Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho học viên THPT ở Trung tâm GDTX Bảo Yên
MỤC LỤC
Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho học viên THPT ở Trung tâm GDTX Bảo Yên
I. TÓM TẮT
Đề tài nhằm tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học để
từ đó tìm ra những biện pháp để nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho học sinh nhất là đối
với học sinh đầu cấp ở trung tâm giáo dục thường xuyên Bảo Yên
Để làm được việc này, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu thực trạng vấn đề
nghiên cứu, lập bảng thống kê và tiến hành phân tích những nguyên nhân dẫn đến
tình trạng học sinh bỏ học, chia thành từng trường hợp cụ thể và từ đó tìm ra những
giải pháp cho từng trường hợp cụ thể.
II. GIỚI THIỆU
Xuất phát từ thực tế, hiện tượng học sinh bỏ học có thể được xem là một vấn
đề bức xúc nhất của cả nước nói chung và Trung tâm GDTX Bảo Yên nói riêng. Ở
Trung tâm, hàng năm tỉ lệ học sinh học đến cuối năm so với đăng kí đầu năm chỉ
đạt hơn 70%. Việc duy trì sĩ số là một công việc tương đối khó khăn đối với những
thầy cô giáo ở Trung tâm. Dưới góc độ làm công tác quản lí, công tác chủ nhiệm
chúng tôi nhận thấy cần phải làm gì, làm thế nào để hạn chế việc bỏ học của học
sinh, nhằm làm giảm nhẹ gánh nặng cho xã hội là vấn đề quan trọng. Và đó cũng
chính là vấn đề thúc đẩy chúng tôi đến với đề tài này.
Nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho học viên
THPT ở Trung tâm GDTX Bảo Yên”, chúng tôi nhằm tìm ra nguyên nhân cũng
như giải pháp khắc phục tỉ lệ chuyên cần của học sinh ở Trung tâm nói chung và ở
từng khối học, lớp học nói riêng.
III. PHƯƠNG PHÁP
1. Khách thể nghiên cứu.
Chúng tôi nghiên cứu việc duy trì tỉ lệ chuyên cần của học sinh tất cả các lớp
2
Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho học viên THPT ở Trung tâm GDTX Bảo Yên
IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
1. Một số khái niệm sử dụng trong đề tài
Khái niệm chuyên cần: Là ham thích làm việc, làm cách tâm huyết, kỹ lưỡng,
đến nơi đến chốn và có thái độ vui vẻ trong lúc làm việc. Người chuyên cần không
quản ngại khó khăn khi làm việc, hầu như đạt đến mục đích cuối cùng.
Ví dụ: Một học sinh chuyên cần học tập: đi học đầy đủ; học, làm bài, chuẩn bị
bài cẩn thận trước khi đến lớp...
Khái niệm học sinh trung học phổ thông: Là học sinh học ở hệ chính quy ở Việt
Nam, có độ tuổi từ 15 - 18, không kể một số trường hợp đặc biệt. Học ở 3 khối học:
lớp 10, 11, 12. Sau khi tốt nghiệp hệ này, học sinh được nhận bằng Tốt nghiệp Phổ
thông trung học.
Khái niệm Giáo dục thường xuyên: Thuật ngữ “giáo dục thường xuyên” được
nhiều người nói tới hằng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng. Người đọc
và nghe dường như không còn xa lạ với thuật ngữ này. Song, nếu đi sâu vào nội
hàm và ngoại diên của nó - tức là xem xét nó như một khái niệm - thì mới vỡ lẽ ra
rằng, trong quan niệm của con người, cho đến nay người ta vẫn không thống nhất
về định nghĩa thế nào là giáo dục thường xuyên.
