KHOÁ LUÂN TỐT NGHIỆP -
TRƯÒNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA SINH HỌC
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN cúu VỀ NAM Mốc KÝ SINH
TRÊN MỘT SỐ LOÀI CÔN TRÙNG Ở RÙNG THÔNG
THUỘC
XÃ XUÂN LĨNH, HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỊỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: DI TRUYỀN - VI SINH
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TH.S. NGUYỄN LÊ ÁI VĨNH
SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN THỊ KIM HUỆ LỚP: 42E1SINH
TRẦN THI KIM HUỆ
LỜI CẢM ƠN!
Để hoàn thành bản luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ động viên của các thầy cô, bạn
bè và Ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Lê ái Vĩnh đã hướng dẫn chu đáo và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực
hiện luận văn này.
Cảm ơn các cán bộ phòng Thí nghiệm Di truyền - Vi sinh, các thầy cô giáo trong Khoa đã hết sức giúp đỡ để em có đủ điều kiện
bước vào con đường nghiên cứu khoa học và hoàn thành luận văn. Cảm ơn sự quan tâm động viên của tất cả các bạn sinh viên trong suốt
thời gian qua.
Trong suốt thời gian nghiên cứu hiện trường và tiến hành thu mẫu em cũng đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của anh Trần Quốc
Sơn, Phó trạm trưởng quản lý rừng phòng hộ Cộng Khánh thuộc xã Xuân Lĩnh, huyện Nghi Xuân cũng như của Ban quản lý và nhân viên
rừng phòng hộ Hồng Lĩnh , tỉnh Hà Tĩnh.
Em xin trân trọng cảm on!
diệt côn trùng gây hại, chúng tôi lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân Sinh học là: "Bước đầu nghiên cứu về nấm mốc kỷ sinh
trên một số loài côn
trùng ở rừng thông thuộc xã Xuân Lĩnh, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh".
Muc tiêu của đê tài là:
Điều tra về thành phần nấm mốc trên một số loại côn trùng thu thập được từ rừng thông ở xã Xuân Lĩnh, huyện Nghi Xuân, tính Hà
Tĩnh thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Qua đó nghiên cứu và xác định những chủng nấm mốc ký sinh và tìm
hiểu ảnh hưởng của một số chủng đối với đời sống của một vài loài sâu phá hoại cây trồng.
Nhiêm vu của đề tài là:
1. Điều tra thành phần nấm mốc sống trên một số loại côn trùng thu thập được từ một số rừng thông ở xã Xuân Lĩnh, huyện Nghi
Xuân thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Qua đó, xác định những chủng nấm mốc ký sinh trên các loại
côn trùng đó.
2. Quan sát đặc điểm khuẩn lạc, sự sinh trưởng trên môi trường thạch và cấu tạo hiển vi của các chủng được phân lập.
3. Nghiên cứu đặc điểm của một số chủng đã được phân lập: sự gia tăng sinh khối, sự thay đổi pH môi trường và hoạt độ enzim
proteinaza.
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chủng nấm mốc đã phân lập đối với sâu xanh hại rau cải.
KHQẢ LUẬN TổT NGHIỆP -____________________TRAN THỊ KIM HUỆ
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.
Sơ Lược VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN cúư NẤM Mốc KÝ SINH TRÊN CÔN
TRÙNG:
1.1. Ớ trên thê giới:
Việc nghiên cứu nấm mốc ký sinh trên côn trùng và ứng dụng chế phẩm
sinh học từ nấm mốc ký sinh trên côn trùng nhằm tiêu diệt côn trùng bắt đầu được
Huber (1958) đã tìm thấy lipaza, amilaza trong dịch nuôi cấy nấm
Cordyceps militaris, Metarhizium anisopliae, Beauveria bassiana và Aspergillus
flavus.
Benz G.(1965) cho biết tất cả các nấm ký sinh trên côn trùng đều có khả
năng tiết một lượng lớn enzim cần thiết để hòa tan cutincun côn trùng.
