PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
- Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức WTO để hợp tác
phát triển và cạnh tranh trong xu thế toàn cầu hoá. Sự cạnh tranh gay gắt và
quyết liệt, mà trước hết là giáo dục giữa các quốc gia đã và đang đặt ra cho
nước ta những cơ hội, đồng thời là những thách thức mới về năng lực phát
triển và cạnh tranh về chất lưọng, năng suất lao động, đặc biệt là chất lượng
nguồn nhân lực.
- Năm 2009 Việt Nam đạt 200 sinh viên trên một vạn dân, gấp đôi Trung
Quốc, ngang bằng với nền giáo dục chất lượng cao Malaysia và Singapo.
Hơn thế nữa chất lượng nguồn nhân lực Viêt Nam năm 2009 xếp thứ 11/12
nước Châu Á. Nhưng sinh viên Việt Nam ra trường vẫn rất khó tìm được
việc làm (đặc biệt là không đáp ứng được yêu cầu cao của công ty tư nhân
và công ty nước ngoài), nước ta vẫn phải thuê các chuyên gia nước ngoài.
- Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào nền giáo dục. Đảng ta xác định:
+ Giáo dục là quốc sách hàng đầu
+ Giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
+ Giáo dục là nền tảng và là động lực phát triển kinh tế xã hội và đẩy mạnh
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Giáo dục đã nhận được sự quan tâm và đầu tư rất lớn từ nhà nước và xã hội
nhưng thực tế ''Nền giáo dục nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội'':
+ Nền giáo dục nước ta qua 20 năm đổi mới vẫn còn là nền giáo dục nặng
nề về thi cử, khoa bảng với nội dung giảng dạy đơn điệu.
+ Cung và cầu giáo dục có khoảng cách lớn. Cung ứng giáo dục không theo
được nhu cầu giáo dục mà thị trường lao động, việc làm đang đòi hỏi;
không đáp ứng được nhu cầu của người học và có khoảng cách xa trong
việc đáp ứng sự đòi hỏi của phát triển kinh tế xã hội.
+ Chúng ta chưa có chính sách phát huy, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân
tài hợp lý, nên dẫn đến hiện tượng ''chảy máu chất xám''.
1
2
thi tuyển sinh đại học, cao đẳng nhằm đáp ứng nhu cầu rất lớn từ tất cả học
sinh THPT.
Đó là tất cả các lý do thôi thúc chúng tôi làm đề tài này:
“Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập dùng bồi dưỡng học
sinh giỏi phần kiến thức cơ sở hoá học chung lớp 10 trường trung học
phổ thông’’
2. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hoá học ở trưòng THPT
Việt Nam.
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bài tập phần cơ sở hoá học chung
lớp 10 ở trường THPT phục vụ cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Xây dựng hệ thống bài tập phần cơ sở hoá học chung nhằm phát
hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, để đạt thành tích cao trong các kì thi học
sinh giỏi cấp tỉnh, và thi vào đại học, cao đẳng.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về việc phát hiện và bồi
dưỡng học sinh giỏi.
- Nghiên cứu cấu trúc chương trình và hệ thống bài tập phần cơ sở
hoá học chung lớp 10 trường THPT.
- Xây dựng hệ thống bài tập dùng bồi dưỡng học sinh giỏi phần cơ sở
hoá học chung lớp 10 trường THPT.
- Thực nghiệm sư phạm với hệ thống bài tập dùng bồi dưỡng học
sinh giỏi phần cơ sở hoá học chung lớp 10.
5. Giả thuyết khoa học
- Nếu xây dựng được hệ thống bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi phần
cơ sở hoá học chung lớp 10 có chất lượng tốt thì sẽ nâng cao chất lượng bồi
1.1.
