Lời mở đầu
Ngày nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, không một quốc gia nào có
thể tự tách mình ra khỏi cộng đồng quốc tế và khu vực. Những thay đổi về
kinh tế tài chính trên thị trờng quốc tế đều ảnh hởng đến tất cả các quốc gia.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nớc ta đã thực hiện công cuộc đổi
mới về kinh tế, từng bớc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung
sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, tạo ra tiền đề cần thiết
để chuyển sang thời kỳ phát triển kinh tế mới, đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc. Là một bộ phận của nền kinh tế, hoạt động
kinh doanh bảo hiểm cũng đang từng bớc chuyển sang cơ chế thị trờng vì nó
đóng vai trò tích cực cho việc duy trì sự ổn định và phát triển nền kinh tế - xã
hội, đặc biệt thực hiện chức năng là tấm lá chắn kinh tế để khắc phục hậu quả
tài chính do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn là một trong những công cụ tài
chính hữu hiệu nhất huy động tiền tiết kiệm phân tán trong dân c để tạo lập
nên nguồn vốn tập trung đáp ứng nhu cầu đầu t phát triển đất nớc. Thông qua
hoạt động đầu t vốn, ngành bảo hiểm đã góp phần thúc đẩy hình thành thị trờng tài chính, thị trờng vốn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nớc.
Sau 6 năm thi hành Nghị định 100/CP (18/12/1993) về kinh doanh bảo
hiểm, thị trờng bảo hiểm Việt Nam đã có những bớc phát triển cả về số lợng
các doanh nghiệp bảo hiểm và chất lợng dịch vụ bảo hiểm, đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân và đáp ứng tốt hơn nhu cầu bảo hiểm phát
sinh từ nền kinh tế và dân c. Tuy nhiên, đứng trớc yêu cầu công nghiệp hóa
và hiện đại hóa đất nớc, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, đòi
hỏi phải sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh
bảo hiểm. Và ngày 7/12/2000, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật kinh
doanh bảo hiểm Việt Nam. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhất đối với
thị trờng bảo hiểm Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động của
doanh nghiệp và sự phát triển của thị trờng.
Chơng I
Khái quát chung về thị trờng bảo hiểm
I. thị trờng và thị trờng bảo hiểm.
1. Khái niệm về thị trờng:
Thị trờng là một quá trình mà trong đó ngời bán và ngời mua tác động
qua lại với nhau để xác định giá cả và sản lợng.
Kinh tế học hiện đại phân chia thị trờng thành thị trờng yếu tố sản xuất
và thị trờng hàng hoá tiêu dùng, dịch vụ, thị trờng trong nớc và thị trờng
ngoài nớc.
Thị trờng yếu tố sản xuất hay thị trờng "đầu vào" là nơi mua bán các
yếu tố sản xuất nh sức lao động, t liệu sản xuất, vốn và các điều kiện vật chất
khác để sản xuất kinh doanh. Thị trờng hàng tiêu dùng, dịch vụ hay thị trờng
"đầu ra" là nơi mua bán các hàng hoá tiêu dùng cuối cùng và dịch vụ. Thị tr ờng trong nớc là việc mua bán trao đổi hàng hoá giữa các chủ thể kinh tế và
ngời tiêu dùng trong nớc. Thị trờng nớc ngoài là sự mua bán, trao đổi hàng
hoá giữa nớc này với nớc khác.
Thị trờng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế hàng hoá, bởi
vì:
Thứ nhất, thị trờng là điều kiện và môi trờng của sản xuất hàng hoá.
Thông qua thị trờng, các chủ thể kinh tế mua bán các yếu tố, điều kiện sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm, mua đợc các hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ. Điều đó
đảm bảo cho quá trình tái sản xuất đợc tiến hành bình thờng, thông suốt. Vì
vậy, không có thị trờng thì sản xuất và trao đổi hàng hoá không thể tiến hành
đợc.
Thứ hai, thị trờng là trung tâm của toàn bộ quá trình tái sản xuất hàng
hoá. Những vấn đề cơ bản của nền sản xuất xã hội là sản xuất mặt hàng gì, số
lợng bao nhiêu và bằng phơng pháp nào đều phải thông qua thị trờng. Thị trờng là nơi kiểm tra về chủng loại, số lợng và chất lợng hàng hoá. Thị trờng
kiểm nghiệm tính phù hợp của sản xuất đối với tiêu dùng xã hội. Đó là nơi
thị trờng hàng tiêu dùng, t liệu sản xuất, dịch vụ, thị trờng vốn và tiền tệ, thị
trờng bảo hiểm gắn thị tr ờng trong nớc với thị trờng quốc tế, hòa nhập với
thị trờng trong khu vực và quốc tế.