Roberts D.w.(1966) cũng đã mô tả phương pháp thu nhận và thử nghiệm
độc tố của nấm Metarrhizium anisopliae. Năm 1969, R. L. Hamill et al đã kết tinh
được độc tố diệt côn trùng của nấm B. bassiana.
Ngoài ra, các tác giả trên thế giới còn nghiên cứu những ảnh hưởng của nấm
mốc lên mô, các cơ quan và lên chức năng sinh lý của côn trùng. Các công trình
đó đã được mô tả nhiều sự phá hủy khác nhau: Làm biến đổi thành phần, hình
dạng của các enzim và phản ứng huyết tương (Sussman A.s. 1957, Rubuov N.A.
1959), làm giảm khả năng sinh sản (Zigaev G.N. 1963, Vinokurov G.M .1949),
làm giảm trọng lượng và phá hủy sự hô hấp (Sussman A.S.1952, Samsina kova A.
1960), cũng như phá hủy chức năng hệ thống nội tiết của côn trùng ( Enven A.B.
1966).
Kondria V. S.1966 đã kết luận rằng độ mắn đẻ của bướm Tortricidae hại táo
bị giảm rất lớn sau khi xử lý nhộng bởi nấm Beauverỉa bassiana. Gamper N. M .et
al ( 1968) thấy trứng của loài Bọ rùa Chelonia gây hại nhiễm nấm Beauveria
bassiana và Aspergillus flavUS ở pha trứng chỉ đạt 21- 33% (đối chứng 8%)
nhưng đạt tỷ lệ chết cao ở ấu trùng một tuổi: với nấm B.bassiana đạt 100%, với
nấm Aspergillus đạt 54% ( đối chứng 20%) [4].
1.2. Ở Việt Nam:
Cùng với việc nghiên cứu nấm mốc ký sinh trên côn trùng và ứng dụng
chúng làm chế phẩm sinh học diệt côn trùng trên thế giới thì ở Việt Nam, việc
nghiên cứu nấm mốc ký sinh trên cơ thể côn trùng cũng được phát triển mạnh từ
những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX. Có khá nhiều tác giả đã
KHQẢ LUẬN TÔT NGHIỆP -____________________TRAN THỊ KÏM HUỆ
7
sinh thái cây đậu tương và định hướng sử dụng chúng” [8].
Cùng với Tống Kim Thuần, Vũ Quang Cồn đã điều tra nấm Nomurea riỉeyi
gây bệnh cho côn trùng hại đậu tương vùng Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nội và định
hướng sử dụng chúng. Cùng với việc phát huy chế phẩm sinh học diệt sâu các tác
giả đã điều tra và phát hiện các tác nhân sinh học tại chỗ và nghiên cứu phát triển
chúng thành chế phẩm sinh học có hiệu lực diệt sâu cao. Từ kết quả nghiên cứu
các tác giả đã phát hiện ra nấm N. rileyi gặp nhiều ở các sâu thuộc bộ cánh phấn
như sâu xanh, sâu đục quả, sâu khoang...
Qua thử nghiệm khả năng diệt sâu của nấm N. rileyi thì thấy tất cả các chủng
nấm N.rìleyi đều có khả năng diệt sâu xanh và sâu cuốn lá. Trong đó, HN4 có hiệu
lực diệt hại loại sâu cao nhất và nó có khả năng sản xuất thành chế phẩm để phòng
trò một số sâu hại trên đậu tuơng [8].
Từ năm 2001 đến 2003, Phạm Thị Thùy đã báo cáo nhiều công trình nghiên
cứu tại các hội nghị khoa học như: Báo cáo về kết quả nghiên cứu cải tiến sản xuất
chế phẩm Metarhizium để phòng trừ bọ hại dừa ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long. Năm 2003, Phạm Thị Thùy cùng Nguyễn Văn Tuất đã phân lập và tuyển
chọn chủng nấm Metavhiúum anisopliae có độc tính cao trên bọ hại dừa ở các tỉnh
phía Nam. Từ các mẫu nấm Metarhiĩium trên bọ hại dừa được thu ở các vùng
trồng dừa khác nhau, các tác giả đã phân lập được 8 chủng nấm, xác định được
chủng nấm Ma ký sinh trên bọ hại dừa phát triển tốt trên môi trường Sabouraud
khoáng chất giảm (lOg pepton và 20g glucoza) và chủng nấm Ma ký sinh trên bọ
hại dừa ở Bến Tre là chủng tốt nhất để sản xuất chế phẩm Ma. [9].
