SKKN một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng học sinh yếu kém trường THPT số 2 bát xát - Pdf 32

MỤC LỤC
MỤC
1. Đặt vấn đề
2. Giải quyết vấn đề
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng
2.3. Một số biện pháp quản lý, chỉ đạo nâng cao chất
lượng học sinh yếu kém
2.3.1. Tổ chức phụ đạo học sinh yếu kém
2.3.2. Nâng cao chất lượng học sinh yếu kém dài hạn
2.3.3. Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá
2.3.4. Duy trì học sinh đi học chuyên cần
2.3.5. Giám sát giờ tự học buổi tối của học sinh ở trọ.
2.4. Hiệu quả của SKKN
3. Kết luận
Tài liệu tham khảo

TRANG
1
1
1
3
4
4
5
7
8
9
10
11
12

- Theo “Từ điển tiếng việt”: “Quản lý là tổ chức và điều hành động
theo những yêu cầu nhất định” [28; tr 789].
- Theo tác giả Nguyễn Văn bình thì: “Quản lý là một nghệ thuật đạt
được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ
huy hoạt động của những người khác” [5; tr 176]
- Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có
định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất
các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều
kiện biến chuyển của môi trường” [24; tr 43].
- GS Mai Hữu Khuê quan niệm: “Quản lý là sự tác động có mục đích tới
tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục
đích đã định trước” [15; tr 19,20].
- GS Đặng Vũ Hoạt và GS Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá


trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá
trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những
mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý
mong muốn” [13; tr17]
- Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể
quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [21; tr 24].
Các định nghĩa trên tuy nhấn mạnh một số khía cạnh của quản lý. Tuy
nhiên điểm chung thống nhất đều coi quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục
đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định. Trong quản lý bao giờ cũng có chủ thể
quản lý, khách thể quản lý quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý.
Nói một cách tổng quát nhất, có thể xem quản lý là: Một qúa trình tác
động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt
được mục tiêu chung.
Mặt khác, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã nêu về quản lý giáo dục như



- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập
với các hình thức phong phú, đa dạng, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài
học, với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện của lớp, trường và địa
phương.
- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh được
tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh
hội kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của học
sinh; tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ thự tin trong học
tập cho học sinh; giúp các em phát triển tối đa năng lực, tiềm năng của bản thân.
- Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các câu hỏi, bài tập phát triển
tư duy và rèn luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập; tổ
chức có hiệu quả các giờ thực hành; hướng dẫn học sinh có thói quen vận dụng
kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.
- Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí,
hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học, nội dung, tính
chất của bài học, đặc điểm và trình độ học sinh, thời lượng dạy học và điều kiện
cụ thể của nhà trường.
2.1.4. Yêu cầu đối với cán bộ quản lí giáo dục
- Nắm vững chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông thể hiện ở chương
trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, sử dụng phương tiện, thiết bị, hình
thức tổ chức dạy học và đánh giá kết quả giáo dục.
- Tạo điều kịên thuận lợi cho giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy.
- Có biện pháp quản lí, chỉ đạo nâng cao chất lượng học tập của học sinh
trong nhà trường một cách có hiệu quả; thường xuyên tổ chức thực hiện, kiểm
tra, đánh giá chất lượng qua các kì thi khảo sát chất lượng.
- Động viên, khen thưởng kịp thời những giáo viên thực hiện có hiệu qủa
cao.
2.2. Thực trạng chất lượng học tập học sinh yếu kém trường THPT số

19,0%
16,9%
17,4%
19,7%

Lớp 12
19,7%
16,7%

2011-2012
18,4%
2012-2013
17,9%
Khảo sát đầu năm
56,3%
57,3%
43,7%
24,1%
2013-2014
2.2.2. Thuận lợi và khó khăn
a) Thuận lợi:
- Trường nhận được sự quan tâm của Sở GD&ĐT Lào Cai, UBND huyện
Bát Xát và phối hợp thường xuyên của UBND, công an xã Bản Vược.
- Nhà trường có tương đối đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học,
có khu ở nội trú cho học sinh đáp ứng nhu cầu ¼ số học sinh trọ học.
- Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình, trình độ chuyên môn cơ bản đều đạt
chuẩn.
b) Khó khăn
- Chất lượng học sinh đầu vào thấp ( Khảo sát đầu năm lớp 10 năm học
2013-2014 có 43,7% học sinh từ trung bình trở lên).