2. Thị trờng bảo hiểm.
Bảo hiểm thơng mại trên thế giới đã có lịch sử hơn nữa thiên niên kỷ
phát triển. Mầm mống ra đời và quá trình phát triển của nó đợc ghi nhận bởi
những dấu ấn đáng chú ý sau:
- Babylone (khoảng 1700 năm trớc công nguyên) và Athenes (khoảng
500 năm trớc công nguyên) xuất hiện hệ thống vay mợn với lãi suất rất cao,
có khi lên đến 400% nhằm phục vụ cho việc buôn bán và vận chuyển hàng
hóa, điểm đáng chú ý ở quan hệ cho vay mợn là nếu hàng hoá gặp rủi ro, tổn
thất thì ngời vay không phải trả khoản tiền đã vay. Thực chất đó là một sự kết
hợp giữa hoạt động vay mợn và ý đồ bảo hiểm.
- Tuy nhiên quan hệ vay mợn đó đã bị lạm dụng và sau này bị cấm nh
một hình thức cho vay nặng lãi. Từ đó đã dần dần hình thành nên một hệ
thống mới: các nhóm nhà buôn chấp nhận trả một khoản tiến nhất định để đợc đảm bảo giá trị tàu thuyền và hàng hoá chuyên chở.
- Thế kỷ 14, những thỏa thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với
hoạt động giao lu, buôn bán hàng hoá bằng đờng biển đã rất phát triển vào
thời kỳ đó. Bản hợp đồng cổ nhất còn đợc lu giữ đến ngày nay đợc phát hành
tại Gênes - Italia vào năm 1347.
- Những thoả thuận bảo hiểm trong lĩnh vực hàng hải đó có nội dung
cơ bản là: một bên là nhà buôn, chủ tàu chấp nhận trả một khoản tiền nhất
định, nếu hàng hoá, tàu thuyền không đến đợc nơi giao hàng thì bên kia (nhà
bảo hiểm) sẽ trả cho họ một khoản tiền phù hợp.
- Những thỏa thuận đó đã đánh dấu chính thức cho sự khởi đầu của bảo
hiểm thơng mại. Kể từ thời điểm đó trong xã hội đã xuất hiện các tổ chức bảo
hiểm (công ty bảo hiểm đầu tiên của ngành vận tải biển và đờng bộ đợc thành
lập năm 1424 tại Gênes).
định mà có thể mở rộng ở bất kỳ nơi nào có khách hàng bảo hiểm.
Thị trờng bảo hiểm có nhiều cách phân loại theo nhiều tiêu thức khác
nhau tùy theo góc độ nghiên cứu, chẳng hạn theo vùng địa lý, theo tập hợp
khách hàng
Song để xác định đợc thị trờng mục tiêu các doanh nghiệp bảo hiểm
thờng sử dụng cách phân loại thị trờng theo khả năng đáp ứng yêu cầu tieeu
dùng của xã hội. Theo tiêu thức này, thị trờng bảo hiểm đợc chia thành:
+ Thị trờng của doanh nghiệp: bao gồm toàn bộ khách hàng mua sản
phẩm doanh nghiệp. Thị trờng này đợc đo bằng doanh số thực hiện.
+ Thị trờng thực tế: Bao gồm toàn bộ khách hàng hiện tại của một loại
sản phẩm, nghĩa là bao gồm thị trờng của doanh nghiệp và thị trờng cạnh
tranh. Các doanh nghiệp bảo hiểm cạnh tranh gay gắt với nhau để chiếm lĩnh
thị trờng và giữ vững phần thị trờng của mình trong thị trờng thực tế.
+ Thị trờng tiềm năng: bao gồm toàn bộ các khách hàng có khả năng
mua sản phẩm (khả năng thanh toán và các điều kiện khác). Nh vậy, thị trờng
này bao gồm thị trờng thực tế và bộ phận khách hàng tiềm năng. Đó là những
khách hàng trong tơng lai và hiện tại, yêu cầu của họ cha thể đáp ứng đợc.