Ngoài ra, còn có rất nhiều các tác giả khác cũng đã nghiên cứu về nấm mốc
ký sinh trên côn trùng.
Đối với các địa phương, việc nghiên cứu, ứng dụng các loài nấm mốc để bảo
vệ cây xanh khỏi sự phá hoại của côn trùng cúng đã được tiến hành nhiều nơi như
ở Hà Tây, Bắc Ninh, Kiên Giang, Bến Tre...
*
Lớp Basidiomycetes có 2 giống: Septobasidium patonillard và ưredinella
couch là những nấm diệt côn trùng.
*
Lớp Deutromycetes có các nấm thuộc bộ Moniliales nổi tiếng gồm có các
đại diện thuộc giống Beauveria, Metarhizium, Spicaria, Sorospolla... các
nấm này có khả năng gây nhiễm làm chết côn trùng do có độc tố [4].
3.
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NẤM Mốc KÝ SINH TRÊN CÔN TRÙNG:
3.1. Sự phân bô trong thiên nhiên của nấm ký sinh trên côn trùng:
Khi nấm kí sinh trên côn trùng rơi vào nơi nào đó, chúng đều có khả năng trở
thành thành viên trong sinh quần nơi đó và tự sinh sôi nảy nở để tăng lên.
Là vật ký sinh chuyên hóa rộng các nấm này đã chiếm một phạm vi lớn côn trùng
vật chủ do đó cho phép chúng tồn tại trong tự nhiên khi thiếu
KHQẢ LUẬN TOT NGHIỆP -____________________TRAN THỊ KIM HUỆ
vật chủ chính. Các nấm ký sinh trên côn trùng có thể diệt côn trùng bằng nhiều
cách khác nhau.
Các nấm ký sinh trên côn trùng có thể tồn tại trong môi trường không thuận
9
lợi ở dạng túi bào tử (họ Coelomomycetaceae), bào tử nghỉ, hạch nấm và thể quả
hay 0 thể rắn chắc của sợi nấm dinh dưỡng kết lại kiểu giả hạch nấm.
1
0
4.1. Thực trạng côn trùng phá hại ở cây xanh:
Hằng năm sâu bệnh làm mất mát đi một lượng mùa màng vào khoảng 20%
(đối với châu Âu) hoặc 34% (đối với châu Á) [3]. Ngoài ra, còn gây ảnh hưởng tới
sản lượng, năng suất của các cây trồng khác. Tất cả các nước trên thế giới, hằng
năm đều phải gánh chịu những thiệt hại do côn trùng phá hoại đến cây xanh.
Như tình trạng châu chấu phá hại hoa màu ở các nước như Canada, Ấn độ...,
sâu đục thân ở bắp cải, lúa, các cây ăn quả, các loại sâu rầy hại lúa. Có thể nói, có
rất nhiều loài côn trùng gây hại cho cây xanh như sâu cắn gié, sâu 5 vạch, sâu gây
cháy lá lúa, rầy xanh đuôi đen, sâu cuốn lá nhỏ, bướm trắng hại cải, rầy nâu, sâu
hại thông... Dịch côn trùng phá hại mùa màng, cây trồng xảy ra nhiều ở các nước
nhiệt đới vì những nước này có độ ẩm cao, dịch phát triển mạnh vào mùa xuân,
mùa có khí hậu ấm áp thuận lợi cho sự phát triển và sinh sản.
Bệnh dịch côn trùng phá hại cây xanh đang là một vấn đề cấp bách của nhiều
nước trên thế giới. Việc tìm ra hướng đối phó với côn trùng hại cây xanh đang
được nghiên cứu nhiều trên thế giới.
