Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT vào dạy học các trường THCS quậnLê Chân - thành phố Hải Phòng - Pdf 32

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thứ nhất: Xuất phát từ xu thế hội nhập và toàn cầu hoá. Việc tiếp
nhận những công nghệ mới trong đó CNTT là yếu tố khách quan và tất yếu
để khẳng định sự hưng thịnh của một quốc gia. Giáo dục không nằm ngoài
quy luật đó, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục thể hiện sự lớn mạnh về
khoa học, về công nghệ, về kinh tế… của một đất nước. Một đất nước muốn
phát triển nhanh và bền vững thì nền kinh tế tri thức phải được ưu tiên hàng
đầu. CNTT đã làm thay đổi căn bản bức tranh của nền kinh tế tri thức đó.
Để đáp ứng yêu cầu hội nhập thế giới công nghệ hiện đại; đáp ứng
yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục
thực sự phải đi trước, đón đầu và đổi mới. Và để hoàn thành sứ mệnh của
mình, các nhà quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương hơn ai hết
phải hiểu tầm quan trọng của CNTT với công tác giáo dục và phải có những
biện pháp quản lý hiệu quả để việc ứng dụng CNTT trở thành một nhiệm vụ
trọng tâm, chủ yếu và tất yếu.
Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 của Chính phủ đã nhận
định: “Sự đổi mới và phát triển giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu
tạo cơ hội tốt để giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với các xu thế
mới, tri thức mới, những cơ sở lý luận, phương thức tổ chức, nội dung giảng
dạy hiện đại và tận dụng các kinh nghiệm quốc tế đổi mới và phát triển”
Chỉ thị số 29/2001/CT BGD&ĐT ngày 30 tháng 7 năm 2001 của Bộ
GD&ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành
giáo dục giai đoạn 2001-2005 nêu rõ: “CNTT và đa dạng phương tiện sẽ tạo
ra những thay đổi lớn trong hệ thống quản lý giáo dục, trong chuyển tải nội
dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương
pháp dạy và học”.

1





- Đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục; tăng tính hiệu quả và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học ở
trường THCS.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý việc ứng dụng CNTT vào dạy học trong các trường
THCS .
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý việc ứng dụng CNTT vào dạy học các trường
THCS
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT vào dạy học trong
các trường THCS quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2007-2009.
- Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT vào dạy học trong các trường
THCS quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2010-2015.
- Đề tài được tiến hành khảo sát, điều tra trong phạm vi:
+ 10 trường THCS tại quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
+ 15 Lãnh đạo và chuyên viên Phòng GD & ĐT
+ 30 Cán bộ quản lý (hiệu trưởng và phó hiệu trưởng) các trường
THCS trong quận.
+ 88 giáo viên của 4 trường THCS trong quận.
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, việc tăng cường ứng dụng CNTT vào dạy học trong các
trường THCS quận Lê Chân còn mang tính hình thức, chưa thấy rõ được
hiệu quả thực sự của việc đổi mới. Nếu tìm được các biện pháp thích hợp thì
sẽ nâng cao được chất lượng giáo dục trong các nhà trường.

3


4


7.4. Xử lý kết quả điều tra bằng thống kê toán học
Phân tích xử lý các thông tin thu được, các số liệu bằng thống kê toán học.
8. Cấu trúc luận văn
Chương 1: Lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học.
Chương 2: Thực trạng ứng dụng CNTT vào dạy học các trường
THCS quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT vào dạy học các
trường THCS quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
9. Dự kiến điểm mới của đề tài
- Mô tả thực trạng việc ứng dụng CNTT trong dạy học các trường
THCS quận Lê Chân, phân tích và đánh giá thực trạng đó.
- Đề xuất một số biện pháp ứng dụng CNTT vào dạy học nhằm cải
thiện thực trạng vừa phân tích.