Ở nhiều quốc gia, người ta hiểu rằng, công việc giáo dục phải được tiến hành
đối với mọi lứa tuổi, từ lúc lọt lòng cho đến lúc kết thúc cuộc sống. Cái quá trình
giáo dục đó, không phân biệt học trong nhà trường hay học ngoài xã hội hoặc tại
gia đình, học có mục đích hay học ngẫu nhiên, học theo hệ thống tri thức và kỹ
năng hoặc cần gì học nấy - đều phải được quan tâm và phải có sự quản lý từ phía
Nhà nước được hiểu là giáo dục thường xuyên. Với cách hiểu này, giáo dục thường
xuyên là một chính sách xã hội của một xã hội hiện đại, trong đó học tập là quyền
đạo đức của một bộ phận học sinh ngày càng sa sút, việc học của một số ít học sinh
giảm sút và dẫn đến bỏ học trong khi đó nhu cầu đòi hỏi của xã hội ngày càng cao.
Một trong những khó khăn trong việc nâng cao chất lượng học tập và xây dựng xã
hội học tập là tình trạng học sinh nghỉ học, nguyên nhân của tình trạng này nằm ở
đâu và cách khắc phục nó như thế nào đây không phải là điều đơn giản. Đặc biệt
4
Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho học viên THPT ở Trung tâm GDTX Bảo Yên
đối với mô hình giáo dục thường xuyên thì điều này lại càng khó. Bởi vì, phần lớn
học sinh thuộc hệ giáo dục thường xuyên đi học khi độ tuổi đã nằm ngoài độ tuổi
đến trường (tương đương so với hệ THPT), các em có thể vừa học vừa làm, lượng
kiến thức đã bị hổng... nên việc có thể duy trì tỷ lệ đi học đều điều này rất khó.
Việc nâng cao tỷ lệ chuyên cần góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
3. Các cơ sở chính trị, pháp lý
Xuất phát từ nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung học trong điều lệ nhà
trường có yêu cầu: Nhà trường có trách nhiệm tuyển sinh, tiếp nhận học sinh, vận
động học sinh đến trường, quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào
tạo.
Cơ sở cốt lõi của nhà trường là có trường thì phải có học sinh, có thầy cô theo
một tiêu chuẩn nhất định mà nhà nước quy định. Tồn tại cả hai yếu tố thầy và trò,
đồng thời kèm theo bộ máy quản lý đặc trưng theo cấp học, bậc học thì mới mới có
điều kiện để hoạt động, duy trì sự hình thành và phát triển, từ đó đi đến có kết quả
theo mong đợi.
Thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch nhà nước giao trên cơ sở số liệu thực tế việc huy
động học sinh đến trường, đến lớp. Đây là một nhiệm vụ trọng tâm của việc thực
hiện mục tiêu của cấp học.
Trong điều 39 điều lệ trường trung học có nêu: Học sinh được tôn trọng, được
bảo vệ, được đối sử bình đẳng, dân chủ, được quyền khiếu nại với nhà trường và
Nghiên cứu về tỷ lệ chuyên cần của học sinh nhằm hiểu rõ được những
nguyên nhân cơ bản đưa đến tình trạng nghỉ học của học sinh, từ đó đưa ra những
biện pháp giúp khắc phục tình trạng nghỉ học của học
6
Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho học viên THPT ở Trung tâm GDTX Bảo Yên
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI
1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu và tìm hiểu về tỷ lệ chuyên cẩn của
học sinh đã được rất nhiều các cấp học quan tâm. Bởi việc nghiên cứu vấn đề này
giúp cho các trường có thể tìm ra những giải nhằm khắc phục tình trạng học sinh
nghỉ học, qua đó nâng cao chất lượng giáo dục tại đơn vị. Đề tài: “Một số biện
pháp nhằm duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng cho học sinh ở trường THCS Ngô
Quyền - Hải Phòng”. Đề tài: “Một số kinh nghiệm giảm tỷ lệ học sinh bỏ học ở
Trung tâm GDTX Giao Thuỷ - Nam Định”. Hay đề tài: “Nâng cao tỷ lệ chuyên cần
của học sinh THPT tại trường Nguyễn Du - Hà Tĩnh”...