Cây thông là cây có giá trị kinh tế lớn đối với nhiều nước trên thế giới. Cây
thông được dùng chủ yếu để lấy nhựa thông, lấy gỗ, củi. Nhiều nước trên thế giới
đã phát triển mạnh về việc hình thành nên những rừng thông nhằm đáp ứng nhu
cầu xã hội.
Tuy nhiên, việc cây thông bị côn trùng phá hại lại đang phổ biến và lan rộng
trên toàn thế giới. Cây thông bị các côn trùng phá hại như sâu đục thân, mối... đặc
biệt là hiện tượng sâu róm phá hại thông. Sâu róm phát triển mạnh thành dịch phá
hại cây thông, ăn lá thông làm cho thông chết
KHQẢ LUẬN TổT NGHIỆP -_____________________TRAN THỊ KIM HUỆ
hàng loạt, ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cây thông. Đặc biệt, ở Việt
trứng của loại Bọ Rùa Chelonia gây hại nhiễm nấm Beauveria bassiana đạt 100%,
với nấm Aspergillus đạt 54% (đối chứng 20%).
• Ánh hưởng của nấm lên giai đoạn ấu trùng của côn trùng:
Prasertphon s.(1967) đã thông báo độc tố nấm dược tạo thành ở một
số nấm Entomophthora: E.apculata, E.cornata khi tiêm vào xoang cơ thể
KHQẢ LUẬN TổT NGHIỆP -_____________________TRAN THỊ KIM HUỆ
nhộng Galleria mellonella ức chế quá trình biến thái. Khi nhiễm ấu trùng tuổi IVV của loài Bọ Rùa gây hại với nấm B.bassiana thấy quá trình phát triển của ấu
trùng bị phá huỷ xuất hiện tới 38% và 26%(tương ứng tuổi) dạng dị dạng. Ớ đối
chứng quá trình ấu trùng bị phá huỷ không quá 3-7%.
• Ánh hưởng của nấm đến trọng lượng côn trùng:
Samsinakova A. và Cermakova A.(1960) đã nghiên cún sự biến đổi trọng
lượng sống của ấu trùng bộ cánh cứng khi nhiễm nấm B.basiana. Các thí nghiệm
đã thấy rằng trọng lượng sống của ấu trùng bị nhiễm tăng chậm trong 6 ngày, sau
đó, bắt đầu giảm trọng lượng và cuối cùng trọng lượng ấu trùng bị nhiễm là ban
1
2
đầu. Trong khi đó trọng lượng ấu trùng ở đối chứng tăng 582,7% theo tỉ lệ với ban
đầu, trọng lượng của ấu trùng tuổi 4 đối chứng, sau 10 ngày đã tăng gấp 6 lần
trọng lượng ấu trùng bị nhiễm cũng ở tuổi đó.
• Ánh hưởng của nấm đến sự hấp thụ ôxy của côn trùng:
Bệnh lý của côn trùng bị nhiễm cũng giống như ở các động vật có xương
sống, một trong những dấu hiệu chủ yếu của bệnh là biến đổi sự hô hấp. Trong
công trình nghiên cứu của Sussman A.(1952) cho biết nhộng bị nhiễm nấm chỉ ít
lâu sau sự hấp thụ oxy của chúng đã tăng lên 7 lần. Trong đó phần lớn oxy được
hấp thụ bởi mô của vật chủ bị bệnh. Đã có giả thiết cho rằng côn trùng bị chết do
các khí quản và lỗ thở bị phá huỷ trực tiếp hay bằng cách phá huỷ hệ thần kinh.
• Bệnh lý học mô:
nhiễm nấm Fusarium sp với côn trùng thuộc họ Diaspididea ở Marốc làm chết 9095% cá thẻ trong quần thể của Leppidosaphes beckii Newn. và L.gloveri pack.
Bệnh dịch nấm phát triển được ngoài điều kiện thời tiết thuận lợi còn cần yếu tố
mật độ côn trùng cao và tình trạng sinh lý của chúng yếu.
