ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
Nghiên cứu nhện (Araneae) trong
hang động tại vườn quốc gia Ba Bể,
tỉnh Bắc Kạn”
Đinh Thị Thu Hà
Thái Nguyên, 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn, em được sự chỉ bảo, hướng dẫn rất lớn
từ thầy hướng dẫn: TS Phạm Đình Sắc. Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy
và lời xin lỗi vì trong quá trình làm luận văn em đã chưa thực sự cố gắng và chăm
chỉ.
Em xin chân thành cảm ơn cơ sở đào tạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh
vật đã tạo điều kiện cho em nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn
Em xin cảm ơn sự hỗ trợ của đề tài Wafosted mã số 106 12 2010 18,
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới tất cả người thân, gia đình, bạn bè đã
động viên, ủng hộ và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội,15-12-2014
Sinh viên
đa dạng sinh học cao, phân bố rộng khắp và phổ biến nhất ở hệ sinh thái trên cạn.
Nhện được tìm thấy ở mọi nơi: trong nhà, trong rừng, vườn cây, trên cánh đồng
lúa, công viên, bụi cây, ven sông, ven suối,... Nhện không chỉ đa dạng về số loài
mà còn chiếm ưu thế về mặt số lượng trong quần thể các nhóm chân khớp.
Thức ăn chủ yếu của chúng là côn trùng, nhờ đó mà nhện được xem như là
một trong những tác nhân quan trọng trong việc kiểm soát quần xã côn trùng trong
hệ sinh thái cạn. Nhện có vai trò tích cực trong việc hạn chế sự phát triển của côn
trùng gây hại trên cây trồng nông nghiệp. Ngoài ra, nhện còn được coi như sinh vật
chỉ thị tốt để so sánh đặc điểm sinh thái của các khu hệ có điều kiện môi trường
khác nhau và đánh giá ảnh hưởng của môi trường lên hệ sinh thái.
Việc nghiên cứu đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thành phần loài nhện
nói riêng ở nhiều sinh cảnh khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá
chất lượng môi trường tại các vùng nghiên cứu. Khu hệ nhện Việt Nam được đánh
giá là có mức đa dạng sinh học cao, nhưng chưa được tập trung nghiên cứu. Trong
những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về nhện. Tuy nhiên, các
nghiên cứu này mới chỉ tập trung chủ yếu trên một số cây trồng nông nghiệp như
lúa, đậu tương, nhãn vải. Các nghiên cứu về nhện ở các sinh cảnh rừng tự nhiên,
đặc biệt là các nghiên cứu về nhện hang động còn rất ít.
Vườn quốc gia Ba Bể còn có một hệ thống hang động vô cùng kỳ thú với hệ
động vật chưa được khám phá. Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu
nào nghiên cứu về nhện trong hang động tại VQG Ba Bể. Từ những lý do trên,
chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu nhện (Araneae) trong hang động tại vườn
quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” để góp phần nghiên cứu nhện ở Việt Nam.
2. Mục tiêu của đề tài
Xác định thành phần loài, nơi cư trú, và ảnh hưởng từ các hoạt động của con
người đến nhện trong hang động khu vực Vườn quốc gia Ba Bể tỉnh Bắc Cạn; là cơ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sinh học và quản lý hang động tại địa phương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
Giới thiệu về nhện
Bộ nhện có tên khoa học là Araneae, tên tiếng anh là spider. Bộ nhện Araneae
thuộc lớp hình nhện Arachnida, ngành động vật chân đốt Arthropoda. Theo
Platnick (2011), bộ nhện chiếm ưu thế về số loài và số lượng cá thể trong 11 bộ
của lớp hình nhện. Trên thế giới đã ghi nhận được 42.751 loài thuộc 3.859 giống
của 110 họ nhện.
Platnick (2006) phân bộ nhện làm hai phân bộ dựa vào cơ quan hô hấp còn
gọi là phổi sách (Book-lungs) và bộ phận nhả tơ (Spinnerets), bao gồm:
Mygalomorphae với hai đôi phổi sách và bốn núm nhả tơ; và Araneomorphae với
một đôi phổi sách và 6 núm nhả tơ.
