Kinh nghiệm giáo dục trẻ chậm phát triển ngôn ngữ học hòa nhập tại lớp nhà trẻ d2 trường mầm non a xã tứ hiệp” - Pdf 32

Sáng kiến kinh nghiệm

Nguyễn Thị Thúy

MỞ ĐẦU
Ngôn ngữ là phương tiện là sản phẩm độc quyền của con người, nó gắn bó
mật thiết với lịch sử loài người. Nó chỉ được hình thành, tồn tại và phát triển
trong xã hội loài người, do ý muốn và nhu cầu của con người. “Ngôn ngữ là
phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” (V.L. Lênin). Nhờ có ngôn
ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng nhau hành động vì những mục
đích chung: Lao động, đấu tranh và phát triển xã hội.
Không có ngôn ngữ không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại
được, nhất là đứa trẻ, một sinh thể yếu ớt rất cần đến sự chăm sóc, bảo vệ của
người lớn. Ngôn ngữ làm cho đứa trẻ trở thành một thành viên của xã hội loài
người. Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng
của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục
trẻ. Trường học mầm non, là trường học đầu tiên đới với trẻ, ở đây có điều kiện,
có cơ hội lớn hơn để giáo dục ngôn ngữ cho trẻ hình thành và phát triển nhận
thức của trẻ về thế giới xung quanh; là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức,
thẩm mĩ; là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành viên của
cộng đồng. Như vậy, ngôn ngữ có vai trò rất lớn, là phương tiện quan trọng nhất
để trẻ lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để
tư duy, tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn, giúp hình thành và phát triển nhân
cách của trẻ. Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng
nhất, cần thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và được quan tâm nhất.
Thực tế trong xã hội hiện nay, nhiều phụ huynh rất quan tâm đến việc phát
triển ngôn ngữ cho trẻ ngay từ bé. Họ đã nghiên cứu sách báo, tài liệu trên mạng
internet…để nuôi dạy con một cách khoa học. Tuy nhiên bên cạnh đó, một bộ
phận không nhỏ phụ huynh bị cuốn theo công việc. Mọi sinh hoạt của trẻ đều
giao hết cho người giúp việc. Nhiều trẻ lớn lên trong không gian giao tiếp chật
trội. Sinh hoạt hằng ngày chủ yếu là ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân, chơi một mình và

trẻ chậm phát triển ngôn ngữ học hòa nhập tại lớp nhà trẻ 24 - 36 tháng, D2
trường Mầm non A Tứ Hiệp.
* Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp giáo dục trẻ 24 - 36 tháng chậm phát
triển ngôn ngữ học hòa nhập.
* Phạm vi nghiên cứu: Trẻ 24 - 36 tháng tuổi, lớp nhà trẻ D2, trường Mầm non
A Tứ Hiệp, năm học 2013 - 2014.

Trường Mầm non A Tứ Hiệp

Trang 2


Sáng kiến kinh nghiệm

Nguyễn Thị Thúy

NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ đặc biệt là
trẻ 24- 36 tháng. Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của
trẻ về thế giới xung quanh. Đối với trẻ 24- 36 tháng, sử dụng ngôn ngữ giúp trẻ
tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh. Thông qua các từ
ngữ và các câu nói của người lớn; trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng trong
môi trường xung quanh; trẻ hiểu những đặc điểm, tính chất, công dụng của các
sự vật cùng với các từ tương ứng với nó. Từ và hình ảnh trực quan của các sự vật
cùng đi vào nhận thức của trẻ. Nhờ có ngôn ngữ, trẻ nhận biết ngày càng nhiều
các sự vật, hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày giúp trẻ
hình thành, phát triển phong phú các biểu tượng về thế giới xung quanh.
Ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ hình thành và phát triển tư duy: Đối với
trẻ 24 - 36 tháng trẻ sử dụng ngôn ngữ không chỉ tìm hiểu những hiện tượng, sự

hiểu ngôn ngữ bằng những bạn cùng tuổi khác, không đặt được câu hỏi, không
Trường Mầm non A Tứ Hiệp