Lịch sử nghiên cứu của việc bồi dưõng học sinh giỏi phần cơ sở
hoá học chung lớp 10
Chúng tôi xác định rõ chất lượng đào tạo( được phản ánh trực
tiếp bằng kết quả thi tuyển sinh đại học và kết quả đội tuyển học
sinh giỏi) là nhiệm vụ sống còn của một nhà trường. Vì vậy, yêu cầu
cấp bách là đổi mới phương pháp dạy học
Việc nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi đã được chú
trọng từ lâu. Đã có rất nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án
về đề tài bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học. Luận văn của Đỗ Văn
Minh về bồi dưỡng học sinh giỏi phần hóa học vô cơ. Luận văn của
Đỗ Quỳnh Mai về xây dựng hệ thống bài tập hóa học hữu cơ phát
triển tư duy cho học sinh trung học phổ thông chuyên hóa. Luận văn
của Nguyễn Tiến Hoàn về xây dựng hệ thống lý thuyết và bài tập
phần cấu tạo nguyên tử và liên kết hóa học dùng bồi dưỡng học sinh
giỏi trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế, olympic hóa
học. Luận án của TS Vũ Anh Tuấn về xây dựng hệ thống bài tập hóa
học nhằm rèn luyện tư duy trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi hóa
học ở trường phổ thông. Mới đây nhất là luận án của TS Nguyễn Thị
Ngà về xây dựng hệ thống bài tập hóa học đại cương làm tài liệu tự
học cho học sinh chuyên hóa. Song chưa có luận văn hoặc luận án
nào về xây dựng hệ thống bài tập phần cơ sở hóa học chung để bồi
dưỡng học sinh giỏi các trường không chuyên, những trường chiếm
đại đa số trong các trường THPT. Như vậy đề tài của chúng tôi là
tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần cơ sở hóa học
chung lớp 10 trường THPT, là đề tài mới, cần thiết cho tất cả đối
5
olympic hóa học quốc tế. Sự thành công đó, có sự đóng góp rất lớn của rất
nhiều nhà hóa học: cố GS.TSKH Nguyễn Ngọc Quang nghiên cứu lý luận
về bài toán hóa học; GS.TSKH Nguyễn Cương nghiên cứu về lý luận
phương pháp dạy học và thí nghiệm hóa học; PGS.TS Nguyễn Xuân
Trường, PGS.TS Lê Xuân Trọng, PGS.TS Nguyễn Hữu Đĩnh, PGS.TS
Trần Thành Huế nghiên cứu về bài tập hóa học nâng cao, và mới đây là
luận án tiến sĩ về bồi dưỡng học sinh giỏi của TS Vũ Anh Tuấn.
Tất cả những thành tựu to lớn trên, yêu cầu chúng ta càng ngày càng
phải coi trọng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, để trong tương lai chúng ta
có những nhà khoa học đầu ngành, những chuyên gia, nguồn lao động chất
lượng cao.
1.2.2. Học sinh giỏi hóa học
1.2.2.1. Quan niệm về học sinh giỏi
Hầu hết các nước đã nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề học
sinh giỏi từ rất sớm (thời phong kiến) và họ đã có chế độ riêng để bồi
dưỡng và sử dụng người tài. Vậy thế nào là học sinh giỏi?
Nhìn chung các nước đều dùng hai thuật ngữ chính là gift (giỏi, có
năng khiếu) và talent (tài năng). Theo cơ quan Giáo dục Mỹ: "Học sinh giỏi
là những học sinh có khả năng thể hiện xuất sắc hoặc có năng lực nổi trội
trong các lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, khả năng lãnh đạo, nghệ thuật hoặc
các lĩnh vực lý thuyết chuyên biệt. Những học sinh này thể hiện tài năng
đặc biệt của mình từ các bình diện văn hóa, xã hội và kinh tế.. ".
Như vậy những học sinh này cần có sự phục vụ và những hoạt động
không theo những điều kiện thông thường của nhà trường nhằm phát triển
đầy đủ các năng lực vừa nêu trên.
1.2.2.2. Năng khiếu Hoá học
- Một trong những mục tiêu quan trọng của dạy học nói chung và hóa
học nói riêng là phát hiện những học sinh có năng khiếu về bộ môn để kịp
nhiên dẫn đến niềm say mê Hóa học nhưng khả năng tư duy Toán học chưa
tốt thì việc nghiên cứu Hóa học gặp rất nhiều khó khăn .
8
1.2.2.3. Những phẩm chất và năng lực cần có của một học sinh giỏi môn
Hoá học
- Có kiến thức hóa học cơ bản vững vàng, sâu sắc, hệ thống. Để có
được phẩm chất này đòi hỏi học sinh phải có năng lực tiếp thu kiến thức,
tức là có khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng; có ý thức tự bổ sung,
hoàn thiện kiến thức.