Nhện khác với côn trùng ở đặc điểm: nhện không có râu, không có mắt kép,
không có cánh và bụng không phân đốt. Trong khi cơ thể côn trùng có 3 phần và 3
đôi chân thì cơ thể nhện chỉ gồm 2 phần và mang 4 đôi chân.
Một số đặc điểm sinh thái, sinh học của nhện
Nhện đóng vai trò là nhóm chân khớp săn mồi đáng kể trong tự nhiên. Côn
trùng là con mồi chủ yếu của nhện nhưng chúng cũng ăn các nhóm chân khớp khác
như rết hay thậm chí một số loài nhện còn ăn cả đồng loại của mình. Trong các loài
Nhện bắt mồi theo hai phương pháp là giăng lưới bắt mồi (thụ động), hoặc
rình và săn mồi tự do (chủ động). Đối với nhóm nhện giăng lưới bắt mồi, sau khi
giăng lưới, chúng nằm yên một chỗ đợi con mồi mắc phải lưới, chúng sẽ nhả tơ
quấn chặt con mồi lại rồi tiêm nọc độc làm con mồi chết. Nhện chăng lưới bắt mồi
chia ra 2 nhóm. Nhóm thứ nhất chăng lưới bắt mồi vào ban ngày, chúng treo tất cả
các bọc chứa con mồi trên mạng để ăn dần. Một nhóm chăng lưới khác thường
hoạt động săn mồi vào ban đêm, chúng giăng lưới vào chiều tối và sáng chúng lại
thu lưới và con mồi lại mang về nơi trú ẩn (họ Araneidae và Tetragnathidae). Đối
với nhện săn mồi tự do, chúng thường rình và vồ con mồi sau đó dùng đôi chân
kìm giữ và tiêm nọc độc làm chết con mồi (như nhện nhảy Salticidae).
Cũng theo Foelix (1996) nhện phát triển qua 3 giai đoạn là trứng, nhện non và
nhện trưởng thành. Giai đoạn con non có thể kéo dài từ 5-7 tuổi tùy theo loài. Nhện
non phải qua nhiều lần lột xác mới tạo nhện trưởng thành. Nhện qua lần lột xác
cuối cùng, cơ quan sinh dục hình thành mới phân biệt được nhện đực nhện cái rõ
ràng. Về kích thước cơ thể thì nhện cái thường lớn hơn nhện đực. Nhện đực sau
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
7
khi thành thục, chúng tìm bạn đời để giao phối. Hầu hết con đực bị chết sau khi
giao phối do bị nhện cái ăn thịt. Tinh dịch của nhện được cất giữ tại chân xúc giác
nhện đực. Sau khi giao phối, nhện cái đẻ trứng thành ổ được bọc bởi tơ nhện do
chính nhện cái tạo ra. Mỗi loài nhện có số lượng và kích thước trứng khác nhau.
Bọc trứng thường được treo trên lưới nhện, trong tổ nhện, hoặc được nhện mẹ
mang theo. Một số loài thuộc họ nhện sói Lycosidae mang trứng ở phần gần cuối
bụng, họ nhện càng cua lớn Heteropodidae mang trứng ở dưới ngực, còn họ
Phocidae thì thường ngậm trứng ở hàm trước. Nhện mẹ canh giữ trứng và nhện con
được từ cao đến thấp là: Indonesia (660 loài), Malaysia (463 loài), Myanma (455
loài), Philippines (426 loài), Singapore (308 loài), Thái Lan (156 loài), Việt Nam
(230 loài).
Họ nhện nhảy Salticidae có số loài ghi nhận được cao nhất trong các họ thuộc
bộ nhện. Tác giả Proszynski (2003) đã xây dựng cơ sở dữ liệu về họ Salticidae trên
thế giới.
Murphy & Murphy (2000) đã đưa ra danh sách các loài nhện ghi nhận được
tại các nước khu vực Đông Nam châu Á, sắp xếp theo thứ tự số lượng loài đã ghi
nhận được từ cao đến thấp là: Indonesia (660 loài), Malaysia (463 loài), Myanma
(455 loài), Philipine (426 loài), Singapo (308 loài), ThaiLan (156 loài), Việt Nam
(230 loài). Theo tác giả, khu hệ nhện của 3 nước thuộc khu vực này bao gồm
Brunei, Campuchia và Lào chưa được nghiên cứu.