Bên cạnh đó, có thể sử dụng các số liệu về dịch côn trùng hại do nấm gây ra
để dự đoán các dịch sinh sản lớn của côn trùng. V.P.Poslennov(1932 là người đầu
tiên đã thí nghiệm sử dụng các số liệu về côn trùng bị nhiễm nấm để dự đoán số
lượng của chúng [4]. E.G.Voronin(1966) nghiên cứu nấm Entomophthoraceae trên
cây họ đậu ở Lenigrad đã chỉ ra rằng trong mùa thu các ổ trứng của Rệp cây đậu bị
bệnh do nấm này sẽ dẫn tới sự giảm số lượng quần thể Rệp ngay trong tháng đầu
tiên của vụ mùa sau. Từ đó, ông thấy rằng việc thống kê số liệu Rệp cây bị bệnh
vào thời kỳ mùa thu là rất quan trọng cho việc dự báo sâu bệnh mùa vụ sau [4].
KHQẢ LUẬN TổT NGHIỆP -_____________________TRAN THỊ KIM HUỆ
4.3.2.
Chê phẩm sinh học từ nấm mốc kí sinh trên côn trùng:
Trước thực trạng côn trùng phá hại cây xanh, để diệt côn trùng người nông
dân đã phun rất nhiều thuốc hoá học. Thuốc trừ sâu hoá học ngày càng bộc lộ
nhữns nhược điểm đáng ngại như dẫn đến những tác hại trước mắt và lâu dài đối
với người, gia súc và môi trườns sống dẫn tới hiện tượng “kháng thuốc” ở sâu
bệnh; giá thành cao nên hạn chế qui mô sử dụng (nhất là đối với lâm nghiệp). Hiệu
lực thấp đối với một số loài sâu bệnh [3].
Ớ nước ta, theo nhiều tác giả cho biết, dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật
trong nước, đất, nông sản và đặc biệt trong sữa của những bà mẹ thường xuyên
tiếp xúc với thuốc đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép của WHO.[4].
Trong quá trình nghiên cứu nấm mốc kí sinh trên côn trùng, các nhà khoa
học đã tìm ra được khả năng tiết enzim và khả năng tiết độc tố của nấm mốc nhằn
tiêu diệt côn trùng. Và với tác dụng chuyên hoá trong quan hệ với côn trùng và
không gây độc hay gây độc ít với động vật máu nóng đã cho phép có thể sử dụng
độc tố của nấm diệt côn trùng làm chất diệt côn trùng [4]. Chế phẩm nấm diệt sâu
KHQẢ LUẬN TổT NGHIỆP -_____________________TRAN THỊ KIM HUỆ
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
1.
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cúư:
Là những loài nấm mốc (Mould) ký sinh trên một số loài côn trùng thu thập
được 0 rừng thông tại xã Xuân Lĩnh, huyện Nghi Xuân, thuộc Ban quản lý rừng
phòng hộ Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
2.
THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CÚƯ:
2.1.Thời gian nghiên cứu:
*
Thu thập số liệu từ tháng 9/2005 đến tháng 3/2006.
*
Xử lý số liệu và hoàn thành luận văn từ tháng 4-5/2006.
2.2.Địa điểm nghiên cứu:
Mẫu côn trùng được thu ở rừng thông tại xã Xuân Lĩnh, huyện Nghi Xuân,
thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
3. PHƯỜNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
3.1.Phương pháp điều tra thực địa và thu mẫu côn trùng:
Lựa chọn ngẫu nhiên 30 cá thể (30 mẫu) trong số 200 cá thể (mẫu) thu
được. Chúng có kích thước bằng nhau( dài 4- 5 cm) và tình trạng sức khỏe
bình thường.
-
Mẫu được rửa bằng cồn 70° (loại bỏ bớt những loài vi sinh vật nhiễm phía
ngoài), trong khoảng thời gian 30 giây.
-
Mỗi mẫu được để riêng trong từng ống nghiệm (đã khử trùng), dùng đũa
thủy tinh riêng biệt cho từng mẫu (đã khử trùng) và nghiền nát sau đó bổ
sung một ít nước cất vô trùng, trộn đều ta được dịch huyền phù.