5


CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu
Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn nền kinh tế tri thức. Vì
vậy việc nâng cao hiệu quả chất lượng GD&ĐT sẽ là yếu tố sống còn và
quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Việc áp dụng những
công nghệ mới vào giáo dục trong đó có CNTT chính là một trong những giải
pháp nâng cao chất lượng giáo dục. Điều này đặt ra vấn đề cho các nhà quản

hành chính và hoạt động của Chính phủ. Hai là, phối hợp GD&ĐT tin học.
Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore. Một
Ủy ban máy tính Quốc gia (NCB) được thành lập để chỉ đạo công tác đó.
Năm 1980 chính sách tin học của Đài Loan đã được công bố và “Kế
hoạch 10 năm phát triển CNTT ở Đài Loan” đã đề cập đến cấu trúc tổ chức
của CNTT trong nước và những nội dung mà chính phủ cần làm để phát
triển CNTT, tiếp tục khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường thế giới.
Ở Hàn Quốc, các hoạt động về chính phủ điện tử và ứng dụng CNTT
được phân biệt: Các dự án có liên quan đến nhiều Bộ, Ngành, địa phương
được xem như là dự án chính phủ điện tử được sử dụng ngân sách tập trung.
Các dự án ứng dụng CNTT được tiến hành bởi từng Bộ, Ngành, địa phương
sử dụng ngân sách chi thường xuyên hoặc “Quỹ Thúc Đẩy” CNTT do Bộ
Thông tin và Truyền thông quản lý. Tương ứng, có hai cơ quan chỉ đạo và
điều phối: Ban thúc đẩy tin học hóa và Ban đặc biệt về chính phủ điện tử
thuộc Ban đổi mới chính phủ của Tổng thống. Ban thúc đẩy tin học hóa có
nhiệm vụ trông coi và khai thông các chính sách, kế hoạch và dự án để tạo
điều kiện thúc đẩy Hàn Quốc thành một xã hội thông tin tiên tiến. Ban này
có trách nhiệm trông coi các chức năng về tin học hóa, khởi xướng và hiệu
đính kế hoạch các chiến lược về tin học hóa và các kế hoạch triển khai liên

7


quan, điều phối việc xây dựng các dự án và các chính sách, xây dựng và sử
dụng siêu xa lộ thông tin quốc gia, đưa ra các biện pháp quản lý và vận hành
các nguồn tài chính, đánh giá hiệu quả của các chính sách và hoạt động về
CNTT.
Trưởng Ban thúc đẩy tin học hóa là Thủ tướng, 24 bộ trưởng các bộ là
ủy viên, Bộ Thông tin và Truyền thông là thường trực. Ban thúc đẩy tin học
hóa gồm có các Ban điều hành tin học hoá gồm 24 thứ trưởng; Ban tư vấn

Thông tin và Truyền thông nhưng vẫn hỗ trợ về kỹ thuật cho Bộ nội vụ, làm
cầu nối cho các nội dung chính phủ điện tử và ứng dụng CNTT, đảm bảo
tính thống nhất về hệ thống.
+ Các vấn đề chuyên sâu đều được đưa ra nghiên cứu và thảo luận kỹ
tại các tiểu ban trước khi tổng hợp xin ý kiến các ủy viên hoặc đưa ra thảo
luận tại phiên họp toàn thể.
(Theo tin “Chính phủ điện tử Hàn Quốc” trên tạp chí PCWorldVN
cập nhật ngày 01/4/2008).
Ở Australia vào tháng 3 năm 2000, Hội đồng Bộ trưởng đã ủng hộ
hướng đi được trình bày trong tài liệu “Cơ cấu chiến lược cho nền kinh tế
thông tin”, tài liệu này bao gồm hai mục tiêu giáo dục trường học bao quát
cho nền kinh tế thông tin, đó là:
Một là: Tất cả mọi học sinh sẽ rời trường học như những người sử
dụng tin cậy, sáng tạo và hiệu quả những công nghệ mới, bao gồm CNTT và
viễn thông, và những học sinh này cũng ý thức được tác động của những
ngành công nghệ này lên xã hội.
Hai là: Tất cả các trường đều hướng tới việc kết hợp CNTT và viễn
thông vào trong hệ thống của họ, để cải thiện khả năng học tập của học sinh,
để đem lại nhiều cơ hội học tập hơn cho người học và làm tăng hiệu quả của
việc thực tập kinh doanh của họ”.
(Theo “Cơ cấu chiến lược cho nền kinh tế thông tin” ở Australia của
tạp chí PCWorldVN).

