skkn những giải pháp quản lý để nâng cao kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi những môn xã hội ở trường THPT ngô thì nhậm - Pdf 32

Những giải pháp quản lý để nâng cao kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi
những môn xã hội ở trường THPT Ngô Thì Nhậm.
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục và đào tạo nước ta đã và đang từng bước phát triển vững chắc, tạo
nền tảng cho việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Trong
đường lối và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo, Đảng ta đã coi “giáo dục và
đào tạo là quốc sách hàng đầu” và khẳng định: muốn tiến hành công nghiệp hóa,
hiện đại hóa thắng lợi, phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn
lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững. Đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay, “nguồn lực con người” là vô cùng quan trọng. Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ XI đã xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực
chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc
dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa
học, công nghệ là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội giai đoạn 2011-2020. Nhà nước đã có nhiều chính sách để đào tạo và nâng cao
nguồn nhân lực. Ngân sách Nhà nước dành riêng cho giáo dục được chú trọng để
đầu tư đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và GV, xây dựng, cải tạo và nâng cấp hệ
thống trường lớp, trang thiết bị, đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa và
phương pháp dạy học… Trong đó, hệ thống trường chuyên, trường THPT chất
lượng cao được đầu tư xây dựng nhằm mục tiêu bồi dưỡng, đào tạo, phát huy năng
lực đặc biệt của mỗi học sinh. Trong chương trình kế hoạch đào tạo của mô hình
trường THPTchất lượng cao, bồi dưỡng HSG luôn được coi là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm.

Ngày 24/6/2010, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết

định và phê duyệt “Đề án phát triển hệ thống trường THPT chuyên giai đoạn 2010
– 2020”, trong đó nhấn mạnh đến công tác đào tạo, bồi dưỡng HSG và sinh viên
tài năng. Nghị quyết số 07-NQ/HĐND của Hội đồng nhân ân ngày 20/7/2013 về
việc phê duyệt đề án 04 /ĐA-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình trong đó
có nhấn mạnh phát triển một số cơ sở giáo dục đào tạo chất lượng cao… Như vậy,


Nhì

Ba

2011-2012
KK

Nhất

Nhì

Ba

2012-2013
KK

Nhất

Nhì

Ba

KK

Toán

0




1

2

2

1

2

1

1

1

3

2

1

2

1

1

Anh

12

2

3

5

46

1
1

1

3

6

2

4

5

3

1

3

Tự



Tự

Tự



nhiên

hội

nhiên

hội

nhiên hội

nhiên

hội

0

17

3


2010-2011

2011-2012

2012-2013

Năm học
học

Đồ thị so sánh chất lượng học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 12 giữa các môn Tự
nhiên và Xã hội từ năm 2009 đến năm 2013
1.2 Đánh giá về kết quả HSG cấp tỉnh một số năm gần đây:
Dựa vào đồ thị trên cho thấy giải HSG cấp tỉnh các môn tự nhiên kém rất
nhiều cả vế số lượng giải lẫn chất lượng giải so với xã hội. Qua nghiên cứu thực
tiễn và lí luận tôi cho rằng lí do dẫn đến thực trạng trên là như sau:
- Chất lượng tuyển sinh lớp 10.
Điểm trung bình của mỗi môn thi trên một học sinh nằm trong khoảng từ 5-6
điểm ở mức trung bình. Số lượng học sinh tạo nguồn của chất lượng mũi nhọn (có
tổng điểm trên 40 điểm và đạt điểm 9 của mỗi môn) là quá ít. Những học sinh nằm
trong các đội tuyển HSG THCS các môn Toán, Văn, Lí, Hóa, Sinh 1-2 học sinh
trong các đội dự tuyển thuộc các môn Sử, Địa, Anh.