Nhìn chung, các đề tài trên đã góp phần tìm hiểu thực trạng học sinh bỏ, nghỉ
học giữa chừng. Tuy nhiên, các đề tài đó chưa phản ảnh và đánh giá một các triệt
để về những nguyên nhân cũng những việc đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục
tình trạng trên. Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành quả nghiên cứu của các
đề tài trên, chúng tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần
cho học viên THPT ở Trung tâm GDTX Bảo Yên”. Với đề tài này, chúng tôi hy
vọng góp phần khắc phục tình trạng học sinh nghỉ học, qua đó nâng cao chất lượng
giáo dục tại đơn vị.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Học sinh Trung tâm GDTX Bảo Yên đại đa số là dân tộc thiểu số, đa số các
em chưa xác định được việc học là quan trọng. Điều kiện kinh tế gia đình học sinh
những vùng khó khăn của huyện Bảo Yên, đặc biệt vào những ngày mưa gió đường
xá đi lại rất khó.
- Các em ham chơi, đặc biệt là chơi các trò chơi trực tuyến.
Thực tế cho thấy, việc học sinh nghỉ học có thể kéo theo nhiều hệ lụy cả trước
mắt lẫn lâu dài, không chỉ đối với cá nhân, gia đình học sinh mà cả với nhà trường
và xã hội. Khi nghỉ học, tâm trạng chán chường, mặc cảm luôn đè nặng khiến
những học sinh này thường dễ bị kích động, lôi kéo. Từ đó có thể hình thành nên
một lượng thanh thiếu niên thất học, lêu lổng, dễ sa vào các thói hư tật xấu như bỏ
nhà đi lang thang, gây gỗ, trộm cắp, kết bè phái. Thậm chí một số trường hợp có
thể sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật.
8
Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho học viên THPT ở Trung tâm GDTX Bảo Yên
Nguyên nhân thứ hai từ phía nhà trường và giáo viên :
- Về công tác tổ chức và quản lí: Ban Giám hiệu chỉ có 2 người rất khó kết
hợp với giáo viên để quản lý học sinh.
- Về đội ngũ giáo viên của trường có: 15 người trong đó phần lớn là những
giáo viên trẻ, kinh nghiệm trong quản lý học sinh còn hạn chế...
- Cơ sở vật chất - thiết bị trường học: Số phòng học của nhà trường có 06
phòng học cấp 4, một số phòng được xây dựng đã lâu. Chưa có phòng chức năng,
và nơi làm việc riêng cho các bộ phận như: Y tế, công tác đoàn, thiết bị chưa đủ
cho nhu cầu sử dụng giảng dạy trên lớp.
- Về công tác xã hội hoá giáo dục:
Những năm trước đây công tác xã hội hoá chưa thực hiện tốt, một phần do
dân trí địa phương thấp, cộng đồng chưa có sự quan tâm đúng mức. Do đó nhà
trường hầu như là đơn thương, độc mã làm chủ trận địa giáo dục, có chăng chỉ là sự
quan tâm của một bộ phận nhỏ phụ huynh. Tuy nhiên cũng có sự quan tâm chỉ đạo
của cấp uỷ, chính quyền địa phương, Hội đồng Giáo dục địa phương ...nhưng chưa
Trường hợp 1
khảo sát Tổng
Số
Tỷ lệ
Kết quả
số
lượng
%
đạt được
Trường hợp 2
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Trường hợp 3
Số
Tỷ lệ %
lượng
Tháng 09
153
34
22%
19%
32
56%
14
25%
Tháng 12
81
13
16%
42
51%
26
33%
Tháng 01
38
36
9
25%
17
47%
10
28%
Tháng 04
22
3
14%
13
59%
6
27%
81 buổi).
Vậy vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải làm gì để hạn chế, ngăn chặn nguy cơ
nghỉ học của học sinh trong suốt năm học?
