I. Khái niệm và các thuật ngữ:
1. Khái niệm:
Đất là một tập hợp của những cơ thể tự nhiên trên bề mặt đòa cầu , ở
những nơi mà những vật liệu đất biến đổi hoặc làm ra từ con ngừơi , chứa
đựng những vật chất sống và cung cấp hoặc có khả năng cung cấp thực
vật bên ngoài . Giới hạn trên của nó là không khí hoặc lớp nước cạn .
Biên của đất phân đến độ sâu của nước hoặc vùng trơ trọi của đá hoặc
tuyết . Giới hạn dứơi được xem lớp không phải lá đất đïc xem là một
lớp rất khó khăn để có thể xác đònh . Đất bao gồm những tầng nằm gần
mặt đất mà những tầng này khác với vật liệu đá nằm bên dưới như kết
quả của những tương tác thông qua thời gian , khí hậu , sinh vật sống ,
mẫu chất và đòa hình. Vài nơi có những tầng cement mỏng có thể cản trở
sự xâm nhập của rễ cây, đất được xem như đến tận tầng sâu nhất. Một
cách tổng quát hơn , biên thấp của đất được xem như tới lớp đá cứng hoặc
tới những vật liệất dường như khôn g có rễ, đông vật hoặc dấu vết hoạt
đông sinh vật. Do đó, giới hạn thấp nhất của đất thì thường thấp hơn giới
hạn của hoạt động sinh vật, mà ở đây thường trùng khớp với chiều sâu
của phổ biến của rễ cây tự nhiên lâu năm. Đối với khảo sát đất chi tiết
cho việc xây dựng đơn vò bản đồ thì giới hạn thấp là lớp đất ảnh hưởng
đến sự di chuyển, lượng nước và không khí trong đất của vùng rễ phải
được quan tâm”.
2. Thuật ngữ tổng quát về đất:
Tuỳ theo phạm vi nghiên cứu, một số đơn vò tổng quát của đất được sử
dụng:
Tầng đất: là một lớp, gần song song với bề mặt đất, có thể phân
biệt từ một lớp cận nhau do những đặc tính khác biệt sinh ra trong quá
trình hình thành đất(USDA, Soil Survey Staff, 1981).
Lớp đất: thuật ngữ lớp được sử dụng hơn là tầng nếu tất cả những
đặc tính trong lớp đất nhận được từ mẫu chất. Thí dụ: tầng C hoặc tầng R
không có sự biến đổi nguồn gốc phát sinh.
Đất mặt: được ám chỉ đến đất xáo trộn do trồng trọt để trở thành
Đất được hình thành và phát triển dưới tác động của những yếu tố môi
trường hoạt động của khí hậu , thực vật trên những khoáng vật và những
yếu tố khác . Như một diễn biến nối tiếp nhau đất trải qua những pha liên
tiếp từ khi đất trẻ đến khi phát triển , dẫn đến mđất trải qua những pha
liên tiếp từ khi đất trẻ đến khi phát triển , dẫn đến một sự cân bằng ổn
đònh với thực vật tự nhiên. Chất hữu cơ có nguồn gốc từ động thực vật
đóng góp cho đất những đặc tính phản ảnh tổng hợp tất cả các yếu tố môi
trường và đất biến đổi từ nơi này sang nơi khác, nhưng những biến đổi
này thì không ngẫu nhiên . Cơ thể đất có thể là kết quả của khí hậu và
những vi sinh vật sống tác động trên những mẫu chất , với đòa hình hoặc
2
cao độ cục bộ làm ảnh hưởng biến đổi và với yếu tố thời gian cần thiết
cho những tiến trình đất xảy ra . Dù ở bất cứ nơi nào phần lớn đất thường
giống nhau nếu chúng có các thành phần của 5 yếu tố này giống nhau .
Dưới điều kiện môi trường tương tự ỡ những chổ khác nhau thì đất cũng
tương tự . Quy tắc này cho phép một dự đoán vò trí của những loại đất
khác nhau .
