Tình hình hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận kho vận tại Vietrans. - Pdf 32

GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
KHỐI KINH DOANH
DỊCH VỤ
Phòng hàng không
Phòng công trình
Phòng vận tải quốc tế
Phòng xuất nhập khẩu
Phòng gửi hàng
Phòng chuyển tải
Phòng giao nhận vận tải
Phòng Marketing
Xí nghiệp dịch vụ xây dựng
Kho Yên Viên
Kho Pháp Vân
Đội xe
KHỐI PHÒNG
QUẢN LÝ
Phòng kế toán tài vụ
Phòng pháp chế
Phòng tổ chức cán bộ
Phòng tổng hợp
Phòng hành chính quản trị
CÁC CHI NHÁNH TRỰC THUỘC
Vietrans Hải Phòng
Vietrans Nghệ An
Vietrans Đà Nẵng
Vietrans Nha Trang
Vietrans Quy Nhơn
Vietrans Sài gòn
CÁC CÔNG TY LIÊN DOANH

nhận giờ đây không chỉ bó gọn trong việc nhận hàng tại cảng bốc để chuyên
chở đến cảng đích mà còn mở rộng dịch vụ đưa hàng từ bất cứ địa điểm nào
theo yêu cầu của người gửi đến tận tay người nhận.
Ý thức được tầm quan trọng và sự phức tạp của hoạt động kinh doanh
dịch vụ giao nhận, em đã chọn đề tài “Tình hình hoạt động kinh doanh dịch
vụ giao nhận kho vận tại Vietrans “.
Nội dung bài báo cáo này được chia thành 3 phần:
1
PHẦN 1: Dịch vụ kho vận giao nhận ngoại thương và vai trò của nó
trong nền kinh tế thị trường.
PHẦN 2: Thực trạng hoạt động giao nhận tại VIETRANS.
PHẦN 3: Một số giải pháp phát triển dịch vụ giao nhận, kho vận ở
VIETRANS.
Để hoàn thành bản thu hoạch thực tập này, em xin chân thành cám ơn
sự giúp đỡ tận tình của thầy Bùi Văn Lưu và trưởng phòng xuất nhập khẩu Hà
Duy Lợi. Tuy nhiên trong một giới hạn cho phép về thời gian và kiến thức ít
ỏi của bản thân, nên báo cáo này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong được sự chỉ bảo, đóng góp của quý thầy, cô và các bạn.
Sinh viên thực hiện
Vũ Kim Ngân
PHẦN I
2
DỊCH VỤ GIAO NHẬN KHO VẬN NGOẠI THƯƠNG
VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM VỀ DỊCH VỤ GIAO NHẬN KHO VẬN.
1. Dịch vụ.
Cùng với sự phát triển kinh tế, tỷ trọng của dịch vụ, đặc biệt là các dịch
vụ bao hàm mức độ trí tuệ cao, trong tổng thu nhập xã hội ngày càng tăng, ở
các nước phát triển, dịch vụ chiếm 70-75% GNP. Ngày nay, dịch vụ đã thực

người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác.
Trước đây, khi sản xuất và lưu thông chưa phát triển thì giao nhận là
một khâu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Khi sản
xuất và lưu thông phát triển ở mức độ cao, nhu cầu vận chuyển hàng hoá lớn
thì hoạt động giao nhận tách riêng thành một nghề mới. Hiện nay, giao nhận
đã trở thành ngành kinh doanh dịch vụ rất phát triển, đánh dấu cho sự phát
triển đó là sự ra đời của các tổ chức và các điều ước quốc tế về giao nhận như:
FIATA, IATA, IMO....
Người kinh doanh dịch vụ giao nhận hay còn gọi là người giao nhận có
thể là chủ tàu, công ty xếp dỡ, người giao nhận chuyên nghiệp. . . hay bất kỳ
người nào có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá. Ngày nay,
người giao nhận không chỉ làm đại lý, thực hiện thủ tục giấy tờ, thuê tàu...
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và thương mại quốc tế họ còn
cung cấp dịch vụ trọn gói về quá trình vận tải và phân phối hàng hoá .
4
Trong thực tế, việc giao và nhận hàng cũng như việc thực hiện các công
việc khác không phải chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia mà nó đồng thời
diễn ra ở nhiều nước khác nhau. Do vậy một Công ty giao nhận không thể có
đủ cơ sở vật chất, phương tiện vận chuyển cũng như các điều kiện khác để
đáp ứng được yêu cầu này mà họ thường phải đi thuê các nhà chuyên chở :
hãng tàu, hãng hàng không, đường sắt. . . để hoàn thành công việc của mình.
Dây chuyền vận tải này có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dịch vụ. Do
vậy, khi tổ chức một dây chuyền vận tải, người giao nhận cần phải nắm rõ:
+ Các thị trường
+ Những trở ngại
+ Những yêu cầu về chứng từ
+ Các chi phí
+ Các phương tiện vận tải khác nhau, lợi ích và bất lợi của mỗi loại, giá
cả.
+ Theo kịp những thay đổi của các hãng tàu và các công hội hàng hải

