một số giải pháp nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn toán lớp 4 - Pdf 32

Sở giáo dục Và ĐàO TạO NGHệ AN
PHòNG GIáO DụC Và ĐàO TạO VINH

SáNG KIếN KINH NGHIệM

MộT Số GIảI PHáP NÂNG CAO HIệU QUả CÔNG TáC PHụ
ĐạO HọC SINH YếU, KéM Về MÔN TOáN LớP 4

Họ và tên: Nguyễn Thị Nguyệt
Chức vụ: Phó Hiệu trởng
Đơn vị: Trờng Tiểu học Nghi Liên
Năm học: 2011 - 2012
PHN I : T VN
I. LI DO CHON TAI
Cng nh cỏc mụn hc khỏc, mụn Toỏn cú mt vai trũ ht sc quan trng trong
vic hỡnh thnh nhõn cỏch con ngi lao ng. Vỡ vy, mi giỏo viờn cn phi cú
trỏch nhim dy hc sao cho hc sinh ca mỡnh tip thu c nhng kin thc v k
nng m chng trỡnh giỏo dc tiu hc quy nh. Tuy nhiờn, khụng phi mi hc
sinh u hc tp d dng nh nhau, cú th cú nhng hc sinh nm kin thc toỏn hc
rt nhanh chúng v sõu sc m khụng cn cú s c gng c bit, trong khi ú mt s
em khỏc li khụng th t c kt qu nh vy mc dự ó c gng rt nhiu, ú
chớnh l cỏc em hc sinh yu, kộm v mụn Toỏn.

1


Qua theo dõi chất lượng giáo dục của nhà trường trong những năm qua, tôi
thấy rằng chất lượng môn toán ở một số học sinh còn hạn chế. Một số học sinh vẫn
còn khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức và kĩ năng cơ bản nên thực chất vẫn còn
tồn tại học sinh yếu, kém về môn toán có nguy cơ ngồi nhầm lớp. Số học sinh yếu,
kém đó chủ yếu là ở khối 4,5. Bởi vì lên lớp 4,5 kiến thức môn toán có thêm nhiều



- Tìm hiểu thực trạng việc phụ đạo học sinh yếu, kém về môn Toán lớp 4.
Phương pháp thực nghiệm.
- Nhằm mục đích kiểm tra tính khả thi của đề tài.
PHẦN II: NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG.
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Học sinh yếu, học sinh khó khăn trong học tập
- Học sinh yếu, học sinh khó khăn trong học tập là những học sinh phát triển
không bình thường về mặt năng lực nhận thức, học kém không theo kịp chương trình
và các bạn trung bình trong lớp biểu hiện ở các dấu hiệu cơ bản sau:
- Động cơ học tập lệch lạc, mờ nhạt hoặc bị thui chột.
- Tri thức các môn học phiến diện, hẫng hụt, tụt hậu so với bạn bè và so với yêu
cầu, kĩ năng thực hành yếu hoặc di chuyển sang lĩnh vực hoạt động theo những mục
đích, động cơ ngoài việc học tập. Kết quả học tập thất thường, yếu kém và không có
độ tin cậy cao.
- Thái độ tiêu cực trong học tập, chán ghét, không ham thích những hoạt động
học tập. Từ đó dẫn đến những hành vi tiêu cực, gian dối, đối phó hoặc có khi có
những biểu hiện ghen tức bạn bè học khá, thù ghét những thầy cô giáo nghiêm khắc
trong giáo dục, hay bỏ học, trốn tiết.
1.2. Giáo dục học sinh yếu kém
- Giáo dục học sinh yếu kém là quá trình tác động của những người làm công tác
giáo dục tới đối tượng học sinh có trình độ chưa đạt tiêu chuẩn giáo dục.
- Học sinh yếu kém là những em mà trong quá trình hình thành và phát triển
nhân cách đã có những biểu hiện không bình thường về thể chất, tinh thần, trí tuệ,
đạo đức cần được sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường - gia đình - xã hội cũng như sự
nỗ lực của chính các em. Vì vậy, giáo dục học sinh yếu kém trước hết là quan tâm
chăm sóc, bồi dưỡng nhân cách cho người học; hướng dẫn các em có phương pháp