của học sinh và phải linh hoạt. Đối với học sinh lớp 10 cần tập trung ôn tập, bổ
trợ kiến thức cơ bản ở các cấp THCS cho học sinh có kiến thức nền tảng để tiếp
thu chương trình trên lớp. Ví dụ như môn toán cần ôn lại từ cách quy đồng mẫu
số, giải phương trình bậc nhất, bậc 2, giải hệ phương trình ...; môn Ngữ văn cần
ôn lại từ cách đặt câu, xác định các thành phần của câu, các biện pháp tu từ, cách
viết 1 đoạn văn, cách trình bày 1 văn bản ...; môn Hóa học ôn lại cách viết công
thức hóa học, hóa trị, viết các phương trình phản ứng cơ bản, cân bằng phương
trình bằng phương pháp đại số, vận dụng các công thức tính số mol ...
b) Phân công giảng dạy học sinh yếu kém
- Ngay từ đầu năm học, họp cùng các tổ trưởng chuyên môn bàn về kế
hoạch, biện pháp quản lý, tổ chức, phân công giáo viên dạy bồi dưỡng để thống
nhất kế hoạch bồi dưỡng sớm và trong suốt năm học (bồi dưỡng trái buổi).
- Yếu tố giáo viên cũng rất quan trọng vì thế tôi phân công giáo viên có
năng lực, kinh nghiệm, nhiệt tình, đặc biệt giáo viên phải có tính kiên trì, nhẫn
lại để kích thích tinh thần học tập của học sinh cũng như kiên trì giúp đỡ học
sinh. Giáo viên được phân công sẽ phải xây dựng kế hoạch chi tiết và chịu trách
nhiệm về chất lượng học sinh môn mình dạy. Sự tiên bộ của học sinh là một
trong những tiêu chí quan trọng để xét thi đua, khen thưởng giáo viên.
- Giáo viên bộ môn phải chú ý cải tiến phương pháp dạy học, giúp học
sinh tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu nhằm lấy lại kiến thức căn bản.
c) Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tham gia dạy học sinh yếu kém
- Ngoài việc giáo viên phải nhiệt tình, chịu khó sưu tầm tài liệu, có kinh
nghiệm, tổ chuyên môn thường xuyên trao đổi về chuyên môn, giúp nhau về tài
liệu.
- Chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng các chuyên đề mà trong giảng dạy
đối tượng này thường gặp khó khăn hoặc giảng dạy chưa có hiệu quả, được đánh
giá là một giải pháp khoa học mang tính phổ biến rộng rãi lưu lại trong tổ.
- Học tập kinh nghiệm ở các trường bạn để giáo viên có tầm nhìn rộng
hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn nhằm kích thích sự ham học của học sinh yếu
kém.

biểu hiện giảm sút chất lượng học tập, xác định mức độ và nguyên nhân yếu
kém của học sinh ở từng môn học, từ đó xây dựng kế hoạch và tổ chức phụ đạo,
giúp đỡ các em vươn lên trong học tập.
- Nhà trường phải tổ chức họp phụ huynh để thông báo đến tận gia đình
mỗi học sinh và cùng với gia đình học sinh, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ
môn bàn bạc, thống nhất kế hoạch phụ đạo.
- Việc tổ chức phụ đạo cho học sinh được xem là một trong những hoạt
động bình thường của nhà trường, tránh căng thẳng, phân biệt đối xử, ảnh hưởng
đến tâm lí học tập.
- Nhà trường phải có kế hoạch cụ thể, tổ chức khoa học, phân công những
giáo viên có năng lực, có trách nhiệm cao tham gia phụ đạo cho học sinh; có thể
tổ chức chung cho một số lớp hoặc theo khối lớp; lập danh sách có kiểm tra,cho
điểm, đánh giá, theo dõi kết quả học tập phụ đạo của mỗi học sinh.
- Cuối mỗi học kì, nhà trường tổ chức bàn giao kết quả phụ đạo những
học sinh này cho giáo viên chủ nhiện lớp và giáo viên dạy lớp chính khoa lớp đó
để tiếp tục theo dõi năng lực học tập của học sinh.
- Giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn phải kết hợp chặt chẽ, theo
dõi, thông tin kịp thời đến gia đình về tình hình chuyển biến của từng học sinh.
Nhà trường tạo mọi điều kiện thuận lợi để học sinh học tập, gia đình dành nhiều
thời gian cho các em học tập ở nhà.
b) Coi trọng việc giúp đỡ học sinh yếu kém, học sinh dân tộc trong học
tập.
- Nhà trường cần có kế hoạch, biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém, học
sinh dân tộc ngay từ đầu năm học qua kết quả khảo sát đầu năm;