Doanh nghiệp nào là ngời đầu tiên khai thác vào bộ phận khách hàng tiềm
năng sẽ không có đối thủ cạnh tranh và có khả năng mở rộng nhanh chóng
thị trờng của mình. Lẽ đơng nhiên khi thị trờng thực tế bằng thị trờng tiềm
năng thì thị trờng sản phẩm trở nên bão hòa.
3. Sự hình thành các công ty bảo hiểm
Khoảng thế kỷ thứ V trớc công nguyên, vận chuyển hàng hoá đờng
biển đã ra đời và phát triển. Đến thế kỷ thứ VII, thơng mại giao lu hàng hoá
bằng đờng biển giữa các nớc phát triển. Nhiều vụ tổn thất lớn xảy ra trên biển
do thiên tai, tai nạn, cớp biển làm cho giới thơng mại lo lắng. Họ tập trung
nhau lại, cố gắng tìm mọi cách đối phó với những loại rủi ro này, song số vụ
tổn thấy xảy ra ngày càng nhiều làm cho các nhà kinh doanh lâm vào thế
xuất nhập khẩu với giá trị bảo hiểm lớn thông qua thị trờng tái bảo hiểm
London và Quốc tế. Hầu hết các nớc trên thế giới hoạt động do các Công ty t
bản tổ chức, cạnh tranh và tích tụ dần dần hình thành tổ chức độc quyền bảo
hiểm rất lớn nh LLoyd's, World Insurance - Co, Munich - Re, Swiss - Re
Tiếp sau bảo hiểm hàng hải phải nói đến bảo hiểm hỏa hoạn, công ty
bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên xuất hiện ở Anh vào năm 1667, năm 1759 công
ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời ở Mỹ, năm 1846 công ty tái bảo hiểm
chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới đợc thành lập ở Đức Có thể nói, các
nghiệp vụ bảo hiểm kế tiếp nhau ra đời ở tất cả các nớc trên thế giới. Bảo
hiểm ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế, nó trở thành nhu cầu của mọi
ngời, mọi đơn vị kinh tế, là động lực phát triển kinh tế và có đóng góp xứng
đáng vào GDP của mỗi quốc gia. Ngày nay ngành bảo hiểm gồm ba nhóm
chính sau:
- Các công ty trực tiếp kinh doanh bảo hiểm.
- Các công ty tái bảo hiểm.
- Các công ty trung gian.
Nhìn chung, ba nhóm công ty bảo hiểm này có thể có các loại hình
công ty nh sau:
Công ty bảo hiểm nhà nớc: là công ty kinh doanh bảo hiểm do nhà nớc thành lập, đầu t vốn và quản lý với t cách chủ sở hữu. Đồng thời, nó là một
pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trớc pháp luật. Công
ty hoạt động theo định hớng của Nhà nớc, thực hiện hạch toán kinh tế.
Công ty bảo hiểm cổ phần (hay các công ty vô danh): là các công ty
bảo hiểm trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận,
cùng chia lỗ tơng ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản
nợ của công ty (gánh chịu thiệt hại) trong phạm vi phần vốn của mình góp
vào công ty. Thực chất đây là doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu và hoạt
động với mục đích lợi nhuận.
Công ty bảo hiểm liên doanh: là công ty bảo hiểm đợc hình thành
trọng. Vì vậy, là ngời kinh doanh không thể làm ngơ trớc những nhu cầu
chuẩn mực của thị trờng. Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải luôn
luôn nâng cao chất lợng sản phẩm, tìm tòi, thiết kế sản phẩm mới Điều
quan trọng của sản phẩm dịch vụ - sản phẩm bảo hiểm là phải phù hợp từng
loại đối tợng. Đối tợng "đại trà" tức là phải có "sản phẩm" thích hợp với số
đông ngời tiêu dùng, đối với thiểu số ngời "cấp cao" thì thiết kế sản phẩm
dịch vụ đó đáp ứng nhu cầu của ngời tiêu dùng "cấp cao", với những ngời
"cấp thấp" sản phẩm dịch vụ này cũng phải thỏa mãn nhu cầu và khả năng
của họ.
