ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------
TÊN ĐỀ TÀI :“ Hiệu quả của mô hình đào tạo tín chỉ trong trường đại
học” (Nghiên cứu trường hợp Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQGHN)
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thu Hà
Hà Nội – 2012
1
Đề tài:
“HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
HIỆN NAY”
(Nghiên cứu trường hợp Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQGHN)
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Lý do chọn đề tài
Đào tạo theo Hệ thống tín chỉ, lần đầu tiên được tổ chức tại trường Đại học Harvard,
Hoa kỳ vào năm 1872, sau đó lan rộng ra khắp Bắc Mỹ và thế giới. Đây là phương thức
đào tạo theo triết lý “Tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào
Vì thế, nếu trước kia sinh viên phải “chạy” theo kế hoạch của nhà trường thì bây giờ nhà
trường phải “chạy” theo kế hoạch của từng sinh viên. Khi triển khai đào tạo theo Hệ thống
tín chỉ, trong học kỳ thứ nhất và thứ hai, các nhà trường đều gặp phải những khó khăn nhất
định, đó cũng là điều tất yếu, vì đào tạo theo Hệ thống tín chỉ yêu cầu một hệ thống quản lý
khoa học, chặt chẽ, linh hoạt và mềm dẻo. Đào tạo theo tín chỉ còn đòi hòi cả người dạy và
người học phải thay đổi cách tư duy, đổi mới phương pháp dạy và học từ bị động sang chủ
động một cách nghiêm túc.
Tiến trình xây dựng các quy chế đào tạo tín chỉ luôn nằm trong lộ trình đổi mới và
nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Điều đó nói lên rằng, phương thức đào tạo theo hệ
thống tín chỉ không phải là mục đích mà giáo dục đại học Việt Nam hướng tới mà là một
giải pháp được lựa chọn để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển giáo dục đại học.
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN là một trong những trường đại
học đầu tiên trong hệ thống các trường của ĐHQGHN đạt được những bước thành công
lớn sau 5 năm chuyển đổi phương thức đào tạo đại học theo tín chỉ. Chính vì vậy chúng tôi
lựa chọn đề tài “ Hiệu quả của mô hình đào tạo tín chỉ trong trường đại học” (Nghiên
cứu trường hợp Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQGHN) làm đề tài nghiên cứu. Trong
phạm vi đề tài, chúng tôi mong muốn đem lại những kết quả về tác động của mô hình đào
tạo tín chỉ đối với người học, người dạy và sự biến đổi trong cấu trúc quản lý của trường
đại học.
2 Câu hỏi nghiên cứu
Việc áp dụng theo mô hình đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học KHXH và Nhân
văn - ĐHQGHN diễn ra như thế nào ?
4
Mô hình đào tạo tín chỉ tác động như thế nào đối với giảng viên và sinh viên hiện
nay?
5
Đưa ra kết luận và một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng
mô hình này trong đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu về thực trạng mô hình đào tạo theo tín chỉ ở trường ĐHKHXH&NV.
Qua việc tìm hiều về hình thức đào tạo theo tín chỉ được áp dụng ở trường
ĐHKHXH&NV, nó mang lại những kết quả gì về mặt học tập và quản lí.
Qua các thông tin trên, thì so sánh với một số trường khác.
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hiệu quả của mô hình đào tạo theo tín chỉ đối với người học.
Khách thể nghiên cứu: các sinh viên và giảng viên của trường Đại học khoa học xã
hội và nhân văn. Phòng đào tạo của trường trường Đại học khoa học xã hội và nhân
văn.