-
Hút 0,5ml dịch huyền phù bằng pipép vô trùng vào đĩa petri có chứa môi
trường Cazapek-dox (Bổ sung 0,5g tetraxilin/11 môi trường). Dùng que
trang, trang đều.
-
Sau đó đặt các đĩa petri trong tủ ấm ở nhiệt độ 28° c, trong thời gian 7
ngày. Đến ngày thứ 7 thì mô tả khuẩn lạc, phân biệt và đặt tên cho các
chủng nấm có trên đĩa thạch.
-
Lựa chọn khuẩn lạc điển hình để tiếp tục cấy ria và làm sạch chủng.
-
Các chủng được nuôi lấy sinh khối trên môi trường Sabouraud- Dextro
(bổ sung 0,5g tetraxilin/1 lít môi trường), nuôi ở nhiệt độ 28° c trong 7
ngày.
• Xác định sinh khối tươi:
- Lọc toàn bộ dịch nuôi cấy bằng giấy lọc Whatmann đã
được xác định khối lượng.
KHQẢ LUẬN TổT NGHIỆP -_____________________TRAN THỊ KIM HUỆ
-
Giữ lấy phần sinh khối trên giấy lọc, đặt vào tủ ấm ở nhiệt độ 30°
c trong
thời gian 3 ngày để nước bay hơi hết nhưng sợi nấm không bị chết khô,
cân để xác định sinh khối tươi.
3.4. Phương pháp đo độ pH của dịch nuôi cây các chủng nấm:
pH của dịch nuôi cấy được đo trước khi nuôi cấy, sau 7 ngày và sau 14
ngày bằng máy đo pH loại AR50, tại phòng thí nghiệm Di truyền-vi sinh, Khoa
Sinh học, Trường Đại học Vinh.
3.5. Phương pháp xác định hoạt độ enzim proteỉnaza:
-
Thu dịch chiết enzim ngoại bào: Từ phần dịch được lọc ở trên đem ly tâm
với tốc độ 6000 vòng/ phút trong thời gian 15 phút. Phần dịch sau ly tâm
sung 0,5g tetraxilin/11 môi trường) trong 7 ngày ở nhiệt độ phòng thí
nghiệm.
-
Cân lấy lg nấm mốc gồm sợi nấm và bào tử, hòa vào lOOml nước cất vô
trùng và lọc đều để bào tử phân tán đều trong nước.Ta có dịch huyền phù
bào tử chuẩn bị cho thử nghiệm.
•
Tiến hành thí nghiệm:
-
Các chủng nấm mốc được lựa chọn thử nghiệm là: NHI, NT3, NT6 và
NT7.
KHQẢ LUẬN TÔT NGHIỆP -____________________TRAN THỊ KÏM HUỆ
-
Có 5 lô thí nghiệm:
+ Lô đối chứng ( không nhiễm nấm)
+ Lô nhiễm NHI
+ Lô nhiễm NT3
+ Lô nhiễm NT6
+ Lô nhiễm NT7
-
Xuân, Hồng Lĩnh và Can Lộc với diện tích khoảng 4000 hecta. Cây thông ở đây chủ
yếu được trồng vào năm 1973 và bắt đầu khai thác nhựa thông vào năm 1997-1998.
Sản lượng trung bình hàng năm một cây thông cho khoảng lkg nhựa thông. Cây
thông đã mang lại công ăn việc làm cho hầu hết người dân sống xung quanh khu
vực rừng thông thuộc ba huyện nói trên. Tuy nhiên, vài năm trỏ’ lại đây, nạn dịch
sâu róm thông đã làm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng nhựa thông cũng như
đời sống của cây thông.
Theo Ban quản lý Rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, sâu róm phát triển mạnh vào
tháng 9 - 10 và vào tháng 2-3 hàng năm. Râu róm phát triển mạnh, làm cho cây
thông “chết cháy”. Hằng năm, Ban quản lý rừng đã phải tiêu tốn rất nhiều công sức,
nhân lực và tiền của để xử lý nạn phá hoại thông của sâu róm. Như năm 2005 đã
tiêu tốn hết 250 triệu VNĐ cho việc bắt sâu róm và phun thuốc hóa học, chế phẩm
sinh học diệt sâu nhưng hiệu quả mang lại còn rất thấp. Mật độ sâu róm ở thời điểm
bùng phát của dịch có thể lên tới 100 con/ 1 cây thông. Từ đó, có thể thấy được mật
độ hay sự phá hoại của sâu róm là rất lớn.