Mỗi một sản phẩm bảo hiểm đều có một vòng đời hay một chu kỳ
sống nhất định. Chu kỳ sống của sản phẩm bảo hiểm là khoảng thời gian tính
từ khi nghiên cứu, tạo sản phẩm, đa ra thị trờng đến khi sản phẩm bảo hiểm
bị lạc hậu so với nhu cầu và bị thị trờng loại bỏ. Chu kỳ sống của sản phẩm
bảo hiểm bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, song có thể chia thành các giai
đoạn chủ yếu sau:
Giai đoạn gốc: Đây là giai đoạn nhà bảo hiểm tiến hành nghiên cứu thị
trờng, thiết kế sản phẩm và thử nghiệm trên thị trờng.
Giai đoạn giới thiệu sản phẩm: Đây là giai đoạn doanh nghiệp bảo
hiểm tung sản phẩm vào thị trờng. Mục tiêu của giai đoạn này là thâm nhập
thị trờng và củng cố vị trí của sản phẩm.
Giai đoạn tăng trởng: Đây là giai đoạn doanh nghiệp bảo hiểm phải
mở rộng thị trờng, tạo uy tín và thế lực của doanh nghiệp trên thị trờng cạnh
tranh. Trong giai đoạn này doanh nghiệp bảo hiểm cần quan tâm tới những
phản ứng của khách hàng, hoàn thiện sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm và sử
dụng những kênh phân phối mới
Giai đoạn trởng thành và bão hòa: Đây là giai đoạn có nhịp độ tăng trởng số lợng hợp đồng bảo hiểm đợc ký kết bắt đầu giảm dần. Về thời gian,
giai đoạn này thờng kéo dài hơn các giai đoạn trớc và đặt ra những nhiệm vụ
phức tạp trong lĩnh vực marketing. Phần lớn những sản phẩm bảo hiểm hiện
nghiệp bảo hiểm phải định phí sao cho đạt đợc mức lợi nhuận thỏa đáng.
Tuy nhiên tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà các doanh nghiệp có thể
lựa chọn thứ tự u tiên vào các mục tiêu của các chính sách phí khác nhau.
Nhng trong cơ chế thị trờng, khi định phí, các doanh nghiệp bảo hiểm cần tôn
trọng những yêu cầu cơ bản sau đâu:
- Một là yêu cầu về luật pháp: Biểu phí phải tuân theo các văn bản
pháp quy, chế độ quy định khác nhau của nhà nớc nh các văn bản về quản lý
biểu phí và hoa hồng, cấm bán phá giá hoặc điều chỉnh tăng giá
- Hai là yêu cầu về tài chính: mức phí phải đảm bảo cho doanh nghiệp
bảo hiểm đủ khả năng bồi thờng, trả tiền bảo hiểm khi có sự cố, trang trải các
chi phí và đảm bảo có lời.
- Ba là yêu cầu về cạnh tranh: mức phí phải phù hợp với quan hệ cung
cầu của sản phẩm bảo hiểm theo từng giai đoạn, phù hợp với sự chấp nhận
của ngời tiêu dùng và phải đợc xem xét trong mối quan hệ với mức phí của
sản phẩm cạnh tranh.
Ngoài việc quán triệt đầy đủ các yêu cầu trên, các yếu tố tâm lý và thị
hiếu của khách hàng bảo hiểm, khả năng thanh toán của dân c và sức mua
của đồng tiền cũng ảnh hởng đến sự tăng, giảm phí bảo hiểm. Vì vậy, giá
cả (phí bảo hiểm) phải phù hợp từng nhóm đối tợng khách hàng. Có thể chia
3 mức: cao, trung bình và thấp.
Việc phân hóa phí bảo hiểm là việc xác định các mức phí khác nhau
đối với mỗi nghiệp vụ bảo hiểm cho phù hợp với từng vùng thị trờng và từng
nhóm khách hàng khác nhau. Tuy mức phí nộp phụ thuộc chủ yếu vào phí
thuần, tức là phụ thuộc vào xác suất xảy ra sự cố bảo hiểm và chi phí trung
bình cho mỗi sự cố trong từng nghiệp vụ; song doanh nghiệp bảo hiểm vẫn
có thể sử dụng các phơng pháp phân hóa phí theo thời gian, theo không gian,
theo khối lợng sản phẩm và phơng pháp thanh toán, hoặc theo các nhóm
khách hàng.
vậy, bên cạnh việc thực hiện các chính sách kể trên, để giữ khách hàng,
doanh nghiệp bảo hiểm cần tăng cờng và duy trì trao đổi thông tin phù hợp
với mỗi khách hàng. Mối quan hệ giao tiếp này có mục đích đa lại cho khách
hàng những thông tin cần thiết, sự t vấn hay những lời khuyên về các vấn đề
liên quan.