Phạm vi nghiên cứu:
o
o
6
Không gian: Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn. ĐHQGHN
Thời gian: từ 3 tháng10 – 25 tháng 11 năm 2012.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi có sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã
89
78.1
Năm nhất
17
14.9
Năm hai
31
27.2
Năm ba
39
34.2
Năm tư
27
23.7
Giảng viên
Là phương pháp thu thập thông tin thông qua những tài liệu sơ cấp và thứ cấp. Đây
là phương pháp đầu tiên chúng tôi sử dụng trong nghiên cứu, nhằm nắm bắt được những
thông tin liên quan đến vấn đề, và từ đó thấy được tính bức thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Nguồn tài liệu chủ yếu là sách, báo, tạp chí và các bài viết có liên quan trên mạng
internet… Chúng tôi đã tiến hành thu thập một số thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu
như Kỷ yếu hội nghị tổng kết 4 năm mô hình đào tạo tín chỉ ở trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Hội nghị tổng kết công tác đào tạo tín chỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo
năm 2010 và của một số trường Đại học khác như Đại học Đà Nẵng, Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh,… Trên cơ sở những thông tin thu được, chúng tôi tiến hành phân
tích và xử lý để đưa ra các kết quả nghiên cứu phù hợp với đề tài.
Phương pháp quan sát:
Trong thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành các quan sát có tham
dự vào việc thực hiện mô hình đào tạo theo tín chỉ ở trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn.
7
Chúng tôi đã trực tiếp tham gia vào quá trình học tập theo mô hình đào tạo tín chỉ nên có
thể đưa ra một số nhận định về hiệu quả cũng như khó khăn cả về phía người dạy – người
học và sự quản lý của nhà trường trong việc thực hiện chuyển đổi mô hình đào tạo tín chỉ.
Phương pháp phỏng vấn sâu:
Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng để thu thập những thông tin mang tính
chiều sâu, những vấn đề chưa được đề cập, cần đươc làm rõ hơn thông qua chia sẻ của
những người được phỏng vấn. Thông qua quá trình phỏng vấn, người nghiên cứu cũng có
khả năng kiểm chứng mức độ tin cậy của thông tin thu được và có thể dẫn dắt người được
phỏng vấn theo định hướng của nhà nghiên cứu, nhằm thu được thông tin cần thiết cho đề
tài.
Trong đề tài này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu 6 người là sinh viên
trường, sinh viên các khóa QH 2009, QH 2010,QH 2011,QH2012 để tiến hành thu thập
đổi mới
mới giáo
giáo dục
dục
Giảng viên
Sinh viên
Nhà
Nhà trường
trường
Mô
Mô hình
hình đào
đào tao
tao tín
tín chỉ
chỉ
Phương
Phương thức
thức quản
quản lílí
NỘI DUNG CHÍNH
Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
1 Cơ sở lý luận
1
tiết). Đây là một chương trình được cho là “lấy công làm lãi”, chú trọng vào việc nhồi kiến
thức của giáo viên sang sinh viên, không tính đến thời lượng tự học của sinh viên và do đó
bỏ qua khả năng tự học, tự tìm tòi và phát triển tri thức của họ. Trong phương thức đào tạo
1Lê Ngọc Hùng, Lịch sử và lí thuyết xã hội học, NXB KHXH, HàNội, 2008,trang 366
10
theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi trọng được tính vào nội dung và
thời lượng của chương trình. Đây là phương thức đưa giáo dục đại học về với đúng nghĩa
của nó: người học tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy, và do
đó, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học. ... Theo định đề giá trị của thuyết
hành vi lựa chọn hợp lí, “nếu kết quả của hành động có giá trị cao thì chủ thể có xu hướng
tiếp tục thực hiện hành động đó”. Như vậy, có đào tạo theo mô hình tín chỉ hay không phải
tính đến chất lượng, hiệu quả mà mô hình đó mang lại cho cả người dạy, người học và
người quản lý, tổ chức... trước đây, mô hình đào tạo của các trường đại học và cao đẳng là
đào tạo theo niên chế, nhưng lợi ích mà mô hình này đem lại không cao do đó nhà trường
đã tìm những phương pháp mới để có thể đạt được kết quả tốt nhất. Nhà trường đã thấy
được những lợi ích mà mô hình đào tạo theo tín chỉ mang lại không chỉ về phía sinh viên
mà cả về phía nhà trường, theo thuyết lựa chọn hành vi hợp lý chi phí mà nhà trường bỏ ra
để tiến hành đào tạo theo tín chỉ đã mang lại nhiều kết quả, như nó là thước đo hiệu quả và
khả năng làm việc của giảng viên, nó còn là cơ sở để các trường đại học tính toán ngân
sách chi tiêu, nguồn nhân lực, có lợi không những cho tính toán ngân sách nội bộ mà còn
cả cho việc tính toán để xin tài trợ từ nguồn ngân sách nhà nước và các nhà tài trợ khác. Do
đó nhà trường sẽ tiếp tục duy trì và có nhiều phương pháp đổi mới hơn nữa để phù hợp với
nhu cầu và lợi ích của sinh viên cũng như nhà trường. Như vậy, từ khi áp dụng mô hình
đào tạo theo tín chỉ tại trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn đến nay đã là năm thứ 6,
nhà trường đã tính toán đến hiệu quả của nó mang lại để duy trì và ngày càng đổi mới,
nâng cao hiệu quả của mô hình này trong đào tạo.