Trang 3


Sáng kiến kinh nghiệm

Nguyễn Thị Thúy

biết hoặc không làm theo những chỉ dẫn đơn giản, không kể tên được những sự
vật thông thường, không nói được những từ ngắn. Việc trẻ chậm phát triển ngôn
ngữ sẽ gây lên nhiều ảnh hường: Trẻ kém tự tin trong giao tiếp, khó biết cách bộc
lộ những suy nghĩ, cảm xúc của mình có thể dẫn đễn những bực tức về tâm lý và
có thể gây nên những thất bại trong trường học.
Ngôn ngữ rất quan trọng đối với trẻ, vì một lý do nào đó mà trẻ chậm phát
triển ngôn ngữ thì quả là rất thiệt thòi cho trẻ. Vậy nên việc phát triển ngôn ngữ
cho các cháu chậm phát triển ngôn ngữ là một việc làm vô cùng quan trọng, cần
thiết và được tiến hành càng sớm càng tốt.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1. Mô tả thực trạng
- Trường mầm non A xã Tứ Hiệp là một ngôi trường có bề dày thành tích
về mọi mặt trong nhiều năm qua. Trường đã đạt Trường chuẩn quốc gia mức độ
I, 4 năm liên tục đạt “Tập thể lao động xuất sắc” cấp Thành phố, năm 2013 được
nhận bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ. Với quy mô toàn trường có 3 khu:
Văn Điển, Cương Ngô I, Cương Ngô II. Các khu ở vị trí trung tâm khu dân cư và
gần nhau rất thuận lợi cho việc chăm sóc giáo dục trẻ, thuận tiện cho phụ huynh
đưa con đến trường.
- Năm học 2013 - 2014 tôi được Ban giám hiệu phân công dạy lớp nhà trẻ
D2 (24 - 36 tháng) ở khu Cương Ngô 2, tổng số giáo viên trong lớp là 4 cô/35


Nguyễn Thị Thúy

- Do trẻ chậm phát triển ngôn nhữ nên trẻ gặp nhiều khó khăn khi tham gia
các hoạt động và hòa nhập với các bạn cùng lứa với mình.
- Đa số phụ huynh buôn bán tự do vì công việc chiếm nhiều thời gian nên
nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với trẻ còn hạn
chế. Một số phụ huynh do bận rộn công việc kiếm sống nên chưa thực sự quan
tâm đến việc dạy dỗ con cái mà giao phó hoàn toàn cho cô giáo ở trường. Một số
cháu được gia đình nuông chiều, muốn gì đòi bằng được; một số cháu hay khóc
hay hờn hay ăn vạ hoặc cào cấu các bạn khi không đồng ý một điều gì đó.
- Năm nay tôi mới dạy lớp có trẻ chậm phát triển ngôn ngữ nên việc lập kế
hoạch chăm sóc giáo dục trẻ còn gặp nhiều khó khăn.
- Giáo viên cùng lớp rất quan tâm đến việc chăm sóc trẻ nhưng chưa thực sự
quan tâm đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Xuất phát từ những cơ sở thực trạng và những điều kiện khó khăn, thuận lợi
trên, tôi đã áp dụng thực hiện hệ thống các biện pháp sau để giáo dục trẻ 24- 36
tháng chậm phát triển ngôn ngữ tiến bộ.
III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.
1. Biện pháp 1: Khảo sát trẻ đầu năm.
Đối với trẻ 24 - 36 tháng việc giáo viên nắm bắt khả năng ngôn ngữ của
trẻ ngay từ đầu năm học là vô cùng quan trọng. Qua đó giáo viên hiểu trẻ hơn,
từ đó xây dựng kế hoạch và áp dụng những phương pháp phù hợp với trẻ giúp
trẻ phát triển tốt ngôn ngữ của mình. Vì vậy việc khảo sát trẻ đầu năm học là vô
cùng cần thiết.
Ngay từ đầu năm chúng tôi đã chia số lượng trẻ ra làm 4 nhóm theo 4 cô
trong lớp, theo dõi, đánh giá nhóm trẻ của mình. Chúng tôi đã căn cứ vào chỉ số
đánh giá phát triển trẻ 24 - 36 tháng tuổi để khảo sát và đánh giá trẻ.
Các chỉ số đánh giá sự phát triển của trẻ 24 tháng tuổi như sau:
Chỉ số 1: Cân nặng bình thường của trẻ trai: 9,7- 15,3kg; trẻ gái: 9,1- 14,8 kg.