4. Chiến lợc cạnh tranh
Chiến lợc cạnh tranh là chiến lợc phát huy lợi thế cạnh tranh của mình.
Phát huy chiến lợc này không những giữ vững đợc phần thị trờng của mình
mà còn chiếm thêm đợc phần thị trờng khác so với đối thủ cạnh tranh. Thực
hiện chiến lợc này đòi hỏi các công ty phải phân tích thế mạnh của công ty,
tìm ra những nhân tố chủ yếu của sự thành công.
Mỗi doanh nghiệp bảo hiểm đều có một vị trí nhất định trên thị trờng
của mình. Vị trí đó có ảnh hởng nhất định tới doanh nghiệp, tới khách hàng
của doanh nghiệp và đợc xác định dựa trên những cơ sở khác nhau. Có thể
xác định vị trí của một doanh nghiệp bảo hiểm theo cách thức quan hệ tơng
quan với những doanh nghiệp bảo hiểm khác; hoặc có thể ớc tính theo một
cách riêng biệt. Chẳng hạn, bằng cách so sánh khả năng đáp ứng sự trông đợi
của ngời tiêu dùng Song dù có cách nào thì việc xác định này cũng phải
dựa trên những tiêu thức nhất định hoặc dựa trên sự kết hợp những tiêu thức
ấy.
Tiêu thức thứ nhất phản ánh vị trí của doanh nghiệp bảo hiểm trên thị
trờng là quy mô của doanh nghiệp. Quy mô của doanh nghiệp bảo hiểm đợc
đánh giá qua một số chỉ tiêu nh vốn hiện có, doanh thu đạt đợc, số lợng nhân
viên, trang bị phơng tiện kỹ thuật Đây là tiêu thức quan trọng nhất, bộc lộ
tiềm lực, thế mạnh của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh, vị trí
doanh nghiệp bảo hiểm còn đợc khẳng định nhờ tiêu thức thứ hai là qui mô
thị trờng của doanh nghiệp. Điều này đợc đánh giá thông qua một số chỉ tiêu
nh phạm vi địa bàn hoạt động, số lợng các nghiệp vụ bảo hiểm triển khai, số
giúp đỡ chuyển giao cho ai đó quyền sở hữu đối với một hàng hoá cụ thể hay
dịch vụ từ nhà sản xuất đến ngời tiêu dùng.
Trong các hoạt động dịch vụ, việc lựa chọn kênh phân phối lại càng
quan trọng nhằm đảm bảo lợi ích tối đa cho ngời tiêu dùng.
Bảo hiểm - một ngành dịch vụ, cũng hoạt động theo nguyên lý đó, bảo
hiểm chọn hai kênh phân phối cơ bản để đa sản phẩm bảo hiểm đến ngời tiêu
dùng - ngời mua bảo hiểm: phân phối trực tiếp, phân phối gián tiếp qua các
tổ chức trung gian và ngoài ra còn có hình thức mạng lới kết hợp.
* Phân phối trực tiếp: là cách phân phối mới ở một số nớc phát triển vì
nó dựa trtên công nghệ hiện đại. Theo cách này, khách hàng sẽ liên hệ trực
tiếp với phòng quản lý hợp đồng (phòng này trực thuộc doanh nghiệp). Sự
liên lạc có thể thông qua bu điện, điện thoại hoặc dựa vào mạng vi tính. Kênh
phân phối này thờng đợc lựa chọn trong lĩnh vực bảo hiểm xe cơ giới và đã đa lại kết quả tốt bởi sự tiện lợi với khách hàng. Mặt khác, với kênh phân phối
này, doanh nghiệp có thể giảm bớt một số chi phí trung gian, tạo điều kiện
giảm giá, tạo lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, cách phân phối này chỉ có thể
thực hiện trong điều kiện công nghệ phát triển và trên cơ sở phù hợp với thói
quan tiêu dùng của khách hàng.