Đối với các em học sinh ở trường hợp 1 do hổng kiến thức cơ bản của những
năm học trước nên việc tiếp thu kiến thức mới bị hạn chế, chưa thật sự cố gắng
trong học tập, chưa có phương pháp học tập đúng đắn, dẫn đến tình trạng yếu kém
về kiến thức, từ đó dễ có tư tưởng nghỉ học.
Đối với các em học sinh ở trường hợp 2: có thể học lực từ trung bình trở lên
nhưng ham chơi thường trốn học, đồng thời gia đình quản lí không chặt chẽ. Những
học sinh thuộc trường hợp này thường có những thái độ bất cần, ít nghe lời thầy cô,
vô phép, trong lớp ít chú ý nghe giảng, bài học học không được kỹ lắm và ít khi
làm bài đầy đủ, từ đó mất phương hướng trong học tập dẫn đến nguy cơ chán học,
hay nghỉ học.
Đối với những học sinh ở trường hợp 3: vì nhà ở xa, hoàn cảnh gia đình
nghèo, đang gặp khó khăn cần phải phụ giúp gia đình nên ít có điều kiện trong học
tập, các em không yên tâm trong học tập, thường nghỉ học để phụ giúp gia đình
hoặc giữ nhà, trông em, nếu giáo viên phụ trách không tạo điều kiện giúp đỡ thì
nguy cơ bỏ học sẽ dễ đến đối với các em.
11
Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho học viên THPT ở Trung tâm GDTX Bảo Yên
CHƯƠNG 3: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Sau khi đã phân chia nhóm, chúng tôi tiến hành các biện pháp khác nhau để
hạn chế học sinh nghỉ học như sau :
1. Đối với trường hợp 1: Nghỉ học do học yếu, hổng kiến thức
Đối với các em học sinh ở dạng này do hổng kiến thức cơ bản của những
năm học trước nên việc tiếp thu kiến thức mới bị hạn chế, chưa thật sự cố gắng
tầm quan trọng của việc đi học và đã có những ước mơ đẹp về tương lai của mình.
Phân tích cho các em hiểu tầm quan trọng của việc học. Giáo viên nói, giảng
cho các em biết tình hình kinh tế, xã hội hiện nay chỉ có những con người có trình
độ, có kiến thức khoa học, có đạo đức mới có thể đảm bảo được đời sống và con
người đó mới có ích cho xã hội… Vì thế, chúng tôi luôn luôn hướng các em theo
khẩu hiệu “Học vì ngày mai lập nghiệp”. Chúng tôi tin tưởng rằng chúng tôi đã đưa
ra những phương pháp rất thích hợp để duy trì sĩ số, nâng cao tỷ lệ chuyên cần của
học viên.
1.1.2. Phong trào bạn giúp bạn:
Các em học yếu kém có tâm trạng sợ, không ham thích đến lớp, vì vậy việc
khắc phục tình trạng học yếu kém cũng là việc hạn chế tỷ lệ nghỉ học của các em.
Sau khi kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm nắm được tình hình học tập của từng
em trong lớp mình, hướng dẫn các em có phương pháp học tập đúng đắn, tổ chức
các nhóm học tập, đôi bạn học tập, phân công các bạn giỏi kèm cặp. Đây là một
vấn đề rất khó khăn, cần có sự kiên trì của giáo viên phụ trách lớp vừa động viên
các em học yếu, vừa thuyết phục các em học khá giỏi để giúp đỡ nhau, cùng nhau
tiến bộ. Các em này phải đến lớp sớm 15 phút để được kiểm tra bài đầu giờ.
