Đất bị xói mòn mạnh
trơ sỏi đá, tầng đất mặt bị bào mòn, rửa trôi mãnh liệt nên còn rất mỏng, có đá lộ
đầu hoặc mất hẳn tầng đất để trơ ra cả đá gốc, trở nên khô hạn khốc liệt. Đất không
Nguyễn Văn Linh
lượng cá thể. Ở đây, ngoài hệ thực vật thủy sinh đầm phá và biển ven bờ còn tồn tại
rừng ngập mặn và hệ thực vật bảo vệ môi trường chống sạt lở, cát bay, cát chảy.
Đến thời điểm này, các nhà khoa học đã kiểm kê được ở Thừa Thiên Huế có
43 loài thực vật quý hiếm, được phân thành 5 bậc là đang nguy cấp hay đang bị đe
đoạ tuyệt chủng (ký hiệu quốc tế là E) 1 loài, sẽ nguy cấp hay có thể bị đe doạ tuyệt
chủng (ký hiệu quốc tế là V) 10 loài, hiếm hay có thể sẽ nguy cấp (ký hiệu quốc tế
là R) 16 loài, bị đe dọa (ký hiệu quốc tế là T) 6 loài và biết không chính xác (ký
hiệu quốc tế là K) 10 loài. Ngoài ra, còn có các loại cây ăn quả quý hiếm của địa
phương đang tồn tại cần được bảo vệ và phát triển, đó là: Thanh trà, quýt Hương
Cần, dâu Truồi, mía Thanh Diệu, nấm quả...
b. Động vật:
Theo số liệu tổng hợp, thu nhập, thành phần động vật Thừa Thiên Huế bao
gồm: 1.977 loài (327 họ, 65 bộ) của 6 lớp động vật nổi bật. Trong đó, côn trùng:
1.045 loài (142 họ, 18 bộ); cá xương: 278 loài (74 họ, 17 bộ); ếch nhái: 38 loài (6
họ, thuộc bộ không đuôi); bò sát: 78 loài (17 họ, 2 bộ); chim: 362 loài (56 họ, 15
bộ); thú: 176 loài (32 họ, 12 bộ).
Trong đó có nhiều loại động vật đặc hữu, quý hiếm như loài cà cuống
(Leuthoceras inđicus) thuộc lớp côn trùng, động vật không xương sống; Về động
vật có xương sống, 13 loài động vật đặc hữu của Việt Nam phân bố tại Thừa Thiên
Huế, như: chồn dơi (Cynocephalus variegatus), dơi mũi ống cánh lông
(Harpiocephalus harpia), rái cá lông mũi (Lutra sumatrana), mang lớn
(Megamuntiacus vuquanghensis), gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi), gà lôi
trắng (Lophura nycthemera), gà so Trung bộ (Arborophila merlini), gà so Gutta (A.
rufogularis), ếch nhẽo (Rana kuhli), cá chình mun (Anguilla bicolor) và cá dầy
(Cyprinus centralus).
Ngoài các loài động vật đặc hữu của tỉnh, trong các hệ sinh thái tỉnh Thừa
Thiên Huế, vì từ khi công bố loài mới này vào năm 1994, các nhà khoa học chưa
tìm thấy loài này ở các vực nước khác có điều kiện tương tự.
1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
1.2.1 Đặc điểm dân số và nguồn lao động
Dân số toàn tỉnh là 1.090.879người (năm 2010), mật độ dân số 215,48
người/km2. Tuy nhiên về phân bố, có 470.907 người sinh sống ở thành thị
và 619.972 người sinh sống ở vùng nông thôn, phần lớn dân cư tập trung đông ở
thành phố Huế (mật độ dân số là 4762.56 người/km 2) và các huyện đồng bằng.