Nghiên cứu nhện trên cây lúa ở khu vực Đông Nam châu Á, Barrion và
Litsinger (1995) đã ghi nhận 342 loài thuộc 131 giống của 26 họ nhện. Trên cánh
đồng lúa ở Philippines, Barrion và cs (1981) đã điều tra thu thập và định loại được
32 loài thuộc 21 giống của 9 họ nhện. Okuma và cs (1993) đã công bố 55 loài
thuộc 36 giống của 10 họ nhện bắt gặp trên cây lúa ở Bangladet.
Ở Trung Quốc, nghiên cứu về nhện bắt đầu từ năm 1798. Năm 1999, Song và
Zhu đưa ra danh sách 2361 loài thuộc 450 giống của 56 họ nhện đã ghi nhận được
ở nước này. Cho đến nay, Trung Quốc đã xuất bản được 5 tập sách Động vật chí
của 6 họ nhện bao gồm các họ Araneidae với 286 loài, 33 giống (Yin và cs, 1997);
họ Thomicidae với 115 loài, 29 giống (Song và Zhu, 1997); họ Tetragnathidae với
111 loài, 20 giống (Zhu và cs, 2003); họ Therididae với 223 loài, 27 giống (Zhu,
1998); họ Gnaphosidae với 166 loài, 34 giống (Song và cs, 2004 ); họ
Philodromidae với 30 loài, 3 giống (Song và Zhu, 1997).
Nghiên cứu nhện ở các trang trại trồng cây ăn quả ở Trung Quốc, Chen và
Gao (1990) đã ghi nhận được 332 loài nhện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ghi nhận được 18 loài thuộc 8 họ nhện. Phạm Đình Sắc và Khuất Đăng Long
(2001) đã công bố thành phần loài nhện trên đậu tương tại 3 tỉnh Hà Nội, Hoà Bình
và Bắc Ninh bao gồm 26 loài thuộc 9 họ nhện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
10
Một số công trình nghiên cứu thành phần loài nhện trên cây vải thiều đã được
công bố. Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn (2002) đã ghi nhận được 34 loài nhện
trên cây vải thiều ở Sóc Sơn, Hà Nội; 29 loài nhện trên cây vải thiều ở Mê Linh,
Vĩnh Phúc. Thái Trần Bái và cs (2005) đã phát hiện được 33 loài nhện trên cây vải
thiều ở Thanh Hà, Hải Dương.
Khu hệ nhện ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam
rất ít được nghiên cứu. Tại vườn quốc gia Ba Bể, Phạm Đình Sắc (2003) bước đầu
đã công bố danh sách 82 loài thuộc 23 họ nhện. Lần đầu tiên ở Việt Nam, một loài
nhện có nọc độc họ Theraphosidae đã được tìm thấy ở VQG Tam Đảo tỉnh Vĩnh
Phúc và khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên tỉnh Lạng Sơn (Phạm Đình Sắc và Vũ
Quang Côn, 2005).
Cho đến năm 2005, Việt Nam đã ghi nhận được 275 loài thuộc 144 giống của
30 họ nhện (Phạm Đình Sắc, 2005). Năm 2007 bổ sung thêm 45 loài, 15 giống, 1
họ cho khu hệ nhện Việt Nam (Phạm Đình Sắc và cs, 2007).
Trong giai đoạn từ 2009 đến 2012, tác giả Phạm Đình Sắc phối hợp với các
chuyên gia nước ngoài tiến hành các đợt khảo sát nhện ở miền Bắc Việt Nam, đã
công bố 30 loài nhện mới cho khoa học (Lin & Pham & Li, 2009; Liu, Li & Pham,
2010a, 2010b; Zha, Pham & Li Shuqiang, 2012; Yao, Pham & Li, 2012).
Gần đây nhất, Hirotsugu Ono, Tạ Huy Thịnh, Phạm Đình Sắc (2012) đã thống
kê danh sách các loài nhện ở Việt Nam từ năm 1837 đến 2011 đã ghi nhận được
1.4.