đối ngoại. Đây là một loại hình dịch vụ thương mại không cần đầu tư
nhiều vốn nhưng mang lại một nguồn lợi tương đối chắc chắn và ổn định
nếu biết khéo léo tổ chức và điều hành trên cơ sở tận dụng hệ thống cơ sở
hạ tầng hiện có. Trong xu thế quốc tế hoá đời sống như hiện nay thì hoạt
động giao nhận càng có vai trò quan trọng. Điều này thể hiện ở:
- Đặc điểm nổi bật của thương mại quốc tế là người mua và người bán
ở những nước khác nhau. Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán
thực hiện việc giao hàng tức là hàng được vận chuyển từ người bán sang
người mua. Để cho quá trình vận chuyển đó được bắt đầu, tiếp tục và kết
thúc tức là hàng hoá tới tay người mua, cần phải thực hiện một loạt các công
việc khác nhau liên quan tới chuyên chở như: đưa hàng ra cảng, làm thủ tục
6
gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng ở dọc đường, dỡ hàng ra khỏi tàu
và giao cho người nhận. . . tất cả những công việc đó là nghiệp vụ của người
giao nhận. Như vậy, trước tiên nghiệp vụ giao nhận là điều kiện không thể
thiếu cho sự tồn tại và phát triển của thương mại quốc tế.
- Hoạt động giao nhận tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông nhanh
chóng, an toàn, tiết kiệm mà không cần có sự tham gia hiện diện của người
gửi cũng như người nhận hàng.
- Giúp người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ vòng quay của các phương
tiện vận tải; tận dụng một cách tối đa và có hiệu quả dung tích, trọng tải của
các phương tiện vận tải, các công cụ vận tải cũng như các phương tiện hỗ trợ
khác.
- Tạo điều kiện cho các nhà xuất nhập khẩu có thể tập trung vào hoạt
động kinh doanh của họ.
- Góp phần giảm giá thành hàng hoá xuất nhập khẩu.
- Bên cạnh đó, giao nhận cũng giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt
các chi phí không cần thiết khác như: chi phí xây dựng kho tàng, bến
bãi nhờ vào việc sử dụng kho tàng, bến bãi của người giao nhận, chi
phí đào tạo nhân công.

- Nhận hàng của người chuyên chở nếu cần thì thanh toán cước.
- Khai báo Hải quan và trả lệ phí, thuế và những chi phí có liên quan.
- Thu xếp việc lưu kho quá cảnh nếu cần.
- Giao hàng đã làm thủ tục Hải quan cho người nhận hàng.
- Giúp người nhận hàng khiếu nại nếu cần.
8
- Giúp người nhận hàng trong việc lưu kho và phân phối hàng nếu cần.
3. Những dịch vụ khác.
Ngoài những dịch vụ nêu trên tuỳ thuộc vào yêu cầu của khách hàng,
người giao nhận cũng có thể cung cấp các dịch vụ khác như: cung cấp thông
tin về nhu cầu tiêu dùng mới, thông báo về tình hình cạnh tranh, thực hiện
dịch vụ tư vấn, cung cấp các dịch vụ đặc biệt khác( vận chuyển hàng công
trình, vận chuyển quần áo treo trên mắc, chuyên chở hàng triển lãm ở nước
ngoài).
Như vậy qua Phần 1 ta đã có một cái nhìn chung nhất về dịch vụ giao
nhận kho vận và vai trò của ngành này trong sự phát triển chung của nền kinh
tế. Nhưng để có một cái nhìn sâu sắc hơn cũng như có sự hiểu biết tường tận
chúng ta hãy tìm hiểu về hoạt động của Công ty VIETRANS ở phần 2 của bài
Báo Cáo này.
PHẦN II
9
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN KHO VẬN
TẠI VIETRANS
I. VÀI NÉT VỀ CÔNG TY
1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty giao nhận kho vận ngoại thương - VIETRANS là một doanh
nghiệp nhà nước thuộc Bộ Thương Mại, hoạt động theo chế độ hạch toán
kinh tế tự chủ tài chính. Là tổ chức giao nhận đầu tiên được thành lập ở
Việt Nam theo quyết định số 554/BNT ngày 13/8/1970 của Bộ Thương
Mại. Khi đó công ty lấy tên là cục kho vận kiêm Tổng Công Ty giao nhận