Khi đất được nghiên cứu ở một diện tích nhỏ , ảnh hưởng của những yếu
tố đòa hình và cao độ cục bộ , mẫu chất và thời gian trở nên rõ ràng . Một
trong những yếu tố hình thành đất làm mẫu chất . Tuy nhiên những mẫu
chất này có thể tiếp tục vỡ vụn theo kiểu lí hoá bao nhiêu đi nữa thì cuối
cùng cũng cho ra những hạt li ti của chất khóang vô cơ mà chưa thành đất
được . Vì vậy môi trường đất chỉ có thể được xuất hiện trên trái đất khi có
sự sống xuất hiện . Nghóa là môi trường đất phải có sự tham gia của thành
phần hữu cơ, thành phần sinh vật. Nếu không có thành sinh vật, môi
trừơng đất chỉ mới có khoáng chất vô cơ mà mãi chỉ là chất khoáng vô cơ
mà thôi . Vì vậy, tất yếu trong quá trình hình thành môi trường đất phải
có thành phần hữu cơ , thành phần sinh vật trong đó thực vật , động vật,
vsv sốg và xác bã trầm tích của chúng sau một chu kì sinh trưởng
Nhiệt độ, áp
là sản phẩm của sự phong hoá các tinh khoáng mềm có trong đá trong
quá trình hình thành đất. Các khoáng thạch anh gọi là khoáng sơ cấp có
thành phần giống như trong đá nguyên thủy . Thòt có kích thứơc trung
gian giữa các và sét , cóthành phần khoáng sơ cấp và thứ cấp, còn các sét
silicate gọi là khoáng thứ cấp .
Kích thước :
Đá nhỏ và sỏi bằng những mảnh vỡ nhỏ của đá . Cát thì có kích thứơc
nhỏ hơn và cóthể nhìn thấy bằng mắt thường ( 0.05-2 mm). Cấu tử thòt có
kích thước nhỏ hơn ( 0.002-0.005 mm). Cấu tử khoáng nhỏ nhất là sét (<
0.002 mm ) hình thành khối dính khi ướt và kết hợp thành cục đất cứng
khi khô . Ngoài ra những phần tử sét nhỏ nhất có tính chất keo chỉ cóthể
nhìn thấy bằng kính hiển vi điện tử .
4
Bản chất hóa học :
Cát và thòt thường la những thạch anh và những khoáng sơ cấp có khả
năng chống chòu với tiến trình phong hoá thì chúng có những hoạt tính
hoá học thấp . Những khoáng thứ cấp có chứa các nguyên tố dưỡng chất
trong cấu tạo hoá học thì thường hoà tan nên khả năng cung cấp dưỡng
chất trong cấu tạo hoá học thì thường là không hoà tan nên khả năng
cung cấp dưỡng chất ở khoáng này dường như vô nghóa . Trên khía cạnh
hoá học ,sét silicate biến thiên khá rộng . Những nhóm khác có cấu trúc
tinh thể thay đổi về số lượng của sắt, kali và những nguyên tố khác . Bề
mặt các khoáng sét tuy nhỏ nhưng cầm giữ một lượng đáng kể các cation
như Ca
2+
, Mg
2+.
.
, K
+
khí , kế tiếp là những tế khổng trung bình và cuối cùng là những tế khổng
có kích thước nhỏ nếu nước được di chuyển đi bởi bốc hơi và do thực vật
sử dụng .
5
Sinh vật đất : đất chứa một cộng đồng đa dạng của nhiều tổ chức sống cả
thực vật và động vật . Từ những loài gặm nhấm đến trùng đất và ngay cả
vi khuẩn rất nhỏ , từ thực vật bậc thấp đến thực vật bậc cao …số lượng và
trọng lượng của các sinh vật thay đổi rất lớn từ đất này sang đất khác .
Những hoạt động của sinh vật đất thay đổi một cách rộng rãi . Nó bao
gồm việc phá huỷ cơ học các tàn dư thực vật bởi côn trùng và cũng như
sự biến đổi tính chất và phân hủy của những tàn dư này bởi những sinh
vật nhỏ hơn như vk , nấm…
d) Sét và mùn:
Sét và mùn có một diện tích bề mặt rất lớn trên 1 đơn vò trọng lượng,
chúng cũng trình diễn một sự tích điện bề mặt mà nhờ vào đặc tính này
chúng có thể hấp dẫn các ion mang điện âm và điện dương như các phân
tử nước . Cùng một trọng lượng những cấu tử mùn có khả năng cầm giữ
dưỡng chất và nước nhiều hơn là khả năng đó của sét. Tuy nhiên khi sét
hiện diện ở một lượng lớn sự đóng góp tổng của nó tới những đặc tính
hoá lí của đất thì bằng hoặc vượt hơn keo mùn .sét và mùn cùng với
những phần chất rắn khác của đất và không khí trong đất quyết đònh sự
thích nghi của đất cho mọi loại sử dụng mà trong đó tính chất quan trọng
nhất là làm bền vững chosự phát triển và sinh trưởng của cây trồng.