Tại Trạm quản lý Rừng phòng hộ Cộng Khánh thuộc xã Xuân Lĩnh (Nghi
Xuân, Hà Tĩnh), trong năm 2005 đã thu gom tới 1,5 tấn sâu róm hại thông.
Tại thời điểm thu mẫu, vào tháng 10-2005, qua điều tra thực địa và qua thông tin từ
Ban quản lý rừng phòng hộ, chúng tôi thấy các rừng thông
KHQẢ LUẬN TổT NGHIỆP -_____________________TRAN THỊ KIM HUỆ
hầu như bị sâu róm phá hoại ở các mức độ khác nhau. Dịch phát triển mạnh nhất là
ở huyện Can Lộc, cây thông ở đây bị “chết cháy” rất nhiều. Còn tại khu vực thu
mẫu thuộc xã Xuân Lĩnh, rừng thông ở đây cũng bị sâu róm tấn công nhưng mức độ
phá hoại ít hơn. Với mật độ sâu 10-15 con/ lcây.
Tại khu vực thu mẫu, trong quá trình thu mẫu, chúng tôi gặp nhiều loài côn
trùng khác nhau như: cào cào, bọ xít, dế, sâu róm, các loài bướm... Tuy nhiên, loài
gây ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất đến cây thông là sâu róm hại thông.
Ọua quá trình thu mẫu, chúng tôi đã thu được cá thể sâu róm thông tới 200
Sô mẫu gặp
chủng
tích
3.
Tần sô gặp
1
NT1
1
30
3,3%
2
NT2
1
30
3,3%
3
NT7
1
30
3,3%
7
NT8
1
30
3,3%
8
NT9
1
30
3,3%
KẾT QUẢ ĐIỂU TRA VỂ NẤM Mốc TRÊN MỘT số XÁC BƯỚM CHẾT:
Từ 5 mẫu (5 xác bướm chết) chúns tôi đã phân lập được 5 chủng nấm mốc, đó
là: NHI, NH3, NH5, NH6 và NH8. (Bảng 2)
Bang 2: Tần số gặp của các chủng nấm mốc trên các xác bướm chết
TT
1
Ký hiệu
chủng
NHI
Sô mẫu gặp
2
3
NH3
2
4
NH5
4
5
Sô mẫu phân
tích
5
Tần sô gặp
(NH5, NH6, NH8) chỉ chiếm tỉ lệ 20%.
KHQẢ LUẬN TổT NGHIỆP -_____________________TRAN THỊ KIM HUỆ
4.
ĐẶC ĐIỂM MÔ TẢ CỦA CÁC CHỦNG NẤM Mốc ĐÃ Được PHÂN LẬP:
Đặc điểm mô tả các chủng nấm mốc được phân lập từ các mẫu sâu róm thông
(8 chủng) và từ xác bướm (5 chủng) được trình bày ở Bảng 3. Những chủng này
đang được bảo quản tại Phòng thí nghiệm Vi sinh - Khoa Sinh học - Trường Đại
học Vinh.
Bảng 3: Đặc điểm mô tả các chủng nấm mốc được phân lập
T
T
1
.
Ký hiệu
chủng
NT1
2
.
NT2
Sâu róm
thông
thông
7
.
NT8
Sâu róm
thông
8
.
NT9
Sâu róm
thông
Nguồn
gốc
Đặc điểm mô tả
Sâu róm
thông
Khuẩn lạc tròn, dạng bông có nhân chính giữa lồi lên. Khuẩn lạc
màu trắng xám tiết dịch đen vào môi trường. Đường kính khuẩn
lạc sau 7 ngày: 5-6 cm. Bào tử hình trứng ( 2,0-3,5)x 1,7 um. (Ảnh
2)