Khi phân công làm việc này, trong khả năng có thể, chúng tôi phải liên hệ gia
đình các em để nhờ sự hỗ trợ, kiểm soát việc học tập của các em ở nhà, tôi lập
phiếu theo dõi và đưa ra những hướng dẫn, biện pháp để các em học tập ở nhà dưới
sự quản lý của nhóm trưởng. Hàng tháng hoặc qua mỗi đợt thi đua đều phải đúc kết
việc phong trào bạn giúp bạn để động viên khen thưởng các em để các em vui thích
mà học tập.
13
Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho học viên THPT ở Trung tâm GDTX Bảo Yên
Giáo viên bộ môn phải thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm để báo
Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho học viên THPT ở Trung tâm GDTX Bảo Yên
bắt được tình hình của học sinh lớp mình. Vì vậy, giáo viên cần phải sắp xếp để có
nhiều thời gian hơn nữa gặp gỡ trao đổi với lớp chủ nhiệm để nắm bắt tình hình học
viên của lớp mình từ đó sẽ có những thông tin về việc nghỉ học của học sinh để có
thể tìm biện pháp kịp thời ngăn chặn việc nghỉ học của các em.
Hiện nay trong môi trường giáo dục đã có không ít những trường hợp học
sinh thường xuyên vì các đam mê và nghiện ngập đã nghỉ học, nhất là các trò chơi
trên Internet đã dẫn tới tình trạng học sinh học tập sa sút và dẫn đến nghỉ học.
Trong quá trình chủ nhiệm những năm học vừa qua chúng tôi đă gặp một số trường
hợp vì sự lôi cuốn của các trò chơi game đã thu hút dẫn đến nghỉ học. Để hạn chế
những trường hợp trên, chúng tôi luôn theo dõi nắm bắt kịp thời các ảnh hưởng của
các tác động xã hội này. Từ đó có thể tìm hiểu để đề ra các biện pháp ngăn chặn tác
động này đặc biệt là phải tìm hiểu cụ thể nguyên nhân để từ đó phối hợp cùng với
các lực lượng xã hội nhanh chóng kìm chế sự tác động tiêu cực đến học sinh để các
em đi học thường xuyên hơn. Chúng tôi cũng dành thời gian chủ động đến thăm
hỏi một số gia đình phụ huynh học sinh nhằm có kế hoạch kịp thời với các học sinh
có biểu hiện không tốt trong học tập cũng như đạo đức để kịp thời ngăn chặn các
hành vi biểu hiện tiêu cực.
Giáo viên chủ nhiệm gặp riêng các em thường xuyên, trao đổi nhỏ to tâm sự,
phân tích cho các em hiểu được tầm quan trọng của việc học tập, nâng cao trí tuệ
cũng như trong phát triển nhân cách và tùy từng tình huống mà dùng biện pháp nhẹ
nhàng hay nghiêm khắc.
Quản lý chặt chẽ các em trong suốt buổi học, về vấn đề này giáo viên chủ
nhiệm cũng phải thường xuyên hỏi han các giáo viên có giảng dạy các bộ môn lớp
mình.
Kết hợp với phụ huynh của các em, cách ly các học sinh này với những bạn
xấu, đề nghị phụ huynh học sinh quản lý chặt chẽ các em ở nhà. Riêng ở lớp, giáo
viên chủ nhiệm xếp cho các em ngồi đầu bàn (nơi giáo viên dễ quan sát ) cùng
nhóm với những những em học sinh ngoan, học khá giỏi.
nắm bắt rõ hơn về thời gian biểu của học sinh cũng như các thói quen, sở thích và
tính cách của từng học sinh. Một khi hiểu rõ học sinh của mình hơn thì GVCN sẽ
có nhiều giải pháp hơn để giúp học sinh của mình chuyên cần hơn trong việc học
16
Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho học viên THPT ở Trung tâm GDTX Bảo Yên
tập cũng như duy trì tính chuyên cần của các em. Khi có học sinh nghỉ học thì
GVCN cần phải thông báo ngay cho Ban giám đốc đồng thời sắp xếp thời gian gặp
trực tiếp phụ huynh để trao đổi các thông tin cùng nhau tìm các giải pháp phối hợp
tốt hơn đưa học sinh trở lại trung tâm. Học sinh sẽ trở nên chuyên cân, tích cực học
tập nếu sự phối hợp giữa trung tâm và gia đình có hiệu quả. Đối với những phụ
huynh học sinh quan tâm tích cực đến tình hình học tập của con em mình sẽ tích
cực ủng hộ trung tâm nhằm tìm giải pháp tốt nhất duy trì sĩ số học sinh trong Trung
tâm GDTX Bảo Yên để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục.