trong và ngoài nước.
2.Chức năng và nhiệm vụ của công ty
2.1 Chức năng:
-Tiến hành và nhận uỷ thác dịch vụ kho vận, giao nhận, vận chuyển hàng
hoá, thuê và cho thuê kho bãi, lưu cước các phương tiện vận tải (tàu biển, máy
bay, sà lan...) và các dịch vụ khác có liên quan như gom hàng, làm thủ tục
Hải quan, mua bảo hiểm hàng hoá....
- Tư vấn về các vấn đề giao nhận, vận tải và các vấn đề khác có liên quan.
- Nhận uỷ thác xuất nhập khẩu hoặc kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp.
- Thực hiện kinh doanh vận tải công cộng phù hợp với quy định của nhà
nước.
- Làm đại lý cho các hãng tàu nước ngoài và làm các công tác phục vụ cho
tàu biển của nước ngoài vào cảng của Việt Nam.
11
- Liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước trong các
lĩnh vực vận chuyển, giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu, thuê tàu ... ..
2.2 Nhiệm vụ
- Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo hoạt động kinh doanh của
Công ty và các đơn vị trực thuộc theo quy chế hiện hành.
- Bảo đảm việc bảo toàn và bổ sung vốn trên cơ sở tự tạo nguồn vốn,
sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, làm chọn nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà
nước.
- Thường xuyên cải tiến, nâng cấp các phương tiện kỹ thuật để đảm bảo
việc giao nhận, chuyên chở hàng hoá an toàn.
- Nghiên cứu tình hình thị trường dịch vụ giao nhận, kho vận, đề ra các
biện pháp nhằm thu hút khách hàng, củng cố và nâng cao uy tín của Công ty
trên thị trường trong nước và quốc tế.
- Đào tạo và bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ quản lý, nghiệp vụ
chuyên môn, ngoại ngữ cho cán bộ công nhân viên của Công ty để đáp ứng
được yêu cầu, nhiệm vụ kinh doanh ngày càng cao.

28.87
6
27.76
2
25.30
8
27.54
2
28.051
Lợi nhuận(LN) 2.389 2.163 1.802 1.684 1.902 2.005
Nộp ngân sách 5.805 4.955 5.672 7.452 6.322 6.872
LN/DT 0,075 0,065 0,066 0,069 0,071
(Nguồn: Báo cáo tổng kết cuối năm)
Doanh thu của công ty trong những năm gần đây
Nhìn vào bảng kết quả kinh doanh và biểu đồ trên ta thấy:
14
- Doanh thu năm 1998, 1999 giảm so với năm 1996, 1997(từ 28476
triệu VND xuống còn 25308 triệu VND), lợi nhuận cũng giảm nhiều(từ 5805
triệu VND xuống còn 1684 triệu đồng). Có thể nói kết quả kinh doanh năm
1999 thấp nhất so với các năm. Qua phân tích và tìm hiểu, công ty đã đưa ra
một số nguyên nhân sau:
+ Do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ khu
vực Châu á năm 1997 làm cho tốc độ đầu tư của các nước vào Việt Nam
chững lại, lượng vật tư thiết bị nhập khẩu giảm đi mà đây lại là loại hàng
hoá có khối lượng lớn, do đó sản lượng giao nhận hàng nhập khẩu giảm đi
rõ rệt.
+Hoàn cảnh kinh tế nước ta lúc đó gặp nhiều khó khăn: tốc độ tăng
trưởng kinh tế giảm, hiệu quả và năng lực cạnh tranh còn thấp, thị trường kém
sôi động đặc biệt là thiên tai lũ lụt liên tiếp xảy ra.
+ Ngoài việc cạnh tranh và san sẻ thị trường với các tổ chức dịch vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status