35/35
Tỷ lệ: (%)
Chỉ số
Tổng số
Số trẻ được
đánh giá:
35/35
Tỷ lệ: (%)

Nguyễn Thị Thúy

Kết quả khảo sát trẻ đầu năm:
1
2
3
Đ
CĐ Đ

Đ


Đ



35

0

35


Đ



30

5

100

0

Đ

7
Đ



Đ



30

5

32





9
Đ

4

Đ

11

12



Đ



Đ



30

5

34


năng ngôn ngữ của trẻ tại lớp, tôi đã lựa chọn các nội dung và xây dựng được kế
hoạch giáo dục trẻ chậm phát triển ngôn ngữ theo chủ đề như sau:

Trường Mầm non A Tứ Hiệp

Trang 6


Sáng kiến kinh nghiệm

Nguyễn Thị Thúy

KẾ HOẠCH GIÁO DỤC TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ HỌC HÒA NHẬP
TẠI LỚP NHÀ TRẺ 24- 36 THÁNG TUỔI - D2
TRƯỜNG MẦM NON A XÃ TỨ HIỆP, NĂM HỌC 2013 - 2014

TT
1

2

Nội dung dạy trẻ
phát triển ngôn ngữ
- Dạy trẻ gọi tên một số
đồ chơi, bánh đặc trưng
của ngày Tết Trung
Thu.
- Dạy trẻ biết gọi tên
một số bộ phận đặc
điểm trên khuôn mặt

khăn.
- Dạy trẻ gọi tên đồ chơi
quen thuộc: Búp bê, bập
bênh.
- Dạy trẻ gọi tên cô nhân
viên y tế: Nhung; công
việc của cô: Cân, đo.
- Dạy trẻ gọi tên bác cấp
dưỡng: Lan, Huyên; công
việc của bác: Nấu ăn.

Chủ đề
Bé và các bạn

- Dạy trẻ gọi tên đồ
chơi của bé.
3

4

Các bác các cô
trong nhà trẻ

Mẹ và những
người thân yêu
của bé

Trường Mầm non A Tứ Hiệp

- Dạy trẻ gọi tên cô

Sáng kiến kinh nghiệm

5
Những con vật
đáng yêu

6

Chúc mừng năm
mới

7

Cây và những
bông hoa đẹp

8

Bé đi khắp nơi
bằng phương tiện
gì?

Trường Mầm non A Tứ Hiệp

Nguyễn Thị Thúy

- Dạy trẻ gọi tên một số con tôm.
đồ dùng sinh hoạt trong
gia đình bé.
- Dạy trẻ gọi tên: Con voi,

chuối.
- Dạy trẻ gọi tên một số - Dạy trẻ gọi tên một số
loại rau ăn quả.
loại rau ăn quả: Cà chua,
mướp.
- Dạy trẻ gọi tên một số - Dạy trẻ gọi tên một số
loại ra ăn lá.
loại rau ăn lá: Rau cải, rau
muống.
- Dạy trẻ gọi tên một số - Dạy trẻ gọi tên một số
loại cây xanh.
loại cây xanh: Cây sấu,
cây phượng.
- Dạy trẻ gọi tên một số
phương tiện giao thông
đường bộ.
- Dạy trẻ gọi tên một số
phương tiện giao thông
đường không, đường
sắt.

- Dạy trẻ gọi tên một số
phương tiện giao thông:
Xe đạp, ô tô.
- Dạy trẻ gọi tên một số
phương tiện: Máy bay, tàu
hỏa.

Trang 8



- Dạy trẻ gọi tên: Bánh ga
tô, kẹo.

3. Biện pháp 3: Sưu tầm các hoạt động tổ chức chuyên biệt cho trẻ chậm
phát triển ngôn ngữ.
Việc sưu tầm các hoạt động chuyên biệt cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ
là việc làm vô cùng quan trọng. Nội dung này còn mới vì thế giáo viên còn khó
khăn trong việc tổ chức các hoạt động chuyên biệt cho trẻ chậm phát triển ngôn
ngữ. Kinh nghiệm bản thân còn hạn chế, thời gian nghiên cứu còn bị chi phối bởi
các hoạt động khác trên lớp, chính vì vậy tôi đã tranh thủ các buổi trưa để sưu
tầm các cuốn tài liệu trên báo, trong sách cũng như trên mạng internet như:
“Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em; Tâm lý học trẻ em; Giáo trình
đọc, kể chuyện diễn cảm cho bé” ngoài ra tôi còn nghiên cứu rất nhiều các trang
mạng nói về việc trẻ chậm phát triển ngôn ngữ.
Kết quả: Qua quá trình ham khảo tôi đã lựa chọn một số hoạt động giáo
dục chuyên biệt theo từng chủ đề cho trẻ chậm phát triển ngôn ngữ như sau:
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ

1. Chủ đề: Bé và các bạn
1. 1. Gọi tên các bộ phận cơ thể
* Mục đích:
- Giúp trẻ chỉ ra được các bộ phận trên cơ thể khi nhìn tranh
* Chuẩn bị:
- Màu sáp, giấy trắng A0
* Tiến hành:
Để trẻ nằm xuống tờ giấy A0 đặt trên sàn nhà, sau đó tô hình trẻ. Gọi tên
các bộ phận trên cơ thể mà bạn vừa tô được. Khi hình đã vẽ xong, cho trẻ đứng
dậy và cô vẽ thêm mắt, mũi, mồm, tai và viết tên trẻ lên hình vẽ, treo hình vẽ lên
để trẻ có thể nhìn và chạm vào nó. Chỉ cho trẻ thấy những bộ phận khác nhau

- Chụp một vài kiểu ảnh các bé lúc đang tô màu hoặc đang nặn, làm thành
một album ảnh
* Tiến hành:
Cho bé xem các bức ảnh và hỏi bé ai ở trong ảnh và đang làm gì
+Bạn Minh đang tô màu, bạn ấy đang cầm cái gì để tô đấy?
+ Bạn Châu đang làm gì với đất nặn đấy các con ?
1. 4. Kể về bản thân
* Mục đích:
- Tập cho trẻ kể về bản thân
* Tiến hành:
Kể cho một trẻ nghe về những gì xảy ra trong một ngày của trẻ. Trong
khi kể, hỏi trẻ những câu hỏi nhằm để cho trẻ tham gia cùng kể.
Có một bé gái tên là Ngọc Oanh. Ồ đó có phải là tên của con phải
không? Một buổi sáng, Ngọc Oanh ngủ dậy, các con nghĩ xem sau đó bạn
Ngọc Oanh làm gì nhỉ? Ăn sáng? Đúng rồi. Bạn Oanh ăn sáng và được bố mẹ
đưa tới lớp đấy.
* Kết quả: Với chủ đề này của đầu năm học thì 5/5 trẻ chậm ngôn ngữ lớp tôi
đã biết về giới tính của mình và nói được từ trai, gái, nói được màu đỏ khi cầm
bút màu.
2. Chủ đề: Đồ dùng đồ chơi ở lớp bé
2. 1. Đồ vật gì ? để làm gì?
* Mục đích:
- Giúp trẻ chỉ đúng đồ vật khi người lớn nói về công dụng của nó.
* Chuẩn bị:
- Một bộ các bức tranh về các đồ vật quen thuộc với trẻ như: ghế, đồ chơi,
cái bát, cái thìa….
* Tiến hành:
Trường Mầm non A Tứ Hiệp

Trang 10

Chọn một đồ vật mà trẻ gặp hàng ngày, giơ nó lên để trẻ nhìn thấy. Hỏi
trẻ xem đó là cái gì. Sau đó xem trẻ có thể nói gì về đồ vật đó. Chú ý bổ sung
vào lời nói của trẻ để câu nói được rõ nghĩa và đầy đủ hơn.
Đây là một vật mà các con dùng để ăn đấy. Đó là cái gì? ( cái bát)
Con hãy lấy cái bát con các bạn xem nà
2. 4. Sử dụng từ đúng
* Mục đích:
- Giúp trẻ biết sử dụng những từ ngữ để chỉ những đồ vật quen thuộc.
* Tiến hành:
Nếu trẻ không biết sử dụng những từ đúng để thể hiện những điều mà trẻ
cần nói, hãy cố gắng làm cho trẻ biết cách thể hiện một cách rõ ràng, chính xác
ý định nói.
Con muốn uống sữa phải không? Không
Con có muốn ăn bánh không? Có
Con hãy nói: “Cô ơi cho con ăn bánh”.
Tốt lắm!
Điếu quan trọng cần phải sử dụng từ chính xác để trẻ có thể nghe và nhận biết
được.
* Kết quả: Qua chủ đề này trẻ đã biết tên và vị trí đồ vật của lớp mình và biết
cách sử dụng với chúng, biết thể hiện nhu cầu của mình, cháu Duy, Oanh đã
nới được câu có 3 từ.
Trường Mầm non A Tứ Hiệp