- Có trình độ tư duy hóa học phát triển. Tức là biết phân tích, tổng hợp,
so sánh, khái quát hóa, có khả năng sử dụng phương pháp phán đoán như
qui nạp, diễn dịch, loại suy. Để có được những phẩm chất này đòi hỏi người
học sinh phải có năng lực suy luận logic, năng lực kiểm chứng, năng lực
diễn đạt…
- Có khả năng quan sát, nhận thức, nhận xét các hiện tượng tự nhiên.
Phẩm chất này được hình thành từ năng lực quan sát sắc sảo, mô tả, giải
thích hiện tượng các quá trình hóa học; năng lực thực hành của học sinh.
- Có khả năng vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo kiến thức, kỹ
năng đã có để giải quyết các vấn đề, các tình huống. Đây là phẩm chất cao
nhất cần có ở một học sinh giỏi.
1.2.2.4. Dấu hiệu nhận biết học sinh giỏi
- Khả năng định hướng: Ý thức nhanh chóng và chính xác đối tượng
cần lĩnh hội, mục đích phải đạt được và những con đường tối ưu đạt được
mục đích đó.
- Bề rộng: Có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác.
- Độ sâu: Nắm vững ngày càng sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện
tượng.
Những điều kiện
Phương pháp giải
Những yêu cầu
Phương tiện giải
1.3.2. Tác dụng của bài tập hoá học
- Kiến thức chỉ thực sự được khắc sâu, hiểu sâu, và sự sáng tạo được
phát huy khi học sinh được vận dụng vào làm bài tập. Bài tập hóa học là
10
phương tiện, phương pháp, mục tiêu dạy học giúp nâng cao chất lượng dạy
học hóa học. Bài tập hóa học còn là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn để
học sinh thấy rõ tính thực tiễn của bộ môn.
- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú.
Chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập học sinh mới nắm vũng kiến thức
một cách sâu sắc.
Ví dụ: Nguyên tố X có lớp ngoài cùng là 4s1. Xác định vị trí của X trong bảng
tuần hoàn.
Học sinh thường chỉ viết được một cấu hình của K (Z=19): [Ar]4s 1. Mà quên
rằng X còn có thể là Cr(Z=24) [Ar]3d54s1 hoặc Cu(Z=29): [Ar]3d104s1. Do
hiện tượng chuyển electron để đạt cấu hình bán bão hòa (Cr) phân lớp d và
bão hòa phân lớp d (Cu) bền hơn cấu hình ban đầu.
- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách
tốt nhất.
Ví dụ: Bài tập sau giúp học sinh gắn kết các chương về nguyên tử, bảng
Tổng số mol Fe: x + y + 3z + 2t = 56
Số mol Oxi: y + 4z + 3t =
12 − m
16
Số mol NO: x + 3y + 3z = 0,3
C2: phương pháp bảo toàn electron
O
Fe +
→ 12gam X HNO
→ Fe3+
3
2
Xét cả quá trình trên
Fe
→
Fe3+ +
m
56 (mol)
O2
+ 0,3
56
8
→ m = 10,08 gam
- Bài tập hoá học còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu
tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật) khi trang bị kiến thức mới,
giúp học sinh tích cực, tự lực, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền
vững. Điều này thể hiện rõ khi học sinh làm bài tập thực nghiệm định
lượng.
- Bài tập hoá học phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh và hình
thành phương pháp học tập hợp lý.
- Bài tập hoá học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng
của học sinh một cách chính xác.
- Bài tập hoá học có tác dụng giáo dục đạo đức, tác phong, rèn tính
kiên nhẫn, trung thực, chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc
khoa học (có tổ chức, kế hoạch...), nâng cao hứng thú học tập bộ môn. Điều
này thể hiện rõ khi giải bài tập thực nghiệm.
Tuy nhiên, mọi tác dụng của bài tập hóa học chỉ được phát huy khi
giáo viên sử dụng nó phù hợp với từng đối tượng học sinh, và phải biết
cách khai thác triệt để mọi khía cạnh của bài toán, để học sinh tự mình tìm
ra cách giải.