2. Các dạng ô nhiễm môi trường đất :
a) nhiễm môi trường đất do chất thải nông nghiệp :
Do phân bón hoá học :
Để tăng năng suất cây trồng người ta thừơng bón thêm phân đạm , lân ,
kali trong đó đáng chú ý nhất là đạm , một loại phân mang lại hiệu quả rõ
rệt nhất cho năng suất cây trồng nhưng cũng dễ gây ô nhiễm môi trường
đất do tồn dư của nó .
4
, H
2
S, NH
3
làm
tăng thêm hiệu ứng nhà kính. Các bọt khí luôn luôn nổi lên và bay vào
không khí ở các đầm lầy chứng minh điều đo.Ngay trong đầm lầy nhiều
nhiều loại sinh vật háo khí, thực vạt trên cạn bò tiêu diệt, thay vào đó là
hệ thuỷ sinh và bán thuỷ sinh.
b) Ô nhiễm môi trường sinh thái đất do chất thải công nghiệp: chất
thải công nghiệp dưới dạng thải rắn, thải lỏng và khí đều có ảnh hưởng
đến MTST đất. Dạng khí có CO
2
, CO, NO, NO
2
, SO
2
, CH
3
, H
2
S… từ trong
quá trình đốt nhiên liệu và chế biến sảm phẩm tạo thành. Dạng chất
lỏng có các acid H
2
SO
4
, HCL, acid hữu cơ, nước, xà phòng, dầu mỡ…
Dạng rắn có các chất thải trong nông nghiệp cơ khí, hàn tiện, trong sản
2CO
2
+ E
Một phần khác CO sẽ có tác dụng với OH hoặc với O
2
, O
3
, N
2
O trong không
khí đất để trở thành CO
2
. Tuy nhiên sự có mặt không nhiều của nó trong
MTST đất cũng lảm tổn thương lớn đến sức sống của động vật.CO
2
và SO
2
,
NO
2
: trong không khí bò ô nhiễm khi gặp mưa sẽ tạo ra các axít tương ứng
H
2
CO
3
, H
2
SO
4
3
+ H
2
SO
4
CASO
4
+ H
2
CO
3
8
d) Ô nhiễm môi trường sinh thái đất do công nghiệp chế biến thực
phẩm và sinh hoạt: Chất thải này bao gồm các quá trình công nghiệp
chế biến rau quả, thòt cá, đông lạnh mà sản phẩm là phân hữu cơ chiếm
ưu thế. Nó cũng có hai dạng: Dạng chất thải rắn: phần lớn thành phần
chúng chứa nhiều N, P,K nếu được chế biến tốt sẽ là dạng phân bón.
Nhưng nếu đem chôn hoặc vứt bừa bãi thì quá trình lên men làm ô
nhiễm môi trường đất nhanh chóng xuất hiện. Dạng nước thải hữu cơ:
các dạng này sẽ làm tăng thêm BOD trong MTST đất. Những đo đạc
cho biết có khi lên đến 10.000 ppm; trong lúc đó ngưỡng của BOD trong
dung dòch là 20ppm. D0ồng thời nó là hàng loạt các sinh vật gây hôi
thối nồng nặc xu61t hiện làm ônhiễm môi trường sinh thái.
e) nhiễm môi trường đất từ bãi rác và hầm cầu tự hoại :
thành phố vấn đề xử lí các bãi rác : mùi , bệnh tật . nhiễm môi
trường không khí môi trường nước , đất.
Mùi hôi thối gây cho không khí đất ngột ngạt ảnh hưởng đến động vật
trong đất .
Các chất độc sinh ra và trong quá trình lên men khuếch tán và thấm
vào đất nằm lại ở trong đó .
ứng chua vừa đến chua ít, lượng mùn khá nhưng nghèo lân tổng số và dễ
tiêu.
Từ độ cao 900 m đến vùng thấp 25 m là nhóm đất đỏ vàng feralit .
Đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất, khoảng gần 20 triệu ha, được hình
thành trên nhiều loại đá mẹ, phân bố rộng khắp các tỉnh trung du và miền
núi cả nước. Trong nhóm này có đất đỏ bazan là loại đất tốt nhất ở nước
ta, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên, Đồng Nai và rải rác ở một số
tỉnh miền Trung. Đất này thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là
cà phê, cao su và chè.
Ở vùng đồng bằng châu thổ có nhóm đất phù sa được hình thành do
các con sông chuyển tải phù sa bồi đắp. Nước ta có hai đồng bằng lớn là
đồng bằng sông Hồng khoảng 1,4 triệu ha và đồng bằng sông Cửu Long
khoảng 4 triệu ha, được hình thành do hoạt động của sông Hồng ở miền
Bắc và sông Cửu Long ở miền Nam. Các con sông chuyển tải các sản
phẩm rửa trôi từ thượng nguồn xuống bồi đắp dần. Về bản chất thổ
nhưỡng, đất phù sa mang đặc tính xếp lớp, thành phần cơ giới nặng, hàm
lượng mùn và N, P, K thuộc loại khá. Đất phù sa thuộc loại đất có độ phì
nhiêu tự nhiên cao, thích hợp với lúa, rau màu và nhiều loại cây trồng
khác.
Dọc theo bờ biển có các nhóm đất mặn, khoảng 1 triệu ha; nhóm
đất cát biển, khoảng 500.000 ha và nhóm đất phèn, khoảng 2 triệu ha.
10
Các nhóm đất này thường chứa các yếu tố hạn chế đối với cây trồng như
hàm lượng muối cao, nghèo dinh dưỡng và chua, đòi hỏi người sử dụng
phải hiểu biết sâu về bản chất đất để cải tạo thì mới sử dụng có hiệu quả.
Ngoài ra, còn có nhiều nhóm đất khác với diện tích không lớn và phân bố
rải rác khắp mọi vùng của đất nước.
2. Diễn biến tình trạng sử dụng đất trong thời gian gần đây
Theo diện tích đất canh tác tính trên đầu người thì Việt Nam thuộc loại
quốc gia nghèo tài nguyên đất trên thế giới, bình quân đầu người chỉ
ngày khác có độ che phủ thấp, đất bò tác động của các trận mưa xối xả,
gây xói mòn và đất dần bò thoái hoá. Theo tính toán, với lượng đất mất
bình quân là 10 tấn/ha.năm, hàng năm nước ta đã mất đi một lượng dinh
dưỡng cho cây trồng tương đương với giá trò phân bón là 600 tỷ đồng .Đó
là chưa tính lượng dinh dưỡng mất đi do rửa trôi, do nước thấm theo chiều
sâu, làm cho nhiều chất dinh dưỡng đối với thực vật biến mất vào lòng
đất. Thêm nữa, việc khai thác các loại khoáng sản diễn ra ở miền núi và
trung du đã và đang gây tác động lớn đến môi trường vùng mỏ, làm giảm
diện tích rừng, gia tăng diện tích đất trống đồi núi trọc, gây biến dạng đòa
hình, ô nhiễm nguồn nước và không khí. Trong nhiều trường hợp, khai
thác tự do các loại khoáng sản đã gây chết người.
3. Một số vấn đề thời sự về sử dụng đất:
Do chưa hiểu biết đặc điểm của đất đai, do phá rừng làm nương rẫy
và sử dụng đất dốc không đúng kỹ thuật người ta đã làm cho nhiều loại
đất ban đầu vốn rất phì nhiêu, nhưng sau một số năm sử dụng, đã thoái
hoá, mất dần tính năng sản xuất, trở thành những loại "đất có vấn đề".
Nhìn chung, "đất có vấn đề" là những loại đất có một hoặc nhiều yếu tố
giới hạn quá trình sinh trưởng của cây trồng, duy trì và phát triển độ phì
nhiêu của đất: suy thoái dinh dưỡng, tầng đất hóa mỏng; lẫn nhiều sỏi đá,
mặn, phèn, chua; chứa nhiều chất độc; thường xuyên ngậm nước,... Muốn
sử dụng các loại đất này có hiệu quả, cần thiết phải đầu tư để cải tạo rất
tốn kém và trong nhiều trường hợp chưa chắc đã thành công.
Bảng 2: Đặc tính một số loại "đất có vấn đề"
Loại đất Tầng dày
(cm)
Mùn (%) Ph kcl Al
3+
(mg/100