Trang 11


Sáng kiến kinh nghiệm

Nguyễn Thị Thúy


* Chuẩn bị:
- Tranh hình các con vật quen thuộc với trẻ: Chó, mèo, lơn, gà...
* Tiến hành:
Cho trẻ xem nững bức tranh lớn có hình các con vật. Nói chuyện với trẻ
về những con vật đó. Xem liệu trẻ ó thể bắt chước được tiếng kêu của những
con vật đó hay không. Có thể nói với trẻ về nơi sống của con vật, thức ăn và
màu lông của chúng và nói về những điều xung quanh các con vật đó mà trẻ tỏ
ra hứng thú hơn cả. Đặt những câu hỏi đơn giản để kiểm tra xem trẻ nhận biêt
được đến đâu.
Đây là con gì? Đúng rồi đó là con chó.
Con chó kêu như thế nào? Nó đang làm gì? Đây là con chó to hay con
chó nhỏ?
4. 2. Chọn con vật giống tranh.
* Mục đích:
- Chọn được những bức tranh tương ứng với những đồ vật.
Trường Mầm non A Tứ Hiệp

Trang 12


Sáng kiến kinh nghiệm

Nguyễn Thị Thúy

* Chuẩn bị:
- Khoảng 5- 6 con vật đò chơi và những bức tranh về con vật đó. Cho
chúng vào một cái hộp.
* Tiến hành:
Cho trẻ thấy cô dặt bức tranh lên bàn hoặc ra sàn nhà. Sau đó hướng dẫn
trẻ cách lựa chọn những con vật đò chơi vào những bức tranh của con vật đó.

5. 2. Các bức tranh quần áo
* Mục đích:
- Giúp trẻ nhận biết khi nào nên mặc những loại quần áo nào.
* Chuẩn bị:
- Chọn các bức tranh quần áo của trẻ như váy, áo khoác, tất quần, quần
cộc, quần dài, yếm…
* Tiến hành:
Cho trẻ cùng xem tranh với cô. Giúp trẻ biết gọi tên các loại quần áo mà
trẻ đang xem. Hướng dẫn trẻ cách chọn loại quần áo nào mặc trong hoạt động
Trường Mầm non A Tứ Hiệp

Trang 13


Sáng kiến kinh nghiệm

Nguyễn Thị Thúy

nào, hay thời tiết nào mà cô đang nói tới. Nhớ cho lần lượt các trẻ được xem
tranh.
Hãy xem 2 bức tranh này. Các bạn nhỏ đang mặc gì?
Đúng rồi, bạn trai mặc áo khoác. Bạn gái mặc váy
Chúng ta thường mặc gì khi ăn cơm? (Mặc yếm)
5. 3. Hôm nay, chúng ta mặc gì?
* Mục đích:
- Giúp trẻ biết nên mặc quần áo cho thích hợp với điều kiện thời tiết.
* Tiến hành:
Chú ý đến những thứ quần áo mà trẻ mặc thường ngày. Nói chuyện với
trẻ về tên gọi của các loại quần áo đó và tai sao trẻ lại phải mặc nó. Nói chuyện
với trẻ về các loại quần áo khác và cô biết trẻ đang mặc và chú ý xem liệu trẻ

gây hứng thú cho trẻ. Bên canh đó tôi cũng chuẩn bị một hệ thống các câu hỏi
rõ ràng, ngắn gọn. Trong khi trẻ trả lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ.
Trường Mầm non A Tứ Hiệp

Trang 14


Sáng kiến kinh nghiệm

Nguyễn Thị Thúy

Ví dụ: Trong hoạt động nhận biết “ quả dứa – quả cam”, cô muốn cung cấp từ
“mắt dứa” cho trẻ, cô phải chuẩn bị đầy đủ quả thật để trẻ có thể: sờ, ngửi,
nếm… Để giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát, cô đưa ra hệ
thống câu hỏi phù hợp với trẻ:
+ Đây là quả gì?
+ Quả dứa có màu gì?
+ Vỏ dứa như thế nào?
Như vậy nhờ có sự giao tiếp của cô và trẻ đã giúp trẻ phát huy được tính tích
cực của trẻ, qua đó mở rộng vốn hiểu biết, làm giàu vốn từ cho trẻ.
* Hoạt động “Làm quen văn học”:
Khi cho trẻ làm quen với văn học chính là sự phát triển ngôn ngữ nói cho
trẻ và còn hình thành ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc. Khi tiếp xúc với bài thơ, câu
chuyện là trẻ đã được tri giác các bức tranh có hình ảnh và từ ngữ mới tương
ứng với nội dung bức tranh.
Ví dụ 1: Tôi kể cho trẻ nghe câu chuyện “Thỏ ngoan”, tôi chuẩn bị một số hệ
thống câu hỏi giúp trẻ nhớ được nội dung câu truyện và từ vừa học. Cô kể 1 – 2
lần giúp trẻ hiểu nội dung truyện và đặt hệ thống các câu hỏi hướng vào hành
động của nhân vật để trẻ hiểu được việc bào nên làm và không nên làm.
Ví dụ 2: Dạy trẻ đọc thơ “Cây bắp cải”.