- Đối với những học sinh yếu kém của lớp 12 cần tổ chức ôn tập, giúp
các em nắm kiến thức cơ bản để thi TN THPT; yêu cầu gia đình kết hợp chặt
chẽ với nhà trường để giáo dục hoạc sinh.
- Cần nắm vững những đối tượng học sinh xếp loại yếu kém của các lớp

bài đầy đủ trước khi đến lớp.
▪ Nội dung giảng dạy: ôn lại lí thuyết, làm nhiều bài tập mẫu và sau đó
cho học sinh vận dụng làm bài tập.
2.2.3. Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá
Đa phần học sinh yếu, kém do rỗng kiến thức từ các lớp dưới nên rất khó
tiếp thu và theo kịp chương trình trên lớp. Vì vậy đối tượng này thường rất sợ
học, sợ kiểm tra. Nếu không có biện pháp kịp thời sẽ dẫn đến học sinh mặc cảm,
thiếu tự tin và càng ngày càng học yếu. Để giải quyết vấn đề này ngoài việc phụ
đạo, bổ trợ kiến thức bị rỗng cho học sinh thì rất cần sự đổi mới phương pháp,
nội dung dạy học, kiểm tra đánh giá phù hợp với đối tượng.


Thứ nhất, nhà trường, giáo viên cần xác định rõ đổi mới phương pháp dạy
học không có nghĩa là áp dụng một cách máy móc các phương pháp, kĩ thuật
dạy học mới mới là đổi mới mà đổi mới ở đây là giáo viên phải sáng tạo làm thế
nào để thu hút được tất cả các đối tượng học sinh tham gia vào quá trình học,
đặc biệt là không được bỏ rơi học sinh.
Thứ hai, để đổi mới phương pháp có hiệu quả giáo viên cần xác định rõ
đối tượng học sinh của lớp mình dạy để từ đó lựa chọn nội dung, phương pháp
phù hợp. Đối với học sinh yếu, kém cần lựa chọn những nội dung hết sức cơ
bản, đơn giản hóa các nội dung trong sách giáo khoa để học sinh dễ hiểu, dễ tiếp
thu, một số kiến thức chỉ cần học sinh nhơ một cách máy móc sau đó vận dụng
làm đi làm lại nhiều lần các dạng bài tập cơ bản. Giáo viên cũng cần “chế biến”
các bài tập trong sách giáo khoa đơn giản hơn, cụ thể, chi tiết hơn để vừa sức
với học sinh. Điều quan trọng nhất để kích thích học tập cho học sinh yếu kém
là học sinh phải làm được bài tập giao về nhà, phải biết cách học để nắm được
những kiến thức đơn giản, cơ bản nhất. Chính vì vậy cuối giờ học giáo viên phải
giao nhiệm vụ hết sức cụ thể và phải vừa sức với học sinh bằng các phiếu giao
nhiệm vụ cho nhóm hoặc từng học sinh cụ thể.
Thứ ba, để tìm ra phương pháp phù hợp cho từng kiểu bài, từng đối tượng