3. Đối với trường hợp 3:
Gồm những học sinh ở xa, có hoàn cảnh khó khăn ...
Những em học sinh ở dạng này vì hoàn cảnh gia đình nghèo, đang gặp
khó khăn cần phải phụ giúp gia đình nên ít có điều kiện trong học tập, các em
không yên tâm trong học tập, thường nghỉ học để phụ giúp gia đình hoặc giữ nhà,
trông em, nếu giáo viên phụ trách không tạo điều kiện giúp đỡ thì nguy cơ bỏ học
sẽ dễ đến đối với các em. Đối với những em học sinh ở dạng nầy tôi tiến hành các
biện pháp như sau :
3.1. Tổ chức điều tra nắm hoàn cảnh của từng học sinh
Nhận lớp chủ nhiệm và điêu tra lý lịch của từng học viên: Họ và tên, nghề
nghiệp của cha mẹ, hoàn cảnh sống của gia đình, công việc thường ngày của học
sinh phải làm ở nhà đồng thời điều tra nắm chất lượng học tập, hạnh kiểm ở năm
trước.
Ví dụ: Lớp 12A, 12B: Phần lớn gia đình các em là dân tộc thiểu số, chủ yếu là
chủ nhiệm nhà xa phải trọ học một vài cái bình đựng nước nhỏ bằng chính đồng
lương ít ỏi của mình...Việc giúp đỡ học viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn còn
được chúng tôi vận động học viên trong lớp với tinh thần: Mình thương bạn như
thương chính mình, kêu gọi các em tiết kiệm tiền, quà bánh hàng ngày đóng góp lại
mua sách vở, bút, áo quần,... để giúp các bạn vượt khó. Những việc làm nhỏ bé tuy
giá trị vật chất không đáng là bao nhưng đã tạo được tình cảm gắn bó, các em biết
đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, an ủi, động viên em để em vui vẻ và thích
đi học.
Giáo viên phụ trách gặp trực tiếp phụ huynh của các em học sinh này nhằm
phân tích cho họ nhận thấy tầm quan trọng của việc học đối với các em, từ đó họ
18
Một số biện pháp nâng cao tỉ lệ chuyên cần cho học viên THPT ở Trung tâm GDTX Bảo Yên
động viên con em mình vượt khó trong học tập: thường sau những cuộc đại hội
hoặc sau cuộc họp phụ huynh học sinh của lớp (trao đổi riêng).
Đối với những em học sinh này, ngoài việc giáo viên chủ nhiệm kết hợp
với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tạo điều kiện thuận lợi về vật
chất cũng như tinh thần giúp các em yên tâm đến lớp, bên cạnh đó giáo viên phụ
trách phải tiếp cận thường xuyên với gia đình của các em để cho họ có những suy
nghĩ tích cực hơn.
3.3. Xây dựng không khí tập thể hòa thuận, tương thân tương ái giúp
đỡ lẫn nhau
Giáo viên chủ nhiệm làm được điều này nhằm làm giảm đi sự mặc cảm của
những học sinh nghèo. Ở đây, trong giờ sinh hoạt giáo viên thường nói chuyện, tổ
chức sinh hoạt lớp, vui chơi cùng với các em, tạo môi trường giáo dục tốt.