Khái quát về hang động
1.4.1. Các khái niệm về hang động
Thuật ngữ hang động thường được áp dụng để chỉ một khe hở tự nhiên,
trong các loại đá khác nhau, đủ lớn để con người đi vào. Thuật ngữ này mang tính
chủ quan, chỉ dựa trên khả năng tiếp cận của con người, không dựa vào quá trình
hình thành, do đó thiếu khoa học (J. Fromaget, 1997). Đến nửa sau thế kỷ 19, nhờ
những tiến bộ trong thăm dò hang động của nhiều nhà khoa học trên thế giới, khái
niệm về hang động mới dần chính xác và khoa học hơn (Alexander Klimchouk,
1998). Một số khái niệm được chấp nhận và sử dụng hiện nay như:
- Theo hiệp hội hang động quốc tế, hang là sự mở rộng tự nhiên ở dưới các
khối núi đá có chiều rộng đủ để con người đi vào.
- Theo the National Park Service, hang có tổng chiều dài ít nhất 50 feel
(khoảng 15m), chứa các vùng bóng tối hoặc chiều dài của các đoạn hang
vượt quá chiều rộng của cửa ra vào.
- Theo Federal Cave Resources Protection Act of 1988, USA – FCRPA,
bất cứ chỗ trống, hốc, ngách, hoặc hệ thống các đoạn nối liền với nhau,
xảy ra tự nhiên bên dưới bề mặt của trái đất, trong một vách đá hoặc gờ
đủ lớn để cho phép người đi vào, dù lối vào hình thành tự nhiên hoặc do
con người tạo nên.
Từ các khái niệm trên, thì hang động được hiểu là một hang, động kết nối
với mặt đất thông qua lối vào, mà không xét đến hình thái, khích thước và nguồn
gốc.
Mặc dù, chưa có sự thống nhất về cách định nghĩa hang động giữa các quốc
gia gia với nhau, nhưng khái niệm về hang động của hiệp hội hang động thế giới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
rất dễ tiếp cận.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
13
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài nhện trong hang động.
Đặc điểm cấu tạo ngoài của nhện
Cơ thể nhện chia ra 2 phần: phần giáp đầu ngực (Cephalothorax) và phần
bụng (Abdomen), hai phần này được nối với nhau bởi cuống bụng. Phần giáp đầu
ngực bao gồm tấm lưng ngực (carapace) và tấm bụng ngực (sternum). Phía trên
đầu của giáp đầu ngực có miệng (môi trên – endite; môi dưới – labium) và một đôi
chân kìm (chelicera), bên cạnh chân kìm là một đôi chân xúc giác (Palp). Cuối đôi
chân kìm của nhện có đôi răng lớn và khỏe dùng để bắt giữ và giết con mồi. Trên
tấm lưng ngực của nhện còn thấy một cái rãnh (hố - Fovea).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
14
Phần bụng nhện đa dạng về hình dạng, kích thước và màu sắc tùy vào từng
loài. Mặt dưới bụng con cái có cơ quan sinh dục cái và cơ quan hô hấp (booklung),
còn con đực thì chỉ có cơ quan hô hấp. Phần cuối của bụng là hậu môn (anal
tubercle) và bộ phận nhả tơ (Spinnerets). Bộ phận nhả tơ thường có 2 ống nhả tơ
bên trước (ALS - Anterior lateral spinnerets), hai ống nhả tơ bên sau (PLS Posterior lateral spinerets), một số loài có thêm 2 ống ở giữa sau (PMS –
Posterior median spinerets). Một số loài nhện thuộc phân bộ Araneomorphae có
tấm nhả tơ (cribellum – cribellate) ở phía trước bộ phận nhả tơ (spinnerets).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
16
a
b
c
Hình 3. Cấu tạo cơ quan sinh dục của nhện đực
– nằm trên cơ quan xúc giác (male palp). a: Cơ quan sinh dục đực (Entelegyne –
mặt bên); b: Cơ quan sinh dục đực (Entelegyne – Mặt dưới); c: Cơ quan sinh dục
đực (Haplogyne )
Một số cấu phần của cơ quan sinh dục nhện đực (male palp):
-Retrolateral tibial apophysis: mấu gai bên phía sau
-Median apophysis: Mấu giữa
-Cymbium: Mặt trên của đốt cuối râu nhện đực (cơ quan xúc giác – cơ quan
-Haplogyne: Cơ quan sinh dục của nhện thiếu thể sinh dục ngoài do đó chỉ
có một cặp ống dẫn để vận chuyển tinh dịch từ tử cung tới túi nhận tinh trong suốt
quá trình thụ tinh
2.2. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trong ba năm 2012-2014. Thu thập mẫu vật được
tiến hành trong 2 đợt:
- Đợt 1: Tháng 9-10 năm 2012
- Đợt 2: Tháng 4-5 năm 2013
Thời gian còn lại, chúng tôi tiến hành thu thập tài liệu, phân tích mẫu, xử lý số
liệu và viết báo cáo.