* Phân phối gián tiếp: là cách phân phối sản phẩm bảo hiểm từ nhà sản
xuất tới ngời tiêu dùng mà phải thông qua cá nhân hay tổ chức trung gian.
Lực lợng phân phối này gồm có: Đại lý và môi giới bảo hiểm.
Đại lý bảo hiểm: là những ngời đợc doanh nghiệp bảo hiểm ủy thác
nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm bảo hiểm (bán bảo hiểm). Những hoạt động cụ
thể mà đại lý có thể thực hiện bao gồm:
- Thơng mại hóa sản phẩm: Trao đổi thông tin với khách hàng..
- Ký kết hợp đồng: Đánh giá rủi ro, định phí bảo hiểm Tuy nhiên sự
uỷ quyền hco đại lý về phơng diện này thờng có giới hạn về các điều kiện ký
kết cụ thể (trong hợp đồng bảo hiểm), về biểu phí (chỉ đợc xê dịch trong điều
kiện xác định), về giới hạn tầm cỡ rủi ro
nghiệp bảo hiểm phải bỏ ra các chi phí để lập mạng lới, đặt hệ thống thông
tin, máy vi tính, liên lạc với khách hàng
6. Chiến lợc quảng cáo
Do trên thị trờng, các sản phẩm bảo hiểm ngày càng đợc đa dạng hóa ở
mức độ cao. Có nhiều nghiệp vụ bảo hiểm mới đợc sửa đổi hoặc mới đợc
triển khai mà khách hàng cha biết đến. Trong tình hình ấy, các hoạt động của
doanh nghiệp bảo hiểm nhằm giới thiệu về dịch vụ bảo hiểm, thông báo về
việc thay đổi phí, nhắc nhỏ khách hàng về nơi có thể mua và khuyến khích
khách hàng mua sản phẩm trở nên rất quan trọng.
Mặt khác, cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu về bảo hiểm của
thị trờng cũng ngày càng phát triển. Nhu cầu này không chỉ giới hạn ở việc
tăng lên về số lợng và chất lợng dịch vụ bảo hiểm cung ứng mà còn thể hiện
ở việc thỏa mãn tâm lý, thị hiếu của ngời mua bảo hiểm.
Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trờng bảo hiểm cạnh tranh, truyền
thông đợc coi nh một vũ khí sắc bén để cạnh tranh, giành u thế trên thị trờng.
Những hoạt động quảng cáo, xúc tiến hán hàng của doanh nghiệp bảo hiểm
đợc xem nh là những trợ thủ đắc lực để câu khách và giành khách hàng bảo
hiểm về mình.
Truyền thông bao gồm các hoạt động giới thiệu và truyền đi các thông
tin về sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp nhằm kích thích sự tiêu dùng
sản phẩm, nâng cao uy tín của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh trên
thị trờng. Nh vậy, về nội dung, doanh nghiệp bảo hiểm có thể tiến hành
truyền thông về sản phẩm bảo hiểm hoặc về doanh nghiệp.
Khi truyền thông về sản phẩm, tùy từng loại sản phẩm mà doanh
nghiệp bảo hiểm có sự định hớng truyền thông khác nhau.
Đối với những sản phẩm bảo hiểm phải mua, truyền thong về sản
phẩm phải thuyết phục khác mua bảo hiểm của doanh nghiệp. Thông tin phải
tập trung vào những u thế của sản phẩm đã tung ra thị trờng so với các đối
mau và mang tính gián tiếp qua các phơng tiện thông tin đại chúng.
- Các phơng pháp khác:
+ Những hoạt động thờng xuyên: Đó là những hoạt động đợc duy trì
đều đặn, định kỳ nh tổ chức các hội nghị khách hàng, hội nghị các trung gian
phân phối (đại lý, cộng tác viên), gặp gỡ định kỳ với các nhà báo, với hiệp
hội ngời tiêu dùng, sản xuất các tạp chí, bản tin về doanh nghiệp
+ Những hoạt động trọng điểm: Đó là những hoạt động không đợc
thực hiện thờng xuyên, nhng tập trung vào một chủ đề hay những nội dung
đã dự tính từ trớc nh tổ chức cuộc họp báo, nói chuyện hay chiếu phim nhân
ngày khai trơng
+ Những hoạt động đặc biệt: Đó là những hoạt động đợc thực hiện
trong đó doanh nghiệp bảo hiểm xuất hiện với t cách là ngời đỡ đầu hay bảo
trợ. Các hoạt động này có mục tiêu là làm nổi danh và duy trì hình ảnh của
doanh nghiệp bảo hiểm (một nhãn hiệu) với một hoạt động trong các lĩnh vực
văn hóa, thể thao, nghệ thuật, nghiên cứu khoa học và giúp đỡ nhân tạo.