Những huyện miền núi như A Lưới, Nam Đông dân cư thưa thớt, mật độ dân số chỉ
có 18,6 – 67,17 người/km2. Sự phân bố dân cư tỉnh Thừa Thiên Huế được thể hiện cụ
thể tại bảng sau:
Bảng 1.1: Phân bố dân số của tỉnh Thừa Thiên Huế
Tổng diện tích
Tổng số
Mật độ
( km2)
(Người)
(người/km2)
5.062.59
1.090.879
215,48
215.17
Huyện Phú Vang
279.89
171.363
612.25
TX. Hương Thuỷ
458.17
96.309
210.20
Đơn vị
Tổng số
Địa lý Tài nguyên & Môi trường
~ 22 ~
Niên khóa 2008-2012
Khóa luận tốt nghiệp
thôn tỉnh Thừa Thiên Huế
Năm
Phân theo giới tính
Tổng
số
Nam
Phân theo thành thị, nông thôn
Nữ
Thành thị
Nông thôn
Dân số (nghìn người )
2000 1052,1 518,9 49,32% 533,2 50,68% 314,7 29,91% 737,4 70,09%
2006 1076,9 529,5 49,17% 547,4 50,83% 356,3 33,08% 711,8 66,92%
2007 1081,0 531,0 49,12% 550,0 50,88% 374,2 34,62% 706,8 65,38%
2008 1084,9 533,8
49,2%
551,1
50,8%
Đến năm 2011, 100% diện tích gieo cấy sử dụng giống lúa đã được xác nhận
rõ ràng nguồn gốc và tên gọi, thực hiện ổn định lương thực với 24-25 vạn tấn/năm
b. Về lâm nghiệp
Toàn tỉnh có 337.000 ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng 232.000 ha
bao gồm rừng tự nhiên 172.000 ha, rừng trồng 60.000 ha. Trồng mới 20.00025.000 ha rừng, nâng độ che phủ lên 55%. Hoàn thành công tác giao đất khoán
rừng, định canh định cư, ổn định đời sống nhân dân ở vùng gò đồi, miền núi.
c. Về thủy sản
Có diện tích nuôi trồng 4507 ha, 5.083 tàu thuyền đánh bắt bằng cơ giới, trong
đó có 119 tàu thuyền đánh bắt xa bờ, sản lượng khai thác thủy sản đạt 20000
Tấn/năm, mức tăng bình quân 8-10%/năm, cung cấp đáng kể nguồn nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến thủy sản, góp phần giải quyết việc làm và cải thiện đời sống
nhân dân vùng biển và đầm phá. Theo báo cáo của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ
phấn đấu đến năm 2012 sản lượng thuỷ sản đạt khoảng 39.000 tấn, giá trị xuất khẩu
đạt từ 30-35 triệu USD.
Bảng 1.3: Các giá trị sản xuất về nông, lâm, thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế qua
các năm
CHỈ TIÊU
2006
2007
2008
2009
2010*
1. Giá trị sản xuất nông
118.144
122.050
2. Giá trị sản xuất nông
nghiệp theo giá so sánh
năm 1994 (triệu đồng)
911.713
932.809
935.253
983.939 1.009.842
- Chỉ số phát triển (năm
trước = 100) (%)
105,1
102,3
100,3
105,2
102,6
616.206
236.146
245.200
239.831
243.973
253.412
59.361
62.990
65.400
66.600
66.761
3. Diện tích gieo trồng
các loại cây (ha)
90.924
91.510
90.974
4. Sản lượng lương
thực có hạt (Tấn)
259.857
266.205
280.109
288.255
291.171
252.604
259.684
274.813
282.582
285.185
- Sản lượng cây lương
thực có hạt khác
7.253
6.521
246.962
- Số lượng đàn trâu
36.932
37.975
30.860
28.425
27.401
- Số lượng đàn bò
28.159
28.018
26.908
25.913
23.856
- Dịch vụ, khác
- Sản lượng lúa
44.402
168.788
166.338
176.858
176.157
223.878
29.811
33.065
36.684
39.706
40.811
(triệu đồng)
- Trồng và nuôi rừng
- Khai thác lâm sản
- Dịch vụ và các hoạt
động lâm nghiệp khác
Địa lý Tài nguyên & Môi trường