2.3. Địa điểm và phạm vi nghiên cứu
2.3.1. Giới thiệu về Vườn quốc gia Ba Bể
* Vị trí địa lý
- VQG Ba Bể mở rộng bao gồm vùng bảo vệ nghiêm ngặt và vùng đệm nằm ở các
xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Cao Thượng, Quảng Khê, Cao Trĩ thuộc vùng núi đá
vôi xen kẽ các thung lũng đất hẹp thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Với toạ độ địa
lý (theo UTM 1 / 50.000) 105036’ Đông, 22030’ Bắc,VQG Ba Bể cách Hà Nội 254
km, cách thị xã Bắc Kạn 75 km, nằm trên trục đường Hà Nội - Cao Bằng (tuyến
giao thông quan trọng Quốc gia).
- Vườn có diện tích 7.610 ha, trong đó diện tích khu bảo vệ nghiêm ngặt 3.226,2
ha; khu phục hồi sinh thái 4.083,6 ha; khu hành chính phục vụ 300,2 ha; và vùng
đệm 42.100 ha.
- Vườn quốc gia Ba Bể có ranh giới như sau:
+ Phía Đông và Bắc: Giáp các xã Cao Thượng, Cao Trĩ và Khang Ninh (huyện Ba
Bể), xã Yến Dương, Chu Hương (huyện Chợ Đồn).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chức năng điều tiết lũ cho sông Năng và mang hai tính chất rõ rệt:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
20
Tính chất của hồ nước ngọt tự nhiên lớn.
Tính chất là đoạn cuối của sông chợ Lèng.
Điều kiện khí hậu trong lành mát mẻ rất tốt cho sức khoẻ con người nên có
thể mở rộng khai thác du lịch theo loại hình nghỉ ngơi, an dưỡng, nghỉ cuối tuần.
Hồ Ba Bể được bao bọc bởi những vách núi đá vôi với nhiều hang ngầm khi
ẩn khi hiện và được ca ngợi là hồ đẹp nhất Việt Nam, được công nhận là di tích
lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1996 có sức hấp dẫn lớn đối với khách du khách.
Diện tích mặt hồ lớn và mực nước ổn định quanh năm tạo điều kiện thuận lợi cho
các hoạt động du lịch trên hồ thăm các đảo, hang động, danh lam thắng cảnh khác.
Ngoài ra, còn có thể phát triển thêm một số trò thể thao nước.
*Địa chất, địa hình, thổ nhƣỡng
- VQG Ba Bể nằm trong vùng caxtơ chợ Rã Ba Bể - Chợ Đồn, hai khối này là
khối đá vôi Givet ( Kỷ đề vôn giữa ) nằm trên phiến đá Protezol , bên cạnh hai khối
đá hoa cương. Tuổi tuyệt đối của khối đá vôi này đã trải qua chế độ lục địa khoảng
200 triệu năm. Điều này nói nên sự già nua các dịa hình caxtơ ỏ đây khác với các
nơi khác. Độ cao trung bình của núi đá vôi là 800 - 900 m so với mặt nước biển.