x

=5

g) 7 ×

x = 1799

Bài 3: Điền đáp số vào chỗ trống của mỗi bài toán sau:
a) Một hình chữ nhật có chiều rộng 18m, chiều dài gấp 3lần chiều rộng. Chu vi hình
chữ nhật đó là:...............................................
b) Diện tích hình vuông có cạnh 8cm là: ................................................
Bài 4: Một tổ công nhân trong 5 ngày làm được 375 sản phẩm. Hỏi với mức làm như
thế thì trong 9 ngày tổ công nhân đó làm được bao nhiêu sản phẩm?
Hướng dẫn chấm bài kiểm tra:
Bài 1 (2 điểm) : Mỗi ý đúng yêu cầu cho 0,5 điểm.
Bài 2 (2 điểm) : Mỗi ý đúng yêu cầu cho 0,5 điểm.
Bài 3 (4điểm): Mỗi ý đúng cho 2 điểm.
Bài 4 (2điểm): Bài giải thực hiện đúng yêu cầu trình bày đầy đủ cho 2 điểm

*) Kết quả khảo sát:
Tổng
số HS
79

Điểm 9-10

Điểm 7-8


36.7%

11

13.9%

Với đề khảo sát chất lượng như trên, qua kết quả làm bài của học sinh thì 11 em
học sinh có điểm yếu các em còn vướng phải các lỗi sau: Còn chậm trong thực hành
tính toán, chưa thuộc bảng cửu chương; Cộng, trừ, nhân, chia có nhớ còn chậm, quên
không nhớ; Còn lẫn lộn, quên cách tìm thành phần chưa biết của phép tính; Kỹ năng
giải toán có lời văn còn yếu.
2.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu, kém môn Toán .
4


*) Về phía học sinh: Như chúng ta đã biết, sự yếu kém về môn Toán của học
sinh có biểu hiện dưới nhiều hình, nhiều vẻ khác nhau nhưng nhìn chung thường có
các đặc điểm sau đây:
- Có nhiều lỗ hổng về kiến thức, kĩ năng; Tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng
chậm;
- Phương pháp học tập chưa tốt; Năng lực tư duy yếu; Có thái độ thờ ơ với học
tập, ngại cố gắng, thiếu tự tin.
- Học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập.
- Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học
tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin.
- Học sinh lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư duy, vốn
kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế.
- Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền.
- Mỗi em có một khả năng nổi trội riêng nhưng các em chưa biết phát huy khả
năng của mình.

thường trong trạng thái mệt mỏi, uể oải. Một số phụ huynh đi làm ăn xa phải gửi con
cho ông bà, cô bác trông hộ. Các em trong đối tượng này thì bị thiếu thốn tình cảm
của bố mẹ nên khi học thường không chú tâm vào việc học tập.
Từ những thực trạng nói trên, để tập trung nâng chất lượng học tập của học
sinh, ngăn ngừa và khắc phục tình trạng học sinh yếu, kém về môn Toán, tránh để tình
trạng học sinh ngồi nhầm lớp tôi đã suy nghĩ và trao đổi cùng đồng nghiệp đưa ra
“Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phụ đạo học sinh lớp yếu kém môn
Toán lớp 4” như sau:
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHỤ ĐẠO
HỌC SINH YẾU, KÉM VỀ MÔN TOÁN LỚP 4.
Giải pháp 1. Chỉ đạo giáo viên theo dõi thường xuyên, nắm bắt cụ thể tình
hình học sinh yếu.
Tôi đã chỉ đạo giáo viên theo dõi kết quả làm bài tập trên lớp và làm bài tập về
nhà hàng ngày, theo dõi kết quả kiểm tra định kỳ, sớm phát hiện ra các trường hợp
học sinh có khó khăn trong học tập và đi sâu tìm hiểu từng trường hợp cụ thể, phân
tích đúng nguyên nhân dẫn đến tình hình đó đối với các em.
- Ngay từ đầu năm học, tiến hành khảo sát chất lượng học sinh về môn Toán.
- Lập danh sách và phân loại học sinh yếu, kém về môn Toán, phân tích nguyên
nhân.
Tôi hướng dẫn giáo viên phân loại học sinh học yếu theo những nguyên nhân
chủ yếu như: Do hổng kiến thức, kỹ năng từ lớp dưới, do điều kiện hoàn cảnh gia
đình, do trí tuệ chậm phát triển...
Thực hiện theo kế hoạch, tôi cùng với giáo viên dạy khối 4 đã khảo sát và phân
loại học sinh yếu môn toán theo các nhóm nguyên nhân chủ yếu như sau:
+ Nhóm khả năng tiếp thu bài chậm, chưa chăm học, hổng kiến thức lớp dưới
như chưa thuộc bảng nhân, bảng chia, chưa biết tìm thành phần chưa biết của phép
tính, giải toán có lời văn còn yếu: Nhóm này có 7 em.
+ Nhóm do hoàn cảnh gia đình và các nguyên nhân khác: Nhóm này có 4 em.
Trong nhóm này các em có khả năng tiếp thu bài tốt. Nhưng vì điều kiện gia đình khó
khăn không có người chăm lo, đôn đốc học tập nên các em chưa tích cực học tập,