Nguyễn Thị Thúy

I. MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU:

1.Yêu cầu chung :
- Kiến thức:
+ Trẻ biết tên câu chuyện, tên nhân vật trong truyện.
+ Trẻ hiểu được nội dung câu chuyện: Kể về các bạn Gà con, Chim bạc má,
Cóc vàng rất ngoan; khi gặp ông trên đường đã biết khoanh tay chào ông.
+ Trẻ hiểu được một số từ khó: nhỏ xíu, Oang oang.
- Kỹ năng:
+ Phát triển ngôn ngữ cho trẻ và khả năng nhớ chuyện của trẻ.
+ Trẻ trả lời được câu hỏi của cô to, rõ ràng, đử câu.
- Thái độ:
+ Giáo dục trẻ biết lễ phép chào hỏi người lớn.
2.Yêu cầu riêng:
- Kiến thức:
+ Trẻ biết tên truyện, 3/4 nhân vật trong truyện.
+ Trẻ hiểu nội dung truyện: Các nhận vật trong truyện đã biết chào ông.
- Kỹ năng:
+ Trẻ sử dụng 2 – 3 từ để trả lời được một số câu hỏi của cô.
- Thái độ: Trẻ biết chào người lớn.
II. CHUẨN BỊ

1. Địa điểm, đội hình
- Địa điểm: Trong lớp
- Đội hình: + Lần 1: Ngồi chiếu bên cô
+ Lần 2: Ngồi ghế hình vòng cung
2. Đồ dùng:

- Trẻ trả lời

- Trẻ trả lời
được: Buổi
sáng.
- Trẻ trả lời
được: Chào.

Trang 16


Sáng kiến kinh nghiệm

hợp cử chỉ, điệu bộ.
+ Cô vừa kể câu chuyện gì?
+ Trong chuyện có những bạn nào?
* Cô kể lần 2: Kết hợp hình ảnh minh
họa
- Đàm thoại, trích dẫn nội dung truyện:
+ Cô vừa kể câu chuyện gì?
+ Trong chuyện có những ai?
+ Ông gặp bạn gà con, bạn Gà chào
ông như thế nào?
+ Ông khen bạn gà con như thế nào?
+Khi ông gặp bạn chim, bạn chim
chào ông như thế nào?
+ Ông khen bạn chim như thế nào?
+ Bạn Cóc Vàng nhìn thấy ông đã
chào ông như thế nào?
+ Ông khen Cóc Vàng thế nào?

chim, cóc.

- Trẻ trả lời

- Trẻ trả lời.

- Trẻ trả lời:
Chào ông.
- Trẻ trả lời:
Gà, chim, cóc.
- Trẻ trả lời:
Chào ông.
- Trẻ trả lời :
Ngoan.

- Trẻ trả lời.

- Trẻ trả lời:
Ngoan.

- Trẻ kể.
- Trẻ trả lời
- Trẻ trả lời.

- Trẻ thực hiện.

- Trẻ trả lời:
Ngoan.
- Trẻ trả lời:
Chào.