Dạng địa hình caxtơ điển hình tạo thành nhiều hệ thống hang động, núi đá
vôi đẹp mà tiêu biểu là hệ thống các hang động kỳ vĩ như Động Puông, Động Tiên,
Động Nả Phòng, Động Ba Cửa, Hang Sơn Dương... Diện tích trong lòng hang
động lên tới hàng trăm hàng nghìn m2 với các loại nhũ đá, cột đá hình thù sinh
động độc đáo. Địa hình khu vực cũng tạo nên hồ Ba Bể , một trong những di sản
thiên nhiên độc đáo và đẹp bậc nhất nước ta. Hồ Ba Bể nằm kẹp giữa hai dãy núi
VQG Ba Bể có thảm thực vật rừng đặc trưng riêng thể hiện ở các kiểu rừng
và trạng thái rừng sau:
Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi: phân bố từ
độ cao 400 đến 700m, diện tích còn lại nhỏ do bị tác động, loài ưu thế: Nghiến,
Trai, Đinh, Lát hoa, một số loài họ Giẻ. ở ven hồ có loài Trâm trắng, Trâm vối,
Ken, Si, Mùng Quân.
Rừng rậm thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở thung lũng tập trung một số loài
Sấu, Thung , Đinh thôi. Trong kiểu này rừng phân thành 4 tầng rõ rệt, có tầng vượt
tán là Thung thân trắng phân biệt với nền xanh của 3 tầng dưới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
22
Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đất: phân bố chủ
yếu ở độ cao 200 đến 800 m với một số loài Giẻ, Thích, Lòng mang ở trên đỉnh
cao; Đinh, Lát, Sấu ở thấp hơn và Hu, Trám, Sồi, Chẹo ở những rừng phục hồi sau
nương rẫy.
Thảm cây bụi, cây gỗ rải rác ( trên núi đá và núi đất ): đa phần là các cây gỗ
tạp (Thôi ba, Thôi chanh, Hồng bì rừng ) và các cây bụi như Tổ kén, Cò ke.
Rừng tre nứa với các loại Vầu, Trúc sào và một ít diện tích rừng Nứa, Tre mậy
hốc, Trúc dây - loài đặc hữu thường mọc tập trung ở các vách đá ven hồ và sông
Năng.
Với khu hệ thực vật có tính đa dạng sinh học cao mang cả tính chất bản địa
và di cư với nhiều loài quý hiếm và đặc hữu. Đây vừa là điểm hấp dẫn lớn với du
khách đồng thời là đối tượng nghiên cứu của khoa học. Những loại hình du lịch
tương ứng với tiềm năng này phải kể đến là tìm hiểu, nghiên cứu khoa học trong
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.4.1.
Nghiên cứu thực địa
Sử dụng các phương pháp điều tra, thu mẫu chuẩn đối với nhện (Churchill,
1993; Churchill và Arthur, 1999), bao gồm:
Phương pháp bắt trực tiếp bằng tay: sử dụng đèn để quan sát trong hang tối
và sử dụng các dụng cụ hỗ trợ như phanh mềm, panh cứng, chổi lông, ống hút để
thu bắt nhện trong hang. Nhện sẽ được cho vào lọ có chứa cồn 80 độ để giữ mẫu
mang về phòng thí nghiệm.
Phương pháp dùng rây rác : để thu các mẫu nhện trong các lớp rác bề mặt,
sỏi đất vụn ở nền hang . Rây rác gồm một túi được chia làm 2 phần ngăn cách với
một rây lưới làm bằng kim loại có kích thước mắt lưới 1-2 cm2. Miệng rây rác
rộng, gắn với một vòng kim loại hoặc gỗ có cán cầm để cố định kích thước và hình
dạng của miệng rây rác. Đáy của rây rác có dạng một cái túi mở, có dây để huộc
đáy lại thành dạng túi. Cho rác, đất, sỏi trên nền hang vào rây rác. Dùng tay lắc
mạnh sao cho các nhóm động vật lẫn trong lớp đất đá và rác rơi xuống túi bên dưới
của dây rác. Các loại rác, lá cây và đất đá có kích thước lớn sẽ bị giữ lại ở tầng trên
của rây rác. Loại bỏ lớp rác tầng trên, cho toàn bộ đất đá, rác lá vụn có lẫn động
vật rơi xuống tầng dưới của rây rác vào một tấm vải hoặc nilon trắng. Dùng panh,
ống hút hoặc chổi lông để bắt nhện lẫn trong rác vụn và giữ trong cồn 80 độ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
24
Phương pháp sử dụng bẫy hố: Bẫy hố cấu tạo gồm hai cốc nhựa. Cốc nhựa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
25