Đối với người học, việc học theo mô hình đào tạo theo tín chỉ được coi là mô hình
phục vụ... Thuyết này chủ yếu nói tới vị trí và vai trò của giáo dục trong xã hội. Giáo dục
có những chức năng nhất định đối với xã hội. Khi xã hội biến đổi từ trạng thái này sang
trạng thái khác thì chức năng của giáo dục cũng thay đổi 2. Trước đây, trong thời kì xã hội
phong kiến việc học hành chủ yếu là dạy cho nam giới, phụ nữ không được đến trường, và
nội dung chủ yếu của những bài giảng là tôn sư trọng đạo, trung quân ái quốc,… nhưng khi
bước vào thời kì xã hội chủ nghĩa tất cả mọi người đều được đến trường, đều bình đẳng
như nhau, và nội dung giảng dạy cũng thay đổi nhiều hơn, nhà trường ngoài đào tạo về mặt
2LêNgọcHùng, Xã hội học Giáo dục, NXB ĐHQG Hà Nội, 2009, trang 136.
12
lễ nghĩa thì còn đào tạo để sau này khi ra trường học sinh, sinh viên có thể tìm cho mình
một công việc phù hợp với khả năng của mình, như vậy chức năng của giáo dục cũng thay
đổi khi xã hội thay đổi.
Áp dụng vào đề tài này, chúng tôi nhận thấy mỗi nhà trường, trong đó có các phòng
ban khác nhau đều có những chức năng khác nhau. Cùng với đó, mô hình và cách thức đào
tạo của trường đó cũng có những chức năng xã hội nhất định. Ở đây, chúng tôi xem xét
hiệu quả của mô hình đào tạo theo tín chỉ ở trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn, thực
chất nhằm nghiên cứu, tìm hiểu chức năng của những phòng ban trực tiếp liên quan đến
quản lý, tổ chức giảng dạy theo mô hình đào tạo mới, từ đó tìm hiểu những hiệu quả mà
mô hình này mang lại. Qua đây, chúng tôi cũng hy vọng làm rõ được những chức năng còn
tiềm ẩn của mô hình đào tạo theo tín chỉ, so sánh hiệu quả của nó với phương pháp cũ là
đào tạo theo niên chế.
2
Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, hầu hết các trường Đại học trong cả nước đã chuyển sang đào tạo theo mô
hình tín chỉ thay cho đào tạo theo niên chế. Việc chuyển đổi này còn khá mới mẻ, tuy đã
xã hội. Do tính chất của hoạt động nghề nghiệp trong tương lai, họ là những người có
nhiều cơ hội thuận lợi chiếm lĩnh những vị trí cao trong xã hội.
Sinh viên là nhóm xã hội có đặc thù về lứa tuổi và giai đoạn xã hội hoá so với các
nhóm thiếu niên nhi đồng và nhóm trung niên cao tuổi. Đây là độ tuổi đang liên tục phát
triển về chất, hăng hái, dũng cảm, muốn đi sâu vào đời sống xã hội, xác định việc làm, trau
dồi kinh nghiệm sống. Mối quan tâm lớn nhất đối với họ là nghề nghiệp, việc làm, nơi làm
việc, các biến đổi giá trị xã hội.
Sinh viên là đối tượng có lối sống và định hướng giá trị đặc thù, đó là khả năng cơ
động và thích ứng cao, tiếp thu nhanh chóng các giá trị mới.
3.2.