Thời gian: 15-18 phút.
Số trẻ: 16- 18 trẻ
Ngày dạy: 03/10/2013
Giáo viên: Nguyễn Thị Thúy – Lớp D2
Trường: Mầm non A xã Tứ Hiệp - Thanh Trì - Hà Nội.
I. MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU:

1.Yêu cầu chung :
- Kiến thức:
+ Trẻ biết tên một số đặc điểm đặc trưng của đồ dùng để ăn như: Cái bát, cái đĩa,
cái thìa.
- Kỹ năng:
+ Trẻ trả lời được câu hỏi cô nêu.
+ Trẻ trả lời câu hỏi to, rõ ràng, nói được câu 3- 4 tiếng.
- Thái độ:
+ Trẻ ngoan chú ý quan sát, hứng thú học.
+ Trẻ biết giữ gìn đồ dùng đồ chơi.
2.Yêu cầu riêng:
- Kiến thức:
+ Trẻ biết 2 đặc điểm của đồ dùng để ăn: đựng, xúc
- Kỹ năng:
+ Trẻ nói được 1-2 từ.
- Thái độ: Trẻ biết làm theo hành động giống bạn.
II. CHUẨN BỊ:

1. Địa điểm, đội hình
- Địa điểm: Trong lớp
- Đội hình: Ngòi chiếu hình vòng cung
2. Đồ dùng:
a. Đồ dùng của cô:

* Trò chuyện về một số đồ dùng để
ăn.
a.NBTN: Cái bát
- Tổ chức cho trẻ chơi trò chơi “trốn
cô”
- Cô có cái gì đây?
- Cô giới thiệu về cái bát
+ Cô chỉ vào miệng bát và hỏi trẻ,
miệng bát có dạng hình gì?
+ Cô chỉ vào thân bát và hỏi trẻ?
+Cô chỉ vào đáy bát và hỏi trẻ?
+ Cái bát này dùng để làm gì?
- Cô củng cố lại đặc điểm của cái
bát.
b. NBTN: Cái thìa
- Cho trẻ chơi trò chơi: “Trời tối,
trời sáng”
- Cô có gì đây?
- Cô chỉ vào cái thìa và giới thiệu
cho trẻ biết.
+ Cô chỉ vào cán thìa và hỏi trẻ.
=> Cô củng cố lại.
- Cái thìa dùng để làm gì?
- Cô củng cố lại đặc điểm của cái
thìa.
* Liên hệ: Thế hàng ngày ở lớp, ở
nhà các con dùng dụng cụ gì để ăn?
* Cô nhận xét và củng cố lại cho
trẻ.
* Mở rộng: Cô cho trẻ xem một số

- Trẻ chơi.
- Trẻ trả lời.
- Trẻ lắng nghe.

-Trẻ trả lời: Cái
bát.

- Trẻ trả lời: Ăn.

- Trẻ thực hiện
giống các bạn.
- Trẻ trả lời: Thìa.

-Trẻ trả lời
-Trẻ trả lời

- Trẻ trả lời: Xúc.

- Trẻ trả lời
- Trẻ lắng nghe

- Trẻ trả lời: Thìa.

- Trẻ chú ý quan sát.

- Trẻ quan sát.

- Trẻ lắng nghe.

- Trẻ lắng nghe.

biết tên gọi, trẻ tự đặt ra một từ mới, trẻ sử dụng nhiều câu trong giao tiếp.
- Giáo viên trên lớp đã tích lũy được thêm nhiều kiến thức và phương pháp giúp
trẻ phát triển ngôn ngữ tốt hơn và có hiệu quả hơn.
5. Biện pháp 5: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động mọi
lúc, mọi nơi.
Khi tham gia các hoạt động của lớp trẻ được phát triển ngôn ngữ rất
nhanh. Hình thức hoạt động phong phú giúp trẻ thích thú và tập trung chú ý,
những kiến thức được lồng vào các hoạt động được lặp đi lặp lại những điều đã
học dưới các hình thức khác nhau giúp trẻ ôn lại những điều đã học mà không
thấy nhàn chán. Việc làm này giúp trẻ khắc phục hạn chế trong việc ghi nhớ để
diễn đạt; trong tất cả các hoạt động đều nhằm mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho
trẻ để giúp trẻ có đầy đủ khả năng hòa nhập vào lớp bình thường. Vậy tổ chức
các hoạt động như thế nào để đạt được hiệu quả đó. Tôi đã lựa chọn một số
hoạt động như sau:
a, Thông qua hoạt động đón - trả trẻ:
Thời gian đón - trả trẻ ở trường mầm non được diễn ra thường nhật, lặp đi
lặp lại qua các ngày trong tuần. Trong thời gian này, tôi và trẻ được trò chuyện
với nhau rất nhiều về: Các chủ đề mà trẻ đang học, những điều vừa diễn ra tại gia
đình trẻ, hay những điều đã xảy ra tại lớp trong ngày. Vì vậy đây là cơ hội tốt để
trẻ được giao lưu, trò chuyện bên cô và bạn. Với mỗi chủ đề tôi lại lựa chọn
những cách trò chuyện khác nhau cho phù hợp với sự phát triển của trẻ.
* Với chủ đề: “Mẹ và những người thân yêu của bé”
- Giờ đón trẻ:
+ Tôi trò chuyện với trẻ về tên bố, tên mẹ, công việc hàng ngày của mẹ, tôi đã
dùng các câu hỏi:
+ Bố cháu tên là gì?
+ Mẹ cháu tên là gì?
+ Ở nhà mẹ thường làm gì?
- Giờ trả trẻ:
+ Tôi lại hỏi trẻ về gia đình trẻ và cô kể cho trẻ nghe câu chuyện Gà mái hoa mơ