1.3.3. Phân loại bài tập hoá học [30]
Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa trên cơ sở khác
nhau:
a/ Dựa vào mức độ kiến thức: (cơ bản, nâng cao)
b/ Dựa vào tính chất bài tập: (định tính, định lượng)
c/ Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh: (lý thuyết, thực nghiệm)
d/ Dựa vào mục đích dạy học: (nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập, luyện tập,
kiểm tra)
lượng, phần lớn là đặt ẩn số, dựa vào mối tương quan giữa các ẩn số để lập
phương trình, giải phương trình hay hệ phương trình và biện luận kết quả
(nếu cần).
d/ Đánh giá việc giải
14
- Việc đánh giá việc giải có rất nhiều tác dụng:
+ Kiểm tra lại được toàn bộ quá trình giải, xem có sai sót gì không? có
dữ kiện nào thừa không? giúp rèn cho học sinh tính cẩn thận.
+ Xem cách đã giải có ưu nhược điểm gì? điểm đặc biệt của bài toán này
là gì? còn cách nào tốt hơn không, giúp rèn tư duy đa hướng và óc thông
minh mà thực tế cuộc sống rất cần.
+ Có thể sửa bài toán đã cho thành bài toán tổng quát hơn, phức tạp hơn,
dễ hơn như thế nào? điều này giúp rèn cho học sinh tính mềm dẻo của tư
duy.
Như vậy việc đánh giá việc giải là vô cùng quan trọng. Giáo viên cần tổ
chức tốt việc này để phát huy hết tác dụng của bài tập hóa học
1.3.5. Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và việc giải bài tập hoá học
Đây thực chất là mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành (việc vận
dụng lý thuyết vào giải bài tập).
Học sinh chỉ giải tốt và sáng tạo bài tập hóa học khi nắm vững kiến thức
hóa học.Việc không nắm vững kiến thức hóa học sẽ dẫn đến việc giải sai,
hoặc phải mò mẫm cách giải. Nếu không có lý thuyết soi đường thì thực
tiễn trở thành mù quáng.
Ngược lại, học sinh chỉ nắm vững kiến thức khi kiến thức được vận
dụng để giải bài tập. Trong quá trình giải bài tập học sinh phải huy động
kiến thức, lựa chọn kiến thức xem thuộc chương nào, bài nào, mục nào, rồi
phải cấu trúc lại mối quan hệ các đơn vị kiến thức đó, sau đó họ phải tìm
cách vận dụng và vận dụng sáng tạo lý thuyết vào bài tập. Quá trình vận
Bài 5 (5 điểm) cấu tạo nguyên tử.
- Hòa Bình: Bài 1 (6 điểm) về cấu tạo nguyên tử và bảng tuần hoàn.
Bài 3 (6 điểm) về liên kết hóa học.
- Nghệ An: Trong tổng số 5 bài có 2 bài phần cơ sở hóa học chung: về cấu
tạo nguyên tử và cân bằng hóa học.
- Đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng khối A năm 2007 (Mã đề 930)
- 1 câu về cấu hình electron (câu 5)
- 4 câu về phản ứng oxi hóa khử (câu 2, câu 14, câu 41 và câu 42)
- 1 câu về bảng tuần hoàn (câu 35)
Đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng khối B năm 2007 (Mã đề 817)
- 3 câu về phản ứng oxi hóa khử (câu 3, câu 42, câu 12)
- 1 câu về liên kết hóa học (câu 8)
16
- 2 câu về bảng tuần hoàn (câu 39 và câu 44)
Đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng khối A năm 2008 (Mã đề 518)
- 1 câu về sắp xếp bán kính các nguyên tử (câu 5)
- 1 câu về xác định loại liên kết trong các chất (câu 10)
- 1 câu về xác định chiều chuyển dịch cân bằng hóa học (câu 15)
- 1 câu về xác định sản phẩm oxi hóa khử (câu 31)
- 1 câu xác định vai trò của chất trong phản ứng oxi hóa khử (câu 35)
- 1 câu xác định sự khử hay sự oxi hóa xảy ra ở điện cực (câu 39)
Đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng khối B năm 2008 (Mã đề 195)
- 4 câu về phản ứng oxi hóa khử (câu 1, câu 13, câu 19, câu 47)
- 1 câu về bảng tuần hoàn (câu 2)
- 1 câu về cân bằng hóa học (câu 23)
Đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng khối A năm 2009 (Mã đề 438)
- 2 câu về bảng tuần hoàn (câu 14, câu 20)
- 3 câu về phản ứng oxi hóa khử (câu 17, câu 23, câu 29)
luyện tập phải mang tính chất giả định, thiếu thực tế.