Đào tạo theo niên chế 3
Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo học chế tín chỉ là hai hình thức tổ chức đào
tạo khác nhau nhưng đều có chung một mục tiêu là đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ
cao, đáp ứng được sự phát triển của các ngành nghề trong xã hội trong từng giai đoạn lịch
sử nhất định.
Đào tạo theo niên chế là đào tạo theo năm học, mỗi chương trình đào tạo của một
ngành học được quy định đào tạo trong một số năm nhất định. Ví dụ chương trình đào tạo
trình độ đại học được cấp bằng cử nhân thường đào tạo trong 4 năm, cấp bằng kỹ sư được
đào tạo trong 5 năm, cấp bằng bác sỹ được đào tạo trong 6 năm. Sinh viên học hết thời gian
3 . http://www.tnut.edu.vn/doc/tinchi_devakho.htm
14
quy định nếu không bị lưu ban, dừng tiến độ học tập thì được cấp bằng tốt nghiệp đại học,
được ra trường.
Trong đào tạo theo niên chế mọi lịch học, lịch thi được phòng Đào tạo chuẩn bị sẵn.
Các lớp sinh viên được biên chế cố định ngay từ ngày nhập trường và ít khi có sự biến
đánh dấu lại, ghi chép lại hoặc có chỉ dẫn rõ ràng để khi cần lập tức có thể tra cứu được
ngay.
Hình thức tổ chức đào tạo theo tín chỉ với hai yêu cầu: giảng dạy theo phương pháp
tích cực (lấy người học làm trung tâm) và sinh viên phải tự học là chính, phải lấy tự học
làm cốt.
3.4.
Khái niệm tín chỉ 4
Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà
người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình
thức:
(1) học tập trên lớp;
(2) học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng
dẫn của giáo viên1); và
(3) tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài v.v.
Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời
gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn.
4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
4.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề giáo dục luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, nhà nước và toàn xã hội.
Thực hiện tốt công tác giáo dục chính là công việc tạo dựng cho tương lai của đất nước,
của dân tộc. Vì thế, các thành tố trong hệ thống giáo dục trở thành đối tượng nghiên cứu
của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau trong nước và trên thế giới như xã
hội học, tâm lý học, tội phạm học…
Đối với một đất nước đang phát triển như Việt Nam, quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa hiện đại hóa không thể không đi đôi với việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực
và bồi dưỡng nhân tài. Nhận thức được mối quan hệ biện chứng đó, tại buổi làm việc với
được tập hợp trong những bài viết ngắn gọn trên báo, tạp chí, trong những hạng mục nhỏ
của các nghiên cứu về giáo dục nói chung:
Trong bài lý luận dạy học với tiêu đề “ yêu cầu mới của thời đại, của đất nước đối
với giáo viên và phương hướng đổi mới phương pháp dạy – học ở các trường sư phạm”
đăng trên tạp chí giáo dục số 122 tháng 9/ 2005; tác giả Lê Khánh Bằng đã chỉ ra vai trò
của người giáo viên trong một thế giới đang biến đổi trước những yêu cầu mới của thời đại,
của đất nước đối với đội ngũ giáo viên. Trong bài viết của mình, tác giả đề cập rất nhiều
đến năng lực và phẩm chất của người giảng viên đại học thời đại mới và phương hướng đổi
17
mới phương pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả cho đội ngũ giáo viên. Ngoài ra, bài
viết còn hướng tới xu thế mới của đại học Việt Nam: gắn chặt hơn nữa việc dạy và học với
thực tiễn, đặc biệt “từng bước phát triển kinh tế tri thức” và xây dựng “xã hội học tập”. Tuy
nhiên bài viết mới chỉ đề cập đến sư biến đổi vai trò của người thầy trong xã hội hiện đại,
khi đất nước đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà chưa khái quát sự biến
đổi đó trong sự chuyển dịch học chế niên chế sang tín chỉ.