Chơng II
Thực trạng thị trờng bảo hiểm Việt Nam
hiện nay.
I. Sự hình thành và phát triển
Bảo hiểm thơng mại Việt Nam ra đời muộn hơn nhiều so với thế giới.
Hoạt động bảo hiểm đã có ít nhiều ngay từ thời kỳ nớc ta vẫn còn bị Pháp đô
hộ và ở miền Nam dới chế độ cũ, song thời điểm đáng chú ý là sự ra đời của
Công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) - Tiền thân của tổng Công ty Bảo
hiểm Việt Nam ngày nay, ra đời ngày 17 tháng 12 năm 1964 và chính thức đi
vào hoạt động ngày 15 tháng 1 năm 1965.
Những năm đầu,Bảo việt có trụ sở chính tại Hà Nội là số 7 Lý Thờng
nớc.
Sự có mặt của một công ty duy nhất (Bảo Việt) với cơ chế độc quyền
trong kinh doanh bảo hiểm nh vậy đã duy trì trong một thời gian dài. Khi nền
kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, cơ chế hoạt
động độc quyền nh trên đã trở nên không còn phù hợp, ngăn cản sj phát triển
của ngành bảo hiểm nói riêng và nền kinh tế nói chung và không thể thực
hiện đợc vai trò là yếu tốc thúc đẩy môi trờng đầu t nớc ngoài. Trớc tình hình
nh vậy, ngày 18 tháng 12 năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định
100/CP về kinh doanh bảo hiểm nhằm tạo môi trờng pháp lý thúc đẩy thị trờng bảo hiểm phát triển, tạo môi trờng đầu t hấp dẫn và nâng cao năng lực
quản lý Nhà nớc về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Việc ra đời Nghị định
này đã đánh giấu một bớc ngoặt trong quá trình phát triển bảo hiểm thơng
mại ở nớc ta.
Để chuẩn bị cho quá trình cạnh tranh trong ngành bảo hiểm theo chủ
trơng của Chính phủ, kể từ năm 1994, Bộ Tài chính đã tiến hành những bớc
đi hợp lý và vững chắc, đó là:
Thứ nhất, cho phép thành lập một doanh nghiệp tái bảo hiểm đầu tiên
tại Việt Nam - Công ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt nam (VINARE).
VINARE có nhiệm vụ tổ chức điều hòa các hoạt động tái bảo hiểm trên
phạm vi cả nớc, trong đó có nhiệm vụ giúp đỡ các công ty bảo hiểm gốc mới
ra đời, đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Thứ hai, cho phép thành lập một doanh nghiệp bảo hiểm gốc thứ hai
trên thị trờng bảo hiểm Việt nam - Công ty Bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh
(Bảo Minh), nhằm xóa bỏ cơ chế độc quyền bảo hiểm, tạo tiền đề cho sự ra
đời của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm cạnh tranh nhau trên thị trờng bảo
hiểm nớc ta.
Lúc này, độc quyền về cơ bản đã chấm dứt với sự ra đời tiếp theo của
hàng loạt các doanh nghiệp bảo hiểm:
Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long).
3. Công ty TNHH bảo hiểm Alianz - AGF.
4. Công ty TNHH bảo hiểm quốc tế Mỹ.
5. Công ty t vấn dịch vụ bảo hiểm AON INCHINBROK.
Nh vậy, việc sắp xếp theo loại hình công ty hiện có mặt trên thị trờng
bảo hiểm Việt Nam có thể khái quát theo sơ đồ sau:
Công ty bảo hiểm
Nhà nước
Công ty bảo hiểm
Công ty bảo hiểm
cổ phần
chuyên ngành
Công ty bảo hiểm
liên doanh
Công ty Tái
bảo hiểm
Thị trường
bảo hiểm
Việt Nam
Công ty 100% vốn
nước ngoài
Liên doanh môi giới
bảo hiểm