đi học chuyên cần của học sinh có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của
học sinh. Đối với những học sinh có điểm xuất phát giống nhau, khả năng nhận
thức tương đương thì học sinh nào đi học chuyên cần hơn sẽ có kết quả học tập
cao hơn. Vì thế, việc duy trì học sinh đi học chuyên cần là một giải pháp rất
quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học sinh.
Để duy trì học sinh đi học chuyên cần nhà trường cần kiên trì thực hiện
một số biện pháp sau:
- Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp có
năng lực, nhiệt tình, tâm huyết với nghề, thương yêu học sinh. Giáo viên chủ
nhiệm phải có năng lực quả lý, tổ chức lớp học và đặc biệt phải nắm bắt tâm tư
tình cảm, diễn biên thái độ của học sinh để có những biện pháp kịp thời ngăn
chăn học sinh bỏ học, học sinh mải chơi, hay nghỉ học.
- Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm phải nắm được điều kiện gia đình của từng
học sinh (địa chỉ, nghề nghiệp của bố mẹ, điều kiện kinh tế, số điện thoại, sơ đồ
chỗ trọ của học sinh) để xác minh lý do nghỉ học của học sinh kịp thời. Đối với
học sinh trọ học nghỉ học có hoặc không lý do, giáo viên chủ nhiệm phải đến
trực tiếp những nơi học sinh trọ học để xác minh. Những học sinh cố tình nghỉ
học, nghỉ không có lý do chính đáng, nghỉ nhiều thì GVCN tổ chức gặp phụ
huynh và yêu cầu học sinh viết cam kết.
- Kích thích tinh thần vì tập thể của học sinh bằng cách xây dựng các tiêu
chí chấm điểm giờ học, trong đó đề cao tiêu chí chuyên cần, từ đó học sinh sẽ tự
đôn đốc nhau đi học.
- Khen thưởng, tạo động lực, kích thích học sinh đi học cuyên cần kịp
thời. Ngoài việc tuyên dương các lớp đi học chuyên cần hàng tuần, hàng tháng,
trường thưởng tiền cho những lớp duy trì tỷ lệ chuyên cần cao từ 98% trở lên và
thưởng nóng cho những lớp duy trì chuyên cần 100% trong những đợt học sinh
có nguy cơ nghỉ nhiều như những tuần trước và sau dịp lễ, tết.
- Huy động các lực lượng xã hội đôn đốc học sinh đi học, đặc biệt là các
chủ nhà trọ có học sinh trọ học bằng cách phối hợp với công an xã tổ chức cho
các chủ nhà trọ kí cam kết trách nhiệm quản lý, đôn đốc học sinh đi học.

Để công tác kiểm tra có hiệu quả việc quan trọng đầu tiên là phải làm tốt
công tác tư tưởng cho giáo viên, tạo điều kiện về thời gian, phương tiện và các
hỗ trợ cần thiết khác một các kịp thời. Hai là, xây dựng sơ đồ các khu trọ học,
lên danh sách học sinh trọ học ở từng khu để theo dõi quản lý. Ba là, tổ chức cho
cán bộ, giáo viên đi kiểm tra và cán bộ quản lý, các tổ trưởng, người đứng đầu
các đoàn thể phải gương mẫu đi đầu tạo phong trào lôi kéo giáo viên nhiệt tình
tham gia. Bốn là, xử lý nghiêm học sinh vi phạm sau kiểm tra, trường đã áp
dụng nhiều biện pháp để xử lý học sinh vi phạm như: phê bình trước cờ, phạt lao
động - vệ sinh, gặp gỡ gia đình yêu cầu học sinh vi phạm nhiều lần viết cam kết.
Ngoài ra, GVCN các lớp tổ chức họp bàn với phụ huynh học sinh có con em trọ
học thống nhất biênh pháp phối hợp quản lý cũng như các hình thức xử lý vi
phạm của học sinh.
Bên cạnh việc tổ chức đi kiểm tra, trường còn phối hợp với công an xã
Bản Vược định kì đi kiểm tra các khu nhà trọ, các quán net nhằm nâng cao trách
nhiệm quản lý học sinh của các chủ nhà trọ, các chủ quán net trong việc thực
hiện cam kết với UBND xã.
Việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng học sinh yếu kém hàng năm là một
việc làm rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực của cả tập thể và
nhất là có một giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy phong trào này. Tuy giải pháp
quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh yếu kém bộ môn của
chúng tôi đề ra bước đầu có hiệu quả cho nhà trường, nhưng giải pháp này cũng
sẽ tiếp tục củng cố và hoàn thiện hơn trong các năm kế tiếp và hy vọng kết quả
này ngày một tốt hơn.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Sau khi kiên trì thực hiện các biện pháp, chất lượng học sinh đại trà đã có
sự chuyển biến tích cực, học sinh đi học chuyen cần. Tuy tỷ lệ học sinh yếu,
kém vẫn còn cao (11,2%) nhưng đây cũng là nỗ lực đáng được ghi nhận của
thầy và trò trường THPT số 2 Bát