3


Điểm bình
quân tổng
số học sinh
tuyển


0

0

Năm học

Tổng
số HS
tuyển
vào

Tổng điểm

Điểm ≥ 9

≥ 40

Anh Lí

Hóa

SL

%

3

3

1.1

để phát hiện mấu chốt về cách giải của bài toán. Hay như ngôn ngữ của giáo viên
thường hay nói với nhau đó là HS đó phải có “tầm”. Mà với mức độ đề thi HSG thì
điểm mấu chốt của các bài toán không bài nào giống bài nào, không có dạng cụ
thể. Cho dù một giáo viên có giỏi đến mấy và nhiệt tình bao nhiêu đi chăng nữa
cũng không bao giờ khái quát hết được cho học sinh. Do vậy nếu HS không có
“tầm” thì cho dù có cần cù chăm chỉ thế nào chăng nữa thi cũng chỉ đạt được một
4


“ngưỡng” nhất định. Đó chính là những sự khác biệt cơ bản giữa môn tự nhiên và
môn xã hội dẫn tới nguyên nhân tại sao việc bồi dưỡng HSG những môn xã hội có
giải cao thuận lợi hơn những môn tự nhiên.
- Đội ngũ giáo viên những môn xã hội có kinh nghiệm và có trình độ chuyên
môn vững vàng.
Từ khi chuyển đổi loại hình tự Bán công sang công lập trường được phép
tuyển dụng thêm giáo viên biên chế theo quy định. Đa phần là giáo viên chuyển
công tác ở đơn vị khác chuyển về, số còn lại là tuyển mới đối tượng là sinh viên
vừa tốt nghiệp ra trường. Ở các nhóm Văn, Sử , Địa đa số GV có thâm niên công
tác trên dưới 10 năm và hầu hết đạt danh hiệu GV giỏi cấp tỉnh tróng đó có cả giải
Nhất, Nhì…
Môn
Văn

Tổng số

Nhất

1

2


50
33
33

3

1

3

1

1

%
43

Địa

2

SL
3

Sử

7

Giáo viên giỏi cấp tỉnh

giải pháp quản lý để nâng cao kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi những môn xã
hội ở trường THPT Ngô Thì Nhậm”.
2. Giải pháp cũ thường làm:
Đầu năm lớp 10 BGH nhà trường giao đội tuyển HSG cho một giáo viên phụ
trách. Giáo viên phụ trách chủ động lựa chọn nhân sự ở những lớp được phân công
giảng dạy, nội dung chương trình, KH giảng dạy, phương pháp giảng dạy. Sau
mỗi học kỳ giáo viên trực tiếp phụ trách đội tuyển tự ra đề thi nộp về nhà trường,
nhà trường tổ chức kiểm tra tập chung toàn trường sau đó giao bài cho giáo viên
dạy đội tuyển đó chấm và nộp kết quả về nhà trường.
2.1 Ưu điểm:
Phát huy được tính tích cực, tự chịu trách nhiệm của cá nhân. Giáo viên chủ
động trong việc thực hiện kế hoạch.
2.2 Nhựơc điểm:
- Nhà trường không quản lí được việc thực hiện kế hoạch của giáo viên. Dẫn
đến tình trạng giáo viên không thực hiện đúng tiến độ: Lúc thì không dạy, lúc lại
dạy dồn nén ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giảng dạy, làm học sinh không tập
trung say mê, hứng thú…
6


- Nội dung chương trình mang tính chủ quan của cá nhân nên không phát huy
được sức mạnh tập thể và thế mạnh của mỗi cá nhân trong nhóm chuyên môn.
- Việc kiểm tra đánh giá thiếu tính khách quan nên rất khó trong việc phát
hiện những mặt mạnh, yếu của học sinh để khắc phục và phát huy kịp thời.
3. Giải pháp mới cải tiến:
3.1 Phát hiện, tuyển chọn học sinh giỏi.
Thực tế cho thấy, việc phát hiện, tuyển chọn học sinh giỏi là thao tác vừa khó
khăn vừa vô cùng quan trọng là công việc bắt buộc trong công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi. Bởi đây là không chỉ việc phát hiện được những học sinh có năng khiếu
thực sự, đi tìm được những “hạt giống” đang cần được “ươm mầm” mà còn là yếu