hệ các đơn vị đo lường và vận dụng làm toán có lời văn...
Cứ tiếp tục như vậy, nội dung các buổi phụ đạo sau phải có sự củng cố lại
những kiến thức đã học ở các buổi học trước và tập trung chủ yếu vào củng cố cho
học sinh kĩ năng thực hiện thành thạo bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia với số tự
nhiên ở học kì I. Nội dung củng cố kĩ năng thực hành làm tính với số tự nhiên, giáo
viên linh hoạt bằng nhiều bài toán khác nhau. Có thể là các dạng bài như: đặt tính rồi
tính; tính giá trị biểu thức; tìm x; toán có lời văn… Phải cho học sinh làm đi làm lại
7


nhiều lần một dạng bài tập để các em thành thạo. Việc củng cố kiến thức đã học thực
hiện đồng thời với việc dạy kiến thức mới của lớp 4. Căn cứ vào yêu cầu chuẩn kiến
thức kĩ năng của từng bài, giáo viên giúp học sinh yếu tiếp thu những kiến thức và
làm bài tập vừa sức với các em.
+ Cuối tuần kiểm tra 1 lần, cuối mỗi tháng, mỗi kỳ có bài kiểm tra theo dõi kết
quả học tập của các em. Lập sổ theo dõi quá trình phụ đạo, nâng bậc học sinh yếu
(suốt cả năm học).
+ Kết hợp chặt chẽ với gia đình và nhà trường. Có sổ liên lạc giữa giáo viên
chủ nhiệm và phụ huynh học sinh, thường xuyên đến thăm và động viên gia đình học
sinh.
+ Thời gian phụ đạo chủ yếu vào các buổi chiều trong tuần( thứ 3 và thứ 5),
lồng ghép vào chương trình chính khoá và với một số tiết hoạt động tập thể hay giờ
giải lao( trong đó tổ chức các trò chơi có nội dung toán học).
+ Kế hoạch bồi dưỡng phải có chỉ tiêu phấn đấu cụ thể là: cuối học kì I không
còn tình trạng học sinh bị hổng kiến thức đã học. Học kì II, các em học đến đâu phải
đạt yêu cầu đến đó (theo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình toán lớp
4). Đến cuối năm học, không còn học sinh nào học yếu môn toán.
Giải pháp 3 : Hướng dẫn giáo viên thực hiện kế hoạch:
Phụ đạo học sinh học yếu nói chung và học sinh học yếu môn toán nói riêng là
việc làm khó, đòi hỏi người giáo viên phải có lòng nhiệt tình và kiên trì, yêu thương