9


1.1.3. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam cũng đã có chương trình quốc gia về CNTT (1996-2000)
và Đề án thực hiện về CNTT tại các cơ quan Đảng (2003-2005) ban hành
kèm theo Quyết định 47 của Ban Bí thư trung ương Đảng. Mặt khác, tại các

Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ứng dụng
trong hệ thống giáo dục đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.
* Hội thảo quốc gia về CNTT&TT lần thứ IV vừa diễn ra tại thành
phố Huế với chủ đề : “CNTT và sự nghiệp giáo dục – y tế” là: làm thế nào
để thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động ứng dụng CNTT nhằm phục vụ một cách
hiệu quả nhất cho sự phát triển của giáo dục trong điều kiện nguồn lực còn
hạn chế của chúng ta.
* Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT&TT: “Các giải pháp công
nghệ và quản lý trong ứng dụng CNTT&TT vào đổi mới phương pháp dạy
học” do trường ĐHSP Hà Nội phối hợp với dự án Giáo dục đại học tổ chức
từ 9-10/12/2006. Nội dung hội thảo gồm các chủ đề chính sau:
- Các giải pháp về công nghệ trong đổi mới phương pháp dạy (phổ
thông, đại học và trên đại học): công nghệ tri thức, công nghệ mã nguồn mở,
các hệ nền và công cụ tạo nội dung trong e-learning, các chuẩn trao đổi nội
dung bài giảng, công nghệ trong kiểm tra đánh giá,...
- Các giải pháp, chiến lược phát triển ứng dụng CNTT&TT vào đổi
mới phương pháp dạy học: chiến lược phát triển, kinh nghiệm quản lý, mô
hình tổ chức trường học điện tử, mô hình dạy học điện tử,...
- Các kết quả và kinh nghiệm của việc ứng dụng CNTT trong dạy
học: xây dựng và sử dụng phần mềm dạy học, kho điện tử, ...
Trong các hội thảo, các nhà khoa học, các nhà quản lý đã mạnh dạn
đưa ra các vấn đề nghiên cứu vị trí tầm quan trọng, ứng dụng và phát triển
CNTT đặc biệt là các giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục.
Gần đây đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu về ứng dụng CNTT
trong lĩnh vực giáo dục ở nước ta, chẳng hạn như:

11


- Trần Thị Đản: “Một số biện pháp tổ chức triển khai việc ứng dụng

học trong các trường THCS ở địa phương hiện nay.
1.2. Dạy học ở trường THCS
1.2.1. Quá trình dạy học và phương pháp dạy học
1.2.1.1. Quá trình dạy học
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm trong bất cứ loại hình nhà
trường nào, dưới góc độ giáo dục học. Dạy học là một quá trình toàn vẹn có
sự thống nhất giữa hai mặt của các chức năng hoạt động dạy và hoạt động học.
Dạy học gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: hoạt động dạy học
của giáo viên và hoạt động của học sinh. Trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ
chức, điều khiển của giáo viên, người học tự giác, tích cực tổ chức, tự điều
khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học. Trong
hoạt động dạy học, hoạt động của giáo viên giữ vai trò chủ đạo, hoạt động
học của người học có vai trò chủ động, tích cực. Hoạt động dạy của giáo
viên và hoạt động học của học viên có liên hệ tác động lẫn nhau. Nếu thiếu
một trong hai hoạt động thì việc dạy học không diễn ra.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo: “Quá trình dạy học là quá trình dưới
sự lãnh đạo, tổ chức điều khiển của ngưới giáo viên, người học tự giác, tích
cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của
mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học”.
Theo tác giả Nguyễn Thị Tuyết Oanh: “Hoạt động dạy học là hoạt
động chuyên biệt của người giáo viên nhằm tổ chức, điều khiển, triển khai,
điều chỉnh quá trình lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng và kỹ xảo trong hoạt
động học tập của học sinh từ đó giúp các em không chỉ lĩnh hội mà còn biết
cách lĩnh hội tri thức (dạy cái và dạy cách) tạo ra sự phát triển tâm lý, hình
thành nhân cách”.
Như vậy, chúng ta thấy: sự điều khiển tối ưu hoá quá trình học sinh
chiếm lĩnh khái niệm khoa học và bằng cách đó phát triển và hình thành nhân
cách. Dạy và học có những mục đích khác nhau, nếu học nhằm vào việc chiếm

13

Trò

-

Trò trong nhóm.