Và Đánh giá hệ thống giáo dục trong những bước chuyển đổi từ truyền thống sang
hiện đại, từ niên chế sang tín chỉ, Phó giáo sư - tiến sĩ Đặng Xuân Hải cũng trăn trở với
một câu hỏi lớn. Đó là quản lý sinh viên như thế nào và đánh giá giảng viên như thế nào
trong môi trường đào tạo đại học trò được chọn thầy. Và ông đã tìm cách trả lời băn khoăn
đó bằng việc lý giải vấn đề “về tính chủ động và chịu trách nhiệm của sinh viên và giảng
viên trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ” (tháng 10/ 2007). Ông đã chỉ ra quan
niệm, nội dung và điều kiện để có thể tự chủ của người dạy và người học.
Cũng viết về sự thay đổi vai trò của sinh viên, nhóm tác giả Đặng Thị Thanh Mai và
Nông Thị Hà, trong bài viết “Tăng cường khả năng tự học của sinh viên qua hướng dẫn
sinh viên cách học”, đăng trên tạp chí giáo dục số 177, tháng 11/ 2007, tác giả cũng đề cập
đến cách tiếp cận mục tiêu giáo dục thông qua sự thay đổi vai trò của giảng viên trước
thềm chuyển giao từ học chế niên chế sang tín chỉ. Đó chính là việc xây dựng các động cơ
học tập đúng đắn cho sinh viên, xây dựng các chủ đề hướng dẫn tự học và hướng dẫn sinh
sĩ Phạm Thị Thanh Hải, bài viết đã nêu ra nhiều ưu thế của phương thức đào tạo theo tín
chỉ như: tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển năng lực của người học , sinh viên chủ
động trong việc đăng kí kế hoạch học tập. Sinh viên có nhiều cơ hội trong việc học cùng
lúc hai chương trình để khi tốt nghiệp có thể được cấp hai bằng. Việc tổ chức đào tạo mềm
dẻo, khoa học và linh hoạt. Ngoài ra bài viết cũng đưa ra các giải pháp để hoàn thiện quá
trình đào tạo theo tín chỉ, ví dụ như: từng bước hoàn thiện khung chương trình và chương
trình chi tiết của các phần học theo hướng đáp ứng của nhu cầu xã hội. Tăng cường các
sinh hoạt chuyên môn hóa và học thuật. Bổ sung hoàn thiện các các quy định, hướng dẫn
đào tạo theo hệ thống tín chỉ chỉ cho cán bộ giảng viên. Thực hiện tốt việc đánh giá kết quả
học tập của học sinh theo hình thức tín chỉ.Từng bước tháo gỡ những khó khăn về cơ sở vật
chất phục vụ đào tạo theo tín chỉ.
Ngoài ra còn có các đè tài khác viết về các vấn đề liên quan đến học chế tín chỉ như.
19
“Các điều kiện cần và đủ để triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ ở bậc đại học”
luận án của tác giả thạc sĩ Nguyễn Mai Hương. Tác giả cho rằng đào tạo đại học theo hệ
thống tín chỉ là một hệ thống đào tạo tiến bộ, do đó cần có các điều kiện để phát triển hệ
thống này, ví dụ như: xây dựng mô hình đào tạo riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh
tế của đất nước, tương thích với cơ cấu và trình độ của hệ thống giáo dục ở Việt Nam.
Nhận thức đầy đủ về đào tạo học theo chế tín chỉ ở bậc đại học. Có hệ thống văn bản pháp
quy, tài liệu hướng dẫn rõ ràng, đầy đủ và đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Có hệ thống môn
học đủ lớn và công khai hóa chương trình đào tạo dẫn tới các văn bản với các điều kiện cụ
thể. Đổi mới phương pháp dạy và học. Đảm bảo cơ sở vật chất cần thiết và phát triển hệ
thống học liệu.