Ví dụ :
+ Cấu tạo của HNO3; H2SO4; H3PO4... viết theo kiểu liên kết đôi hay liên
kết cho nhận (giữa nguyên tử trung tâm và oxi), khi đó giải thích hóa trị của
nguyên tử trung tâm như thế nào? nguyên tử trung tâm có lai hóa không?
+ Tại sao Cu2+: [Ar]3d9 (chưa bão hòa 3d) còn Cu +: [Ar]3d10 (bão hòa 3d ),
nhưng Cu2+ lại bền hơn?
- Về thực chất chương trình Hóa học THPT mang tính chất định lượng
trên cơ sở định tính. Vì vậy, các đề thi học sinh giỏi ở cấp tỉnh bắt buộc
phải đề cập đến những nội dung có những đặc điểm trên và việc tuyển chọn
khó có thể chính xác được.
- Các sách tham khảo rất tràn lan, rất khó lựa chọn bộ sách mà hệ
thống bài tập có chất lượng cao. Cần phối hợp các sách, tuyển chọn kĩ
lưỡng để có hệ thống bài tập đa dạng về thể loại và có chiều sâu hợp lí về
nội dung .
1.5.2. Thực trạng dạy học phần cơ sở hóa học chung lớp 10
18
- Trong các kì thi có kiến thức cơ sở hóa học chung học sinh Kim Sơn
thường đạt điểm không cao: thi học sinh giỏi tỉnh (các trường này thường
không tham dự vòng 2 kì thi học sinh giỏi về phần cơ sở hóa học chung)
đặc biệt là kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng.
- Đa số giáo viên dạy phần kiến thức cơ sở hóa học chung 10 (phần kiến
thức khó, trừu tượng ) là giáo viên mới ra trường, chưa có kinh nghiệm dạy
học.
- Quá trình đi dự giờ các giáo viên dạy hóa học 10 trong trường THPT Kim
Sơn B tôi thấy họ ít sử dụng bài tập hóa học khi dạy học phần cơ sở hóa học
chung, mà đa số là thuyết trình .
- Số giờ luyện tập ít, trong giờ giáo viên thường chỉ chữa được 4 hoặc 5 bài
- Tình hình thực tế của việc dạy học phần kiến thức cơ sở hóa học chung 10
không có hiệu quả cao trong khi đề thi học sinh giỏi và đề thi tuyển sinh đại
học dành phần không nhỏ cho vấn đề này vì nó là cơ sở để học tốt hóa học.
Tất cả những vấn đề trên đặt ra yêu cầu cấp bách cần phải có biện pháp
nâng cao chất lượng dạy học phần cơ sở hóa học chung lớp 10. Việc xây
dựng hệ thống bài tập tốt sẽ giải quyết được bài toán trên .
20
CHƯƠNG II: TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG
HỆ THỐNG BÀI TẬP DÙNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
PHẦN KIẾN THỨC CƠ SỞ HÓA HỌC CHUNG LỚP 10 TRƯỜNG
THPT
2.1. Cấu trúc và đặc điểm chương trình cơ sở hóa học chung lớp 10
THPT dùng bồi dưỡng học sinh giỏi
2.1.1. Cấu trúc chương trình cơ sở hóa học chung dùng bồi dưỡng học
sinh giỏi kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh, thi tuyển sinh đại học, cao đẳng
2.1.1.1. Cấu tạo nguyên tử
- Cấu tạo nguyên tử:
+ Nguyên tử trung hòa về điện nên số proton bằng số electron.
+ Khối lượng của nguyên tử tập trung hầu hết ở hạt nhân. Vì vậy số khối A
xấp xỉ bằng nguyên tử khối.
+ Kích thước hạt nhân quá nhỏ bé so với khoảng không gian mà electron
chuyển động. Nguyên tử có cấu tạo rỗng.