Thầy

-

Nhóm trò.

14


Sơ đồ 1.1. Cấu trúc của quá trình dạy học
Khái niệm khoa học

Dạy

Học

Truyền đạt

Lĩnh hội

Điều khiển

Tự điều khiển


hình thành các phẩm chất nhân cách; phát triển những khả năng và năng lực).
phương pháp dạy học là cách mà người dạy chỉ đạo (tổ chức, điều khiển, lãnh
đạo) hoạt động của người học và cách mà người học tiến hành hoạt động lĩnh
hội năng lực của con người”.
Như vậy phương pháp dạy học thực chất là cách thức hoạt động của
giáo viên được thực hiện trong quá trình dạy học để tác động đến người học,
nhằm giúp học sinh chủ động đạt được mục tiêu dạy học đã đề ra.
Đối với giáo dục phổ thông hiện nay, Luật giáo dục 2005 quy định:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động và sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của lớp học, môn
học; bồi dưỡng phương pháp tự học, kả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại
niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” ( Điều 28.2)
Qua các khái niệm về phương pháp dạy học đã nêu ở trên tác giả nhận
thấy phương pháp dạy học là cách thức giữa người dạy và người học nhằm
chiếm lĩnh tri thức, thực hiện nhiệm vụ dạy học đã đề ra. Việc đổi mới
phương pháp dạy học trong đó có ứng dụng CNTT không nhằm ngoài mục
đích thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học nói riêng và giáo dục nói chung.

16


1.2.2. Phương tiện kỹ thuật dạy học và các loại phương tiện kỹ thuật dạy học
Để việc dạy học đạt hiệu quả cao, trong quá trình dạy học người giáo
viên và học sinh phải sử dụng các phương tiện dạy học mà thông thường mọi
người vẫn gọi là thiết bị dạy học. Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng
bao gồm việc đổi mới các thiết bị - phương tiện dạy học, đổi mới tư duy, đổi
mới cách nghĩ, cách dạy, cách quản lý việc sử dụng các phương tiện dạy học
sao cho hoạt động này trở thành thói quen thường xuyên trong từng tiết lên
lớp của giáo viên.

1.
2.
3.
4.
5.

Tranh, ảnh, bảng, biểu đồ
Bản đồ, sách giáo khoa
Mô hình, vật mẫu, mẫu vật
Dụng cụ
Phim slide

6. Bản trong dùng cho máy chiếu
overhead
7. Băng, đĩa ghi âm, đài cassete
8. Băng đĩa ghi hình, ti vi, màn hình..
9. Phần mềm dạy học

Bốn loại hình phương tiện dạy học đầu là phương tiện dạy học truyền
thống. Các phương tiện dạy học này được giáo viên và học sinh khai thác trực
tiếp lượng thông tin chứa đựng trong phương tiện.
Các loại hình từ 5 đến 9 có đặc điểm là muốn khai thác lượng thông tin
chứa đựng trong phương tiện phải có thêm các máy móc chuyên dùng. Tất cả
các hệ thống đó người ta quen gọi là các phương tiện kỹ thuật dạy học hay
còn gọi là phương tiện nghe nhìn. So với các phương tiện dạy học truyền
thống thì các phương tiện kỹ thuật dạy học có nhiều ưu điểm nổi trội hơn.
Đặc điểm của phương tiện kỹ thuật dạy học có một số đặc điểm:
1. Mỗi phương tiện kỹ thuật dạy học bao gồm 2 khối: Khối mang thông
tin và khối chuyển tải thông tin tương ứng:
Khối mang thông tin