tượng của trẻ. Tôi đã lựa chọn một số góc chơi như sau:
- Góc chơi “Bé chơi với búp bê”:
Tôi trang trí hình ảnh các bé đang chơi với búp bê như: Mặc quần áo cho búp
bê, cho búp bê ăn, ru búp bê ngủ. Với các nguyên vật liệu phế thải như: chai
nhựa, hộp sữa, xốp…tôi đã làm ra được một số đồ dùng như: cái làn đi chợ, cái
túi, cái mũ, cái xe đạp…và một số món ăn như: trứng rán, bánh gối, bánh ngọt,
nem…trẻ rất thích thú tham gia chơi theo ý muốn của mình như là làm mẹ đi
chợ, làm người bán hàng…Lúc đầu trẻ chơi còn nhút nhát nhưng sau khi được cô
chơi cùng trẻ đã mạnh dạn hơn và giao tiếp với bạn chơi, với đồ vật chơi được tốt
hơn rất nhiều.
Ví dụ: Trò chơi sáng tạo “Bế em”, tôi nhập vai làm mẹ búp bê cho búp bê bú
sữa bình, cho búp bê ăn, cho búp bê ngủ. Trẻ sẽ bắt chước những từ tôi nói như:
Con của mẹ ngoan quá! Ôi con ăn giỏi quá!.... Ôi em bé khóc rồi, nín đi nào em
đừng khóc nữa! Ôi em búp bê buồn ngủ rồi, Hát ru cho em ngủ thôi! Và cháu
Dung cũng đã nói được theo cô: “Búp bê ngoan”. Cháu Bảo Ngọc cũng nói được
theo cô như: “Ôi! Em búp bê nín đi”!
Cứ như vậy trẻ biết hát ru “à ơi”, biết cho em bé ngủ biết nói lời nựng em.
Từ đó vốn từ của trẻ cũng được phát triển theo.

Trường Mầm non A Tứ Hiệp

Trang 21


Sáng kiến kinh nghiệm

Nguyễn Thị Thúy

Hình ảnh 1: Trẻ đang chơi ở góc búp bê.


Con chó
Gâu gâu
+ Trò chơi đoán đặc điểm của con vật:
Cô nói
Trẻ nói
Con gà mái
Biết đẻ trứng
Con chó
Biết trông nhà.

Hình ảnh 3: Cô và trẻ chơi tại góc “Bé vui ca hát”.
Trường Mầm non A Tứ Hiệp

Trang 23


Sáng kiến kinh nghiệm

Nguyễn Thị Thúy

Hình ảnh 4: Đồ dùng sáng tạo tại góc “Bé vui ca hát”.
- Góc sách truyện:
Góc sách truyện được coi là góc chơi phát triển rất tốt ngôn ngữ cho trẻ do
vậy tôi trang trí các hình ảnh thay đổi theo từng chủ đề và cũng rất gần gũi với
trẻ. Giá sách được sắp xếp gọn gàng, khoa học, thuận tiện cho trẻ. Ở chủ đề
“Những con vật đáng yêu” tôi trang trí hình ảnh câu truyện: “Quả trứng” có: Con
gà trống, con lợn, con vịt trong quả trứng, từ đó trẻ có thể kể lại được câu truyện
khi đã nghe cô kể. Tôi cũng dùng vải vụn, bông, hột, hạt khâu thành những con
rối tay và treo trên tường, trẻ có thể lấy ra và treo vào rất thuận tiện dễ dàng. Ứng
với từng bài thơ, câu truyện trong chủ đề tôi còn vẽ thêm hình ảnh và làm rối que

Trích đoạn Bài học kinh nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status