số nhân với mười để các em dựa vào đó tìm kết quả phép tính nhân, chia trong bảng
khi chưa thuộc lòng: Ví dụ bảng nhân 3, hỏi phép nhân, phép chia bất bất kì 3 × 6 = ?
(học sinh vận dụng kết quả phép nhân 3 × 5 = 15 suy ra kết quả 3 × 6 = 15 + 3 = 18);
3 × 9 = ?... (suy từ 3 × 10=30 ra 3 × 9 = 30- 3 =27). Từ đó giúp các em học thuộc lòng.
Đồng thời củng cố vận dụng bảng nhân chia, bảng chia bằng cách giao cho các em
thực hiện những phép tính đơn giản không có nhớ như: 24 × 2; 123 × 3; 84 : 2;
124: 4 ...
Đến tuần sau, vào các buổi chiều phụ đạo HS yếu, kém tôi hướng dẫn giáo viên
thay đổi hình thức kiểm tra, khác với các tuần trước.
Giáo viên ghi sẵn nội dung kiểm tra lên 2 tấm bìa và gắn lên bảng:
5 × 6 = ...

35 : 7= ....

4× 5=…

25 : 5 = ….

7 × 8 = ....

48 : 6 = …

3× 9=…

36 : 6 = …..

4 × 9 = ....

64 : 8 = …


9


vui về toán học, những câu đố đơn giản đố các em về phép nhân hay phép chia. Các
em đã thi nhau trả lời và như vậy đã giúp các em dễ nhớ được bảng nhân, bảng chia
đã học ở lớp 2,3.
2. Củng cố kỹ năng giải toán.
Kết hợp củng kĩ năng tính toán với củng cố rèn luyện kĩ năng giải toán có lời
văn sẽ giúp các em giải toán đúng tránh nhầm lẫn khi tính toán. Bởi vì có những em
nhiều khi cách giải đúng nhưng tính toán sai hoặc biết tính toán nhưng cách giải sai
dẫn đến bài toán giải sai. Vì vậy sau khi các em làm thành thạo 4 phép tính cộng, trừ,
nhân, chia thì chú ý đến việc giải toán có lời văn. Bởi chúng ta biết rằng đa số các em
yếu, kém về môn Toán thường gặp khó khăn trong việc giải Toán có lời văn. Tôi đã
hướng dẫn giáo viên lựa chọn cách dạy phù hợp để học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu nội
dung bài học, nhớ kĩ được từng dạng bài toán.
Tôi đã định hướng cho giáo viên củng cố cho học sinh cách giải các dạng toán
điển hình của lớp 3 kết hợp với củng cố kỹ năng tính toán với bốn phép tính cộng,
trừ, nhân, chia. Vì học sinh yếu có đặc điểm là rất ngại, thậm chí sợ làm toán có lời
văn vì khả năng tư duy “phân tích, tổng hợp của các em còn nhiều hạn chế” nên chưa
có khả năng phán đoán suy luận. Do đó, khi làm toán có lời văn các em giải chưa
đúng, tính toán còn sai. Có em giải “bừa” cho xong. Vì vậy tôi hướng dẫn giáo viên
khi củng cố kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh yếu thì chỉ cần ra với dạng cơ
bản nhất, đơn giản nhất mang tính chất vận dụng củng cố lý thuyết mà thôi. Không
nên ra những bài lắt léo hay những bài phải qua bước trung gian mới về dạng cơ bản.
Đến khi học sinh lấp được những chỗ hổng kiến thức đã học thì mới nâng dần mức độ
lên.
* Một số dạng toán điển hình lớp 3 cần phải ôn tập củng cố là:
- Dạng bài gấp một số lên nhiều lần.
Ví dụ: Thủy có 35 que tính. Hà có số que tính gấp 3 lần Thủy. Hỏi hai bạn có
bao nhiêu que tính?