biện pháp quản lý các phương tiện kỹ thuật dạy học. Thật vậy, trong xã hội
hiện đại ngày nay hiệu quả giảng dạy của giáo viên phụ thuộc một phần lớn
vào phương tiện dạy học và việc sử dụng phương tiện kỹ thuật dạy học hiện
có của mỗi nhà trường. Quản lý tốt các phương tiện kỹ thuật dạy học sẽ có tác
động tích cực đối với việc nâng cao chất lượng dạy học. Để quản lý tốt
phương tiện dạy học các chủ thể quản lý phải có kế hoạch mua sắm, bổ sung
trang thiết bị dạy học đồng thời phải sử dụng triệt để các phương tiện dạy học
hiện có nhằm phục vụ tốt nhất việc dạy học trong mỗi nhà trường.
1.2.3. Quản lý việc đổi mới dạy học trong nhà trường
Theo tác giả Phan Thị Hồng Vinh: Quản lý các hoạt động dạy học và
giáo dục là những hoạt động có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng đến
tập thể giáo viên, học sinh và những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác, phối hợp trong các hoạt động
của nhà trường giúp quá trình dạy học và giáo dục vận động tối ưu tới các
mục tiêu dự kiến. [27].
Dạy học bao gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng: hoạt động
dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Trong đó dưới sự lãnh
đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên, người học tự giác, tích cực tự tổ
chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những
nhiệm vụ dạy học. Trong hoạt động dạy học, hoạt động dạy của giáo viên
có vai trò chủ đạo, hoạt động học của học sinh có vai trò tự giác, chủ động,
tích cực. Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh có

19


liên hệ, tác động lẫn nhau. Nếu thiếu một trong hai hoạt động đó việc dạy
học không diễn ra.
Nội dung quản lý hoạt động dạy học:
- Lập kế hoạch: Xây dựng kế hoạch năm học, kế hoạch hoạt động của

giáo khoa ở phổ thông có nhiều việc đặt ra đối với nhà trường và từng giáo
viên. Đương nhiên sẽ có rất nhiều việc mới, nhiều quyết định mới của lãnh
đạo. Thực tế sẽ kiểm nghiệm tính hiệu quả của chúng. Đó là cơ sở để chế biến
chúng trở thành luật lệ của nhà trường.
Trong thực tế, 3 giai đoạn trên đây có lúc phải tiến hành xen kẽ, cũng
có lúc phải tiến hành đồng thời. Một biện pháp mới mà tốt, ta muốn nó sống
lâu song khi nó trở thành lề thói cũ kĩ thì sẽ trở thành lực cản đối với sự phát
triển. Theo lý thuyết 3 giai đoạn của việc canh tân giáo dục như đã trình bày ở
trên, những biện pháp quản lý tương ứng với từng giai đoạn như sau:
* Giai đoạn dẫn nhập:
- Điều trước tiên phải tạo sự thống nhất về nhận thức trong tập thể sư
phạm về sự cần thiết và tầm quan trọng của đổi mới giáo dục phổ thông.
Nhưng Jean Ruddock (1998) đã từng nói: “Thầy giáo phải hiểu nguyên nhân
dẫn đến những quan điểm mới về môn học và phương pháp giảng dạy mới
(ví dụ dạy học theo quan điểm tích hợp, dạy học định hướng dạy môn tự
chọn, dạy các môn phân học trong nhà trường phân ban…), giáo viên phải
có sự cảm nhận về quyền sở hữu. Sự thay đổi vì quyền lợi của học sinh.
Đồng thời người thày giáo phải thấy rằng đổi mới là phù hợp và có thể áp
dụng được trong điều kiện cụ thể của họ. Nghĩa là phải thấy được triển vọng
của đổi mới.
- Điều quan trọng tiếp theo là người lãnh đạo phải đánh giá được khả
năng điểm mạnh, điểm yếu của đội ngũ giáo viên và từng giáo viên trong
giảng dạy- giáo dục chuẩn bị cho đổi mới.
- Bên cạnh đó, người lãnh đạo phải đặt nhiệm vụ tuyên truyền trong
nhân dân, trong cộng đồng và cha mẹ học sinh về sự cần thiết, ý nghĩa, mục
đích, nội dung của đổi mới. Điều đặc biệt quan trọng là định hướng cho các