Trên trang tin tức và sự kiện đại học Quốc Gia Hà Nội có bài viết phương thức đào
tạo theo tín chỉ: lịch sử, bản chất và những hàm ý cho phương pháp giảng dạy – học ở bậc
đại học bài viết đã cho người đọc thấy được lịch sử của giờ học tín chỉ nó là sản phẩm trí
tuệ của người Mỹ, sau này Việt Nam đã áp dụng mô hình đào tạo tín chỉ để đưa vào giảng
dạy ở các trường đại học. Bài viết đã định nghĩa bản chất của tín chỉ và nêu ra những lợi
Trong những năm qua, rất nhiều những hội thảo về phương thức đào tạo trong hệ
thống tín chỉ được tổ chức ở các trường : Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Hà Tĩnh,
Đại học Vinh, Đại học Hồng Đức…, đặc biệt có những hội thảo mang tầm quốc gia như:
Hội thảo về phương thức đào tạo trong hệ thống tín chỉ tại đại học Đà Nẵng vào năm
2006 đã thu hút sự tham gia của rất nhiều giảng viên, nhà nghiên cứu ở các trường đại
học, các viện nghiên cứu trên mọi miền tổ quốc. Trong hội thảo này, những người hoạt
động trong lĩnh vực giáo dục tại các trường đại học: đại học Đà Lạt, đại học Quốc Gia
Thành Phố Hồ Chí Minh, đại học Quốc Gia Hà Nội… đã phân tích một số vấn đề tồn tại
và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong học chế tín chỉ, đưa ra
các giải pháp để triển khai phương pháp học tập theo học chế tín chỉ. PGS.TS Nguyễn
Văn Nhã – trưởng ban đào tạo Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã có bài viết: “ Các giải pháp
triển khai phương thức đào tạo theo tín chỉ ở Đại Học Quốc Gia Hà Nội” trong hội thảo
này.
21
Hội thảo “ Đổi mới phương thức dạy học theo học chế tín chỉ” của Đại Học Khoa
Học Xã Hội và Nhân Văn Thành Phố Hồ Chí Minh diễn ra vào năm 2008 với rất nhiều
bài viết nhằm mục đích: nhận diện thực trạng giảng dạy, học tập ở trường sau hai năm
tiến hành đào tạo theo học chế tín chỉ, tạo ra diễn đàn học tập, trao đổi, thảo luận những
vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến phương pháp đào tạo theo học chế tín chỉ.
Cũng phân tích về bản chất của học chế tín chỉ và việc áp dụng nó tại Việt Nam,
GS.TS Lâm Quang Thiệp đã phân tích về : “ Về học chế tín chỉ và việc áp dụng ở Việt
Nam” trong tạp chí khoa học số 3 năm 2007. Trong bài viết này Giáo Sư đã chỉ rõ sự ra
đời và lan tỏa của học chế tín chỉ, đặc điểm của học chế tín chỉ, các ưu điểm và nhược
điểm của học chế tín chỉ cũng như cách khắc phục và việc áp dụng học chế tín chỉ ở nước
ta trong tương quan so sánh với Hoa Kì và những giải pháp.
Trong đề tài: “ Nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên trường Đại Học Hồng
Đức với phương pháp học tập theo học chế tín chỉ” của Nguyễn Thị Lý ( luận văn Thạc
lâu đời và sứ mệnh đi đầu trong việc đào tạo, nghiên cứu và truyền bá tri thức khoa học xã
hội và nhân văn hàng đầu trong cả nước, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước.
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong
những trường Đại học đi tiên phong trong việc chuyển đổi sang mô hình đào tạo tín chỉ và
đã đạt được những thành tựu đáng kể, và đem lại những hiệu quả mang tính tích cực cả về
phía người dạy và người học cũng như sự quản lý của nhà trường và phòng đào tạo. Trong
thời gian gần vừa qua, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã không ngừng đổi
mới việc thực hiện chuyển đổi sang mô hình tín chỉ để đạt kết quả tốt nhất.
23
Hình 1: Vị trí địa bàn nghiên cứu: Đại học khoa học xã hội và nhân văn- Đại học Quốc
Gia Hà Nội, số 336 Nguyễn Trãi , Thanh Xuân, Hà Nội.
Chương II: HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN – ĐHQGHN
1
. Mô hình đào tạo theo tín chỉ ở trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân
Văn
Áp dụng mô hình tín chỉ chung trên toàn thế giới vào trường .
Cũng như trên thế giới, trường cũng sử dụng 12 tiêu chí để đánh giá mô hình đào
tạo theo Hệ thống tín chỉ triệt để, đó là:
(1) Chương trình đào tạo gồm các khối kiến thức cấu trúc thành các mô đun (học
phần);
24
25