sát nhằm đảm bảo cho đề thi có độ chính xác tuyệt đối và đạt được mục đích tìm
kiếm học sinh giỏi.
- Quán triệt các yêu cầu đối với đề thi: Đề thi phải phù hợp với đối tượng và
có thể phân loại được khả năng nhận thức, tư duy sáng tạo của người học. Đồng
thời các câu trong đề thi cần được phân chia theo các mức tư duy: Nhận biết –
Vận dụng – Thông hiểu. Hay nói cách khác là làm sao đề kiểm tra cần tạo ra
“khoảng trống” trong đó, tạo cơ hội cho học sinh được khai thác và khám phá, qua
đó người học bộc lộ tối đa khả năng của mình. Tức là đề thi làm sao đảm bảo được
mục đích là phát hiện, lựa chọn được những học sinh có năng khiếu cho bộ môn
yêu cầu.
- Chỉ đạo các khâu chấm bài nghiêm túc đánh giá khách quan kết quả làm bài
thi của học sinh:
Các thao tác này cần đảm bảo tính trung thực, công bằng, khách quan của
giáo viên chấm, tránh việc chấm bài đại khái, hoặc tình cảm cá nhân vào đánh giá
học sinh nói chung. Nếu làm như vậy thì việc xây dựng kế hoạch và quá trình tổ
chức thực hiện đến đây đã “phá sản” . Vì khi việc đó xảy ra đồng nghĩa với việc
người chúng ta cần tìm thi lại không thấy, chúng ta lại tập hợp một lớp học với
nhiều “tầng lớp” với nhau, hoàn toàn không hiệu quả . Khi được phân công giáo
viên chấm bài cần chú ý đến điều này là trong quá trình phát hiện học sinh giỏi,
đồng thời cần thống nhất đáp án và phân công chấm chéo các bài của học sinh.
Bước 2: Thành lập đội tuyển.

8


Sau khi đã thống nhất được kết quả và đánh giá bài thi cần được công bố
danh sách đội tuyển học sinh giỏi theo từng môn tới học sinh và toàn thể nhà
trường. Qua đó thành lập được đội tuyển học sinh giỏi của từng bộ môn.
Như vậy là đã hoàn thiện được khâu có ý nghĩa quan trọng trong công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi đó là phát hiện, tuyển chon học sinh giỏi.

Ngoài ra yêu cầu giáo viên hướng dẫn học sinh các tài liệu tin cậy, phù hợp
với trình độ của các em để tự rèn luyện thêm ở nhà. Đồng thời cung cấp hoặc giới
thiệu các địa chỉ trên mạng để học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu, bổ sung kiến
thức.
3.4 Phân công bồi dưỡng:
Phân công giảng dạy là việc làm được cụ thể trong cuộc trao đổi chuyên môn
này. Khi đã thống nhất được nội dung kiến thức, kĩ năng ôn luyện. BGH phân công
giáo viên chịu trách nhiệm chính bồi dưỡng đội tuyển. Ở khâu này cần lựa chọn tín
nhiệm một giáo viên có chuyên môn vững vàng và có nhiều kinh nghiệm nhất.
Sau. Và ngay sau đó chỉ đạo nhóm chuyên môn họp và thống nhất phân công
nhiệm vụ bồi dưỡng trong nhóm trên cơ sở nguyên tắc sau:
- Giáo viên nào có “sở trường ” về phần nào thì sẽ ôn luyện về mảng đó cho
học sinh.
- Cần đảm bảo cân đối về nội dung công việc với từng giáo viên tham gia dạy,
tránh tình trạng có giáo viên thì dạy ít, giáo viên lại quá tải về công việc hoặc có
người thì dạy toàn phần có ưu thế có người lại toàn phần khó…. Vì thế cân đối,
đồng đều là chúng ta cần tính đến trong phân công giảng dạy cho giáo viên bồi
dưỡng học sinh giỏi.
3.5. Đổi mới phương pháp dạy học:
- Tổ chức tập huấn, phổ biến các phương pháp dạy học tích cực theo hướng
tạo hứng thú phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. Đặt tiêu chí hứng thú
của học sinh lên hàng đầu trong việc đánh giá giờ dạy của giáo viên thông qua các
tiết dự giờ báo trước và không báo trước của BGH. Chiều thứ 2 hàng tuần lần lượt
mỗi nhóm chuyên môn vận dụng các phương pháp dạy học tích cực đã được tập
huấn vào tiết thao giảng sau đó tổ chức rút kinh nghiệm. Qua đó tạo thành phong
trào và GV chủ động, tích cực hơn trong đổi mới phương pháp dạy học.
10


Một số phương pháp dạy học tích cực hiện đại:



Hiện nay, sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học nói chung, dạy học
các môn xã hội nói riêng là một nguyên tắc dạy học đã được nhiều giáo viên coi
là “nguyên tắc vàng”. Việc sử dụng nguồn tư liệu, hiện vật quan sát ngoài thực tế
khi sử dụng trong dạy học các môn khoa học xã hội không chỉ là phương tiện trực
quan giảng dạy có giá trị, mà còn là một nguồn kiến thức phong phú cung cấp
cho học sinh. Chính vì vậy nhà trường đã có kế hoạch chỉ đạo:
- Tổ chức cho học sinh được đi tham quan học tập tại các di tích lịch sử, danh
lam thắng cảnh của địa phương, các công trình kiến trúc, hang động, nhà bảo tàng,
nhà truyền thống, các làng nghề ở địa phương... nhằm củng cố, khắc sâu hơn kiến
thức đã học. Các năm trở lại đây, hoạt động ngoại khóa tham quan bảo tàng Quân
đoàn 1 và bảo tàng Hồ Chí Minh là hoạt động thường niên được tổ chức vào dịp
22.12 của nhóm Sử Trường THPT Ngô Thì Nhậm.
- Liên hệ với phòng văn hóa thị xã trình chiếu các phim tài liệu, phim truyện
lịch sử như “Cuộc chiến 10.000 ngày”, “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, “ Đừng
đốt”, “ Những người viết huyền thoại” , “Miền cỏ cháy”…
3.7 Tăng cường chỉ đạo việc lồng ghép giáo dục địa phương vào các bài
giảng:
Khi giảng dạy các nội dung này, giáo viên cung cấp cho học sinh những kiến
thức về địa lý, kinh tế, văn hoá, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, văn học dân
gian, danh nhân địa phương... Trong quá trình dạy, giáo viên cần gắn các nét đặc
thù của địa phương xã, huyện nơi các em sinh sống, nhất là các di tích lịch sử, di
tích cách mạng, công trình kiến trúc, các lễ hội truyền thống ...vào bài giảng một
cách cụ thể, sinh động thông qua các câu chuyện, các bài báo trên các ấn phẩm địa
phương để bài giảng sinh động, tránh khô cứng, máy móc.
Do ưu thế của giáo dục địa phương là những địa điểm, sự kiện, rất quen
thuộc, đễ tiếp xúc ngay tại địa phương. Ở một mức độ nào đó, có khi học sinh đã
biết, đã nghe, đã nhìn thấy. Vì vậy, giáo viên phải tận dụng tối đa các hình thức
dạy học, phát huy hết khả năng của học sinh đối với việc thu nhận kiến thức thông

từng em học sinh có thể vừa sửa lỗi cho bạn vừa tự rút kinh nghiệm cho mình. Hơn
thế nữa các em lại có thể học tập ở bạn của mình cách trình bày, phân tích, lời
giải…Và một điều quan trọng là các em được đánh giá người khác điều này tạo
động cơ, thúc đẩy các em tự học vươn lên để khẳng định vị trí của mình trong đội
tuyển. Trong hoạt động này GV đóng vai trò là trọng tài ngồi quan sát . Khi tranh
13


luận học sinh sẽ bộc lộ cái tôi của mình điều này rất quan trọng trong khâu lựa
chọn đội tuyển chính thức:
+ Thứ nhất các em sẽ bộc lộ bản lĩnh của mình. Đối với những kỳ thi cấp
tỉnh chở lên thì bản lĩnh “ thi đấu” cực kỳ quan trọng Kinh nghiệm cho thấy có
những học sinh mặc dù kiến thức vững hơn nhưng nếu bản lĩnh “ thi đấu” kém thì
kết quả cũng không cao được điều này thể hiện rõ giưa học sinh nam và học sinh
nữ.
+ Thứ 2 là GV có thể đánh giá mức độ “nắm chắc” kiến thức của học sinh.
Chỉ có những học sinh nắm chắc kiến thức mới quyết đoán trong đánh giá.
- Giáo viên nhận xét, kết luận kiến thức: Trong qúa trình chấm bài cho bạn,
học sinh có thể xảy ra tranh luận “nảy lửa” thậm chí có cả hiện tượng “cãi thầy”
về những đơn vị kiến thức chưa được giải đáp và chưa đi đến thống nhất. Lúc này
cần sự vào “vào cuộc ” của giáo viên với bản lĩnh và trình độ chuyên môn vững
vàng với cách lí giải thuyết phục. Điều này rất tốt cho thấy rằng học sinh đã thực
sự kiến thức sâu, phong phú mà chỉ nhờ vào qúa trình tìm tòi học sinh mới có thể
có được.
- Khâu cuối cùng đó là sử lí kết quả:
+ Kết quả kiểm tra của các em được theo dõi và phân tích trong 3 năm. Qua
mỗi đợt kiểm tra nhà trường yêu cầu giáo viên phân tích nguyên nhân đối với cả 2
đối tượng: học sinh tiến bộ và học sinh giả sút để kịp thời rút kinh nghiệm. Nếu là
dấu hiệu tích cực thì điều đó khẳng định cách làm và hướng đi của chúng ta là
đúng tiếp tục phát huy và ngược lại. Những mặt hạn chế đặc biệt là về phía học