sinh thể hiện khả năng giải toán của mình là cần thiết. Vì vậy giáo viên cần phải
hướng dẫn học sinh đọc, tìm hiểu kĩ đề bài toán, Tóm tắt đề bài toán, nhìn vào tóm tắt
đọc lại đề bài toán. Đặt những câu hỏi gợi mở dẫn dắt học sinh từng bước tìm cách
giải và chọn cách giải hợp lý nhất, ngắn gọn nhất, lời giải rõ ràng chính xác, đúng nội
dung bài toán yêu cầu tìm gì. Đồng thời chú ý hướng dẫn các em khi thực hiện tìm kết
quả của phép tính cần làm ra nháp cẩn thận, kiểm tra kết quả rồi mới viết vào bài làm.
Từ đó tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy.
3. Quan tâm động viên kịp thời học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
Với những đặc điểm của học sinh yếu, kém nói chung và môn toán nói riêng,
tôi đã khẳng định rằng học sinh yếu, kém môn Toán cần được quan tâm, hỗ trợ dạy
học một cách tích cực. Còn với học sinh học yếu nguyên nhân do điều kiện hoàn cảnh
gia đình tôi chỉ đạo giáo viên phải có sự quan tâm đặc biệt. Ngoài việc tích cực hỗ trợ
cho các em lấp lỗ hổng kiến thức đồng thời phải có sự quan tâm đặc biệt về tình cảm
và vật chất.
Vì vậy tôi chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thường xuyên đến thăm một số gia đình
học sinh yếu trong khối 4 như gia đình em Huyền Thương lớp 4B, gia đình em Đình
Hiếu lớp 4C ... và một số gia đình học sinh khó khăn khác. Cảm thông được nỗi vất
vả của các em, tôi đề nghị Ban giám hiệu nhà trường hỗ trợ cho các em quần áo, sách
vở, kết hợp cùng với Đội Thiếu niên nhà trường, tôi đã cùng các cô giáo chủ nhiệm
trao quà cho các em trong dịp Tết Nguyên Đán. Nhận được sự quan tâm, động viên
kịp thời của nhà trường cũng như cô giáo chủ nhiệm, gia đình các em đã hiểu và tạo
11


điều kiện cho các em đi học đầy đủ. Tôi còn hướng dẫn giáo viên chủ nhiệm, khi ở
trường, trong giờ học, giờ ra chơi, thường xuyên gần gũi, tâm sự với em, kể cho em
nghe một số tấm gương biết vượt khó trong học tập, giúp em khỏi mặc cảm với số
phận và cố gắng vươn lên trong học tập.
Giải pháp 4: Tổ chức cho giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình
thức tổ chức dạy học tích cực.

12


lại bảng nhân 6 cho thuộc. Tức là phát hiện học sinh hổng kiến thức ở đâu thì giáo
vên phải linh hoạt điều chỉnh nội dung dạy để ôn tập, bổ sung ở đó.
- Trong các buổi dạy phụ đạo, nội dung chủ yếu là kiểm tra việc lĩnh hội các
kiến thức giảng dạy trên lớp hoặc ôn tập, củng cố kiến thức để các em nắm chắc hơn.
Tôi hướng dẫn giáo viên, trong mỗi tiết dạy, xác định rõ mục tiêu của từng bài, từng
hoạt động của học sinh dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên.
- Khi hướng dẫn học sinh học tập ở nhà, Giáo viên cần giao việc phù hợp với
từng đối tượng học sinh. Cụ thể là: Bài tập dành cho học sinh cả lớp; Bài tập cho học
sinh khá giỏi; Riêng đối với học sinh yếu, kém về môn Toán giáo viên không nên
giao nhiều bài tập về nhà, chỉ cần 1 đến 2 bài thôi. Em nào yếu quá giáo viên phải ghi
bài tập vào phiếu và kèm theo một vài câu hỏi để học sinh có thể tự kiểm tra hay chỉ
rõ ý chính cần đi sâu, nhớ kỹ để hiểu rõ “cái đã cho, cái phải đi tìm”. Bài tập về nhà
do các em làm, yêu cầu phụ huynh kí vào phía dưới để có sự giám sát, đốc thúc kịp
thời của gia đình. Đến lớp, giáo viên kiểm tra cụ thể các sai lầm mắc phải của học
sinh để phân tích và sửa chữa.
2. Gây hứng thú học tập cho học sinh.
Bởi vì học sinh yếu vốn ngại học, ngại bày tỏ ý kiến nên để cuốn hút các em
tích cực tham gia các hoạt động học tập thì giáo viên phải có những hình thức tổ chức
các hoạt động học tập gây được hứng thú cho tất cả học sinh tham gia, kể cả học sinh
yếu.
Để gây hứng thú cho các em học tập, trong dạy học toán giáo viên có thể thực
hiện như sau: Trong các tiết học vận dung các hình thức dạy tích cực như: Tổ chức
hoạt động nhóm (hoặc tổ chức làm bài theo hình thức tiếp sức) có thi đua giữa các
nhóm, tất cả các thành viên trong nhóm đều được giao phần việc làm vừa sức phù hợp
với năng lực từng em, các nhóm học tập linh hoạt thay đổi như nhóm nhỏ, nhóm lớn,
nhóm cùng trình độ, nhóm ngẫu nhiên... Giáo viên phải tạo cơ hội cho tất cả các em
được phát biểu, đặc biệt quan tâm đến học sinh yếu. Động viên khuyến khích kịp thời