21





dịch vụ nào:
- Thành phần trang thiết bị, bao gồm: các thiết bị, máy móc, nhà xưởng,..
- Thành phần kỹ năng và tay nghề: Liên quan đến kỹ năng nghề
nghiệp của từng người hoặc của từng nhóm người.
- Thành phần thông tin: Liên quan đến các bí quyết, các quá trình, các
phương pháp, các dữ liệu, các bản thiết kế.
- Thành phần tổ chức: Thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp và tiếp thị
b) Khái niệm CNTT
Công nghệ thông tin: là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và
công nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin. Như vậy,
“CNTT là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện,
công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống
các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có
hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa,
… của con người”.
Công nghệ thông tin được phát triển trên nền tảng của các công nghệ
Tin học - Điện tử - Viễn thông và Tự động hóa. CNTT nghiên cứu về các
khả năng và các giải pháp, tức là nghiêng về công nghệ theo nghĩa truyền
thống. Khi nói “CNTT” là hàm ý muốn nói tới nghĩa kỹ thuật công nghệ.
Còn Tin học thì nghiên cứu về cấu trúc và tính chất, vì thế tin học gần gũi
với cách hiểu là môn khoa học, hay môn học. CNTT là lĩnh vực khoa học
rộng lớn nhưng có nhiều chuyên ngành hẹp. Như trong toán học có các phân
môn số học, đại số, hình học phẳng, hình học không gian,.... Trong vật lý có
các phân môn nhiệt học, cơ học, điện học, quang học và lượng tử, ... thì tin
học cũng có các phân môn là khoa học máy tính, kỹ thuật máy tính, công
nghệ phần mềm, mạng máy tính, v.v…
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Công nghệ thông tin



24


Theo Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11, ngày 29/6/2006:
“Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực
kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và các hoạt động khác nhằm
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”.
Ứng dụng CNTT trong GD&ĐT là một yêu cầu đặt ra trong những
chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh ứng dụng CNTT
trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Ứng dụng CNTT
trong giáo dục còn là một điều tất yếu của thời đại, như ông Peter Van Gils,
chuyên gia dự án CNTT trong giáo dục và quản lý nhà trường (ICTEM)
khẳng định: Chúng ta đang sống trong một xã hội mà ta gọi là một xã hội tri
thức hay một xã hội thông tin. Điều này có nghĩa rằng những sản phẩm đầu
ra mang tính công nghiệp cho xã hội của chúng ta đã mất đi cái tầm quan
trọng của nó. Thay vào đó là những “dịch vụ” và “những sản phẩm tri thức”.
Trong một xã hội như vậy, thông tin đã trở thành một loại hàng hóa cực kỳ
quan trọng. Máy vi tính và những vấn đề liên quan đã đóng một vai trò chủ
yếu trong việc lưu trữ và truyền tải thông tin và tri thức. Thực tế này yêu cầu
các nhà trường phải đưa các kỹ năng công nghệ vào trong chương trình
giảng dạy của mình. Một trường học mà không có CNTT là một nhà trường
không quan tâm gì tới các sự kiện đang xảy ra trong xã hội.
Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục bao gồm hai lĩnh vực : ứng dụng
CNTT trong quản lý và ứng dụng CNTT trong dạy học. Thực tiễn việc ứng
dụng CNTT trong dạy học hiện nay đã trở nên phổ biến. Điều kiện CSVC,
hạ tầng CNTT - viễn thông đang thay đổi một cách nhanh chóng là một cơ
hội rất lớn cho một phương pháp giáo dục hiện đại, một nền giáo dục tiên
tiến với vai trò nòng cốt của CNTT. Nó đòi hỏi công tác quản lý giáo dục
phải có những giải pháp thích hợp để phát huy hết những lợi thế mà CNTT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status