trường không chuyên trong toàn tỉnh sau vòng thi chọn đội tuyển chính thức. Với
kết quả đó thầy và trò nhà trường đã được vinh danh tại Lễ vinh danh các học sinh
đạt giải cao môn lịch sử trong kỳ thi chọn HSG Quốc gia năm 2014 do Hội Khoa
học lịch sử phối hợp với Quỹ phát triển sử học tổ chức vào ngày 23/4/2014 tại Văn
Miếu Quốc Tử Giám- Hà Nội .
- Đây cũng là lần đầu tiên đội tuyển Địa lí của nhà trường có 1 học sinh lọt
vào đội dự tuyển quốc gia sau khi dự thi kỳ thi HSG vòng 1 và đạt giải Nhì. Vì em
chỉ đứng thứ 7 trên 12 học sinh trong vòng thi chọn đội tuyển chính thức(6 học
sinh) nên em không được chọn vào đội tuyển chính thức tham dự kỳ thi cấp Quốc

15


gia. Ngoài ra 6 học sinh đội tuyển Địa lí dự kỳ thi cấp tỉnh thì cả 6 em đều đạt giải
trong đó có : 1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 3 giải Ba và xếp thứ nhất toàn Tỉnh.
Với những thành tích đã đạt được như trên lần đầu tiên nhà trường được SGD
tặng cờ thi đua giải Ba trong phong trào bồi dưỡng học sinh Giỏi. Đứng thứ 8 trên
24 trường THPT trong toàn tỉnh vượt 9 bậc so với năm học trước. Và thành tích
này cũng góp phần cho nhà trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học được
SGD tặng danh hiệu trường tiên tiến xếp thứ 6 trên 27 trường và nhận cờ hạng Ba.
Còn hiệu quả nữa mà không gì có thể mua được đó là bộ mặt nhà trường đã
được thay đổi. Phụ huynh và học sinh trên địa bàn thị xã đã có cái nhìn khác đi về
nhà trường và đây cũng là mục tiêu chính của thầy và trò nhà trường nói chung và
của tác giải đề tài nói riêng.
4.1 Hiệu quả kinh tế:
Đây là đề tài trong lĩnh vực giáo dục vì vậy hiệu quả kinh tế trực tiếp thì
chúng ta không nhìn thấy được nhưng gián tiếp thì không thể đánh giá hết được
hiệu quả của nó.
Ví dụ như: Trên cơ sở cải tiến về phương pháp quản lí cũng như dạy và học
nhà trường đã góp phần đào tạo cho đất nước những nhân tài rồi đây các em sẽ

bộ quản lí và cho giáo viên.
- Cần cử đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi biên soạn tài liệu tham khảo, hướng dẫn công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi cho các trường khác học tập.
2.2 Đối với nhà trường:
- Cần tăng cường công tác xây dựng sao cho sát thực với điều kiện thực tế
của từng nhà trường.
- Việc chỉ đạo, phân công giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi cần chú ý đến
giáo viên kế cận.
- Tiếp tục đổi mới quản lí và có những giải pháp phù hợp để nâng cao chất
lượng HSG những môn khoa học tự nhiên trong các năm học tiếp theo.
2.3 Đối với giáo viên:

17


Mỗi giáo viên trong nhà trường không chỉ riêng GV những môn xã hội cần
tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao tinh thần tự học tự
nghiên cứu, học hỏi trau dồi kiến thức chuyên môn nghiệp vụ để luôn có tâm
thể sẵn sàng tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Hơn thể nữa là đáp ứng
những yêu cầu cao của hoạt động chuyên môn này.
Xác nhận của nhà trường

NGƯỜI VIẾT

NGUYỄN THÀNH CHUNG

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status