gia đình khó khăn có tiến bộ rõ rệt, đã cố gắng vươn lên trong học tập. Đặc biệt tất cả
các em đã tích cực, hứng thú học Toán và tiếp thu bài mới lớp 4 đạt yêu cầu.
Giải pháp 5: Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học sinh.
Tôi chỉ đạo giáo viên phải tuyên truyền, nâng cao nhận thức của phụ huynh về
trách nhiệm lớn lao của phụ huynh và gia đình trong việc góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục. Tôi yêu cầu giáo viên phải trao đổi với phụ huynh để tìm ra biện pháp
tốt nhất phù hợp với điều kiện và tính cách từng em giúp các em vươn lên trong học
tập. Giáo viên phải hướng dẫn phụ huynh biết kiểm tra việc học tập của con mình.
Phải thường xuyên giữ liên lạc với phụ huynh. Thường xuyên liên lạc thông báo kết
quả học tập của các em qua sổ liên lạc cho phụ huynh và đề nghị phụ huynh theo dõi
và kiểm tra bài vở của con em mình, giúp đỡ các em trong quá trình học tập ở nhà ,
quản lý thời gian biểu của con em, ghi đầy đủ lời nhận xét vào sổ (đảm bảo thông tin
2 chiều). Tổ chức cho giáo viên gặp mặt phụ huynh học sinh thường xuyên. Khi thấy
học sinh chưa tiến bộ cần chủ động gặp phụ huynh để trao đổi về việc học tập của học
sinh tiếp tục cùng với phụ huynh điều chỉnh biện pháp phù hợp và có hiệu quả hơn.
Thấy được sự lo lắng của giáo viên nên phụ huynh đã thường xuyên kiểm tra việc học
bài, làm bài của con em mình, đôn đốc các em đi học chuyên cần. Vì vậy, Học sinh
lớp 4 của nhà trường đã tiến bộ lên rất nhiều.
Giải pháp 6: Đổi mới nội dung sinh hoạt chuyên môn.

14


Sinh hoạt chuyên môn ở trường Tiểu học là một hoạt động nhằm bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho giáo viên. Sinh hoạt chuyên môn góp
phần tháo gỡ những khó khăn trong quá trình giảng dạy và thực hiện nhiệm vụ năm
học. Sinh hoạt chuyên môn còn góp phần bồi dưỡng giáo viên theo Chuẩn nghề
nghiệp giáo viên Tiểu học.
Với tầm quan trọng của việc sinh hoạt chuyên môn như vậy, ở trường chúng tôi
đã xây dựng nội dung sinh hoạt chuyên môn chủ yếu xoay quanh việc “Làm thế nào

