8.7. Vài nét về nguồn gốc và sự tiến hóa của ngành
Ngọc lan
Quá trình tiến hóa của thực vật bậc cao nói chung và
ngành Ngọc Lan nói
riêng là làm sao cho cơ thể ngày càng thích nghi với
môi trường sống, bảo vệ được
cơ thể, sinh sản và phát triển cao nhất để chiếm ưu
thế trong thế giới thực vật.
Chính vì vậy mà bản thân mỗi loài hoặc các tập hợp
loài (bộ, họ...) đã biểu hiện các
tính chất đấu tranh sinh tồn qua nhiều mặt.
- Biến đổi cơ quan dinh dưỡng để ngày càng thích
nghi với đời sống ở cạn: lúc
đầu chỉ có quản bào dần tiến đến mạch thủng lỗ
thang, đến mạch thủng lỗ đơn.
- Từ cây trung bình Cây gỗ cây thảo nhiều năm
cây thảo 1 năm.
- Biến đổi cơ quan sinh sản để thích nghi theo hai
hướng thụ phấn.
+ Thụ phấn nhờ gió: bao hoa kém hoặc không phát
triển, hoa không tập hợp
thành cụm hoa, đây là hướng phụ.
+ Thụ phấn nhờ sâu bọ: là hướng chủ yếu, chiếm
90% tổng số loài và thể hiện
theo 2 cách:
* Thể hiện trong sự thay đổi cấu trúc của các thành
phần trong hoa như: cánh
hoa, nhị, nhụy, từ đều đến không đều ở các bộ: Đậu,
Lan, Hoa môi...
* Thể hiện trong cấu trúc cả cụm hoa như ở bộ Cúc,
điểm khác với Ngọc Lan: phần lớn cây thảo (trừ
Hồi), thân và lá không có tế bào
tiết, mạch có bản ngăn đơn. Hoa có cấu tạo gần giống
Ngọc Lan nên chúng có quan
hệ gần gũi nhưng theo hướng tiến lên cây thảo.
Các bộ Trochodendrales, Tetracentrales, Sau sau,
Gai, Dẻ, Hồ đào, Phi lao...
tiến từ Ngọc Lan lên theo hướng thụ phấn nhờ gió
nên bao hoa đơn giản hóa đi.
Trong đó bộ Trochodendrales, Tetracentrales, Sau
sau còn giữ quan hệ khá rõ với
Ngọc Lan. Từ bộ Sau sau sẽ cho ra nhiều hướng tiến
hóa tiếp không tiến xa hơn
nữa. Vì vậy chúng được xếp chung vào một phân lớp
là phân lớp Sau sau.
Phân lớp Cẩm chướng là một phân lớp nhỏ nằm ở vị
trí trung gian giữa kiểu
hoa thích nghi theo lối thụ phấn nhờ sâu bọ của các
phân lớp khác và kiểu thích
nghi theo lối thụ phấn nhờ gió của phân lớp Sau sau.
Tính chất đặc trưng của chúng
là phôi cong và lối đính noãn giữa, cây phần lớn
thuộc thảo. Chúng bắt đầu từ Mao