- Cấu hình electron:
+ Các nguyên lý và quy tắc phân bố electron trong nguyên tử
+ Cấu hình electron theo: lớp, phân lớp, obitan
+ Cấu hình electron rút gọn, cấu hình electron ở trạng thái kích thích
+ Electron hóa trị, electron độc thân
- Các loại liên kết hóa học: Liên kết cộng hóa trị (trường hợp đặc biệt là
liên kết cho nhận), liên kết ion, liên kết kim loại
- Giải thích dạng hình học phân tử:
+ Các obitan xen phủ nhau lớn nhất để tăng mật độ điện tích âm giữa hai
hạt nhân hình thành liên kết hóa học
+ Có hai kiểu xen phủ của obitan hình thành liên kết: Xen phủ trục tạo liên
kết σ bền vững, xen phủ bên tạo liên kết Л(pi) kém bền
+ Sự lai hóa các obitan: Các kiểu lai hóa có sp, sp2, sp3 ...
- Thuyết cấu tạo hợp chất hữu cơ: Đồng đẳng, đồng phân, sự ảnh hưởng
qua lại giữa các nguyên tử trong phân tử
22
- Lực liên kết liên phân tử: Để giải thích trạng thái tồn tại của chất (rắn,
lỏng , khí), hoặc so sánh nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ sôi của các chất thì
phải so sánh lực liên kết liên phân tử giữa chúng:
+ Liên kết Van der Waals: phụ thuộc vào khối lượng phân tử, độ phân cực
và độ phân cực hóa của phân tử
+ Liên kết hiđro: liên kết hiđro liên phân tử, liên kết hiđro nội phân tử.
Những hợp chất có liên kết hiđro thường dễ tan trong nước, có nhiệt độ
nóng chảy và nhiệt độ sôi cao như alcol, axit cacboxylic…
- Các loại mạng tinh thể: Tinh thể phân tử, tinh thể nguyên tử, tinh thể ion
- Các khái niệm:
+ Hóa trị: Hóa trị một nguyên tố bằng số electron độc thân có thể có của
nguyên tố đó (theo thuyết liên kết hóa trị VB)
+ Công thức electron, công thức cấu tạo
+ Độ bội liên kết
+ Độ dài liên kết: Độ dài liên kết càng ngắn nếu bán kính nguyên tử càng
ngắn và độ bội liên kết càng lớn
+ Phản ứng oxi hóa khử nội phân tử: Chất oxi hóa và chất khử ở cùng phân
tử
- Cân bằng phản ứng oxi hoá khử:
+ Phương pháp thăng bằng electron
+ Phương pháp ion - electron
- Xác định vai trò các chất trong phản ứng oxi hóa khử
- Xét chiều phản ứng oxi hoá khử:
Phản ứng oxi hóa khử xảy ra theo chiều chất oxi hóa mạnh hơn tác dụng
với chất khử mạnh hơn để tạo ra chất oxi hóa yếu hơn và chất khử yếu hơn
- Dãy điện hóa của kim loại
- Xác định sản phẩm phản ứng oxi hóa khử
- Giải bài toán bằng phương pháp bảo toàn electron
2.1.1.5. Tốc độ phản ứng và cân bằng hoá học
- Phân loại phản ứng hóa học: dựa vào năng lượng liên kết, tính hiệu ứng
nhiệt của phản ứng để xét phản ứng là tỏa nhiệt hay thu nhiệt
24
- Biểu thức tốc độ phản ứng
- Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng
- Xác định chiều chuyển dịch cân bằng của phản ứng dựa vào nguyên lý
chuyển dịch cân bằng Lơstadie
- Biểu thức tính hằng số cân bằng hóa học K cb , các loại hằng số cân bằng
Kc, Kp và mối quan hệ giữa chúng
- Tính nồng độ các chất ở trạng thái cân bằng,nồng độ ban đầu, hằng số cân
bằng hóa học, độ chuyển hóa α
2.1.2. Đặc điểm của chương trình cơ sở hóa học chung lớp 10 dùng bồi
dưỡng học sinh giỏi
- Rất nhiều kiến thức mới, khó và trừu tượng. Chương trình cơ sở hóa học
chung gồm chủ yếu các học thuyết và định luật mới, các khái niệm mới,