15


Toán trong toàn trường phù hợp với đối tượng học sinh yếu và điều kiện thực tế của
lớp mình.
Sau khi vận dụng vào thực tế dạy học “Các giải pháp cải tiến khắc phục tình
trạng học sinh học yếu, kém môn Toán” của toàn trường nói chung và đặc biệt ở khối
4 nói riêng, tôi thấy kết quả đạt được đáng mừng, các em học sinh yếu có nhiều
chuyển biến rõ rệt. Tỉ lệ học sinh yếu giảm hẳn, tỉ lệ học sinh trung bình, khá giỏi
tăng cao.
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Khi áp dụng các giải pháp trên, tôi thấy các em học sinh ở lớp 4 đã tiến bộ rõ
rệt, chất lượng học tập ngày càng được nâng lên, tỉ lệ học sinh yếu giảm.
*) Kết quả kiểm tra định kì cuối học kì I về môn Toán ở khối lớp 4:
Tổng
số HS
79

Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5- 6

Điểm dưới 5

SL

TL


đã xây dựng chất lượng học tập môn toán được nâng lên rõ rệt. Tất cả học sinh yếu,
kém môn toán ở đầu năm học của học sinh khối 4 đã lên loại trung bình có em đã đạt
điểm khá. Không phát sinh thêm học sinh nào yếu, kém về môn toán. Số lượng học
sinh yêu thích môn toán ngày càng tăng.
Đồng thời, khi vận dụng các giải pháp trên cho toàn trường thực hiện, đến hết
học kì I chất lượng nâng bậc học sinh yếu, kém về môn toán của trường chúng tôi đã
chuyển biến rõ rệt. Toàn trường quyết tâm phấn đấu đến cuối năm học không còn học
sinh nào còn yếu, kém về môn toán.

16


PHẦN III: KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm
Qua việc phụ đạo học sinh yếu, kém về môn Toán, tôi rút ra một số kinh
nghiệm sau:
Muốn khắc phục và giảm thiểu số học sinh yếu, kém để nâng cao chất lượng
giáo dục và chất lượng dạy - học ngày một đi lên và có những biện pháp dạy và học
đáp ứng được với sự phát triển của đất nước, thì đòi hỏi sự vào cuộc thật sự của các
nhà quản lí giáo dục, giáo viên, học sinh và tất cả các lực lượng xã hội có liên quan
đặc biệt là vai trò của người giáo viên. Đó là:
1. Người giáo viên phải thực sự yêu nghề mến trẻ, tận tâm, tận lực để giáo dục và phụ
đạo các em với tất cả tâm huyết của mình.
17


2. Giáo viên phải kịp thời phát hiện ra những học sinh yếu, kém thông qua các hoạt
động học tập cũng như việc làm bài tập hàng ngày của học sinh và làm các bài kiểm
tra định kì.
3 . Tìm ra nguyên nhân cùng với những biểu hiện của học sinh yếu kém về môn



Phải xác định công tác phụ đạo, giúp đỡ học sinh yếu kém là một nhiệm vụ
quan trọng của nhà trường. Phải xây dựng kế hoạch chung về công tác phụ đạo học
sinh yếu kém và chỉ đạo kịp thời cho giáo viên thực hiện. Tổ chức chuyên đề “khắc
phục học sinh yếu” để xây dựng biện pháp thực hiện có hiệu quả. Thường xuyên kiểm
tra, đồng thời điều chỉnh kịp thời những tồn tại trong công tác phụ đạo học sinh yếu
của giáo viên. Có biện pháp hỗ trợ vật chất cho giáo viên, cho học sinh học yếu có
hoàn cảnh khó khăn. Cuối năm học có đánh giá và khen thưởng cho những giáo viên
làm tốt công tác phụ đạo học sinh yếu.
Trên đây là một số giải pháp khắc phục và ngăn ngừa tình trạng học sinh yếu, kém về
môn toán lớp 4 trong việc dạy phụ đạo học sinh yếu, kém về môn Toán. Trong quá
trình chỉ đạo chuyên môn và dạy học, tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và tìm ra những giải
pháp hữu hiệu hơn nữa để vận dụng vào dạy và phụ đạo học sinh yếu, kém. Nhằm
đem lại hiệu quả cao nhất trong dạy học.
Do khả năng nghiên cứu của bản thân còn hạn chế, với thời gian có hạn do đó
không tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến trao đổi, đóng góp
bổ sung của đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Vinh, ngày 15 tháng 4 năm 2012

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status