Trong điều kiện giảng dạy cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn như Trung tâm
GDTX Bảo Yên đó là một khó khăn rất lớn nhưng tập thể cán bộ giáo viên, nhân
viên trong Trung tâm đặc biệt là Đoàn Thanh niên đã hưởng ứng phong trào xây
để tạo môi trường thân thiện, tích cực.
II. CHUẨN BỊ:
-
Giáo viên: Giáo án + nội dung hoạt động tuần, kế hoạch hoạt động tuần kế
tiếp
-
Học sinh: cán bộ lớp chuẩn bị nội dung sơ kết tuần
III. TỔ CHỨC SINH HOẠT:
Người
thực
Nội dung hoạt động
hiện
Bí thư chi
Thời
gian
1. Hoạt động 1 : Ổn định tổ chức, hát tập thể.
3p
2. Hoạt động 2 : Sơ kết hoạt động trong tuần ... ; dự
* Đạo đức:
hình hoạt
- Nói tục, chửi bậy: .......................................................
động của lớp
- Đánh nhau: .................................................................
trong tuần.
- Các vi phạm khác: .....................................................
......................................................................................
* Chuyên cần:
- Đi muộn: .................................................................
- Nghỉ học: ..................................................................
+ Có phép: ..................................................................
+Không phép:...............................................................
+ Bỏ tiết: ......................................................................
* Học tập:
- Không học bài:............................................................
- Không làm bài tập: ....................................................
.....................................................................................
- Không chú ý: .............................................................
......................................................................................
- Điểm: .........................................................................
- Xếp loại giờ học: Tốt .....; Khá ....; TB ....; Yếu .....
* Các hoạt động khác:
......................................................................................
- Tuyên dương:..............................................................
- Phê bình:.....................................................................
- Biện pháp xử lý: ……………………………………
.......................................................................................
......................................................................................
GVCN
b. Kế hoạch tuần .........................................................
Thông báo kế hoạch hoạt động tuần:............................
......................................................................................
......................................................................................
......................................................................................
......................................................................................
Tập thể lớp
3. Hoạt động 3: Hoạt động tập thể
20 p
- Văn nghệ:....................................................................
- Chơi trò chơi:..............................................................
GVCN
4. Hoạt động 4 : Củng cố tiết sinh hoạt.
2p
sinh có thể lên lớp và tiếp thu được kiến thức mới.
Cần tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Cụ thể, cần
có một sự phối hợp chặt chẽ, có chiều sâu giữa: Ban Giám hiệu - Giáo viên chủ
nhiệm – Cha mẹ học sinh – Chính quyền, Đoàn thể địa phương để tất cả những học
sinh có biểu hiện sa sút về học tập hoặc vi phạm nội quy, vi phạm pháp luật phải đ ược quản lý và có biện pháp ngăn ngừa, giáo dục ngay từ đầu. Hơn lúc nào hết, đối
với những học sinh này rất cần sự nghiêm khắc mà bao dung, độ lượng, nhiệt tình
của các lực lượng trong xã hội. Một biện pháp quan trọng khác là cần khuyến
khích, tôn vinh những giáo viên sau một năm học đã có công giáo dục học sinh cá
biệt, học sinh yếu kém. Thực tế cho thấy, giáo dục một học sinh cá biệt, có học lực
yếu kém mất nhiều công sức, thời gian không kém gì so với việc bồi dưỡng một
học sinh giỏi.
Để hoàn thành tốt công tác duy trì sĩ số học sinh, chống học sinh bỏ học, qua
nghiên cứu chúng tôi rút ra một số bài học sau đây:
Tất cả các hoạt động giáo dục trong nhà trường có kết quả cao hay thấp đều
phụ thuộc vào người Hiệu trưởng và Hiệu trưởng là người chỉ đạo đồng thời cũng
là người gương mẫu thực hiện các phong trào đó, đồng thời hướng dẫn cấp dưới
thực hiện tốt kế hoạch đề ra. Vậy trong công tác duy trì sĩ số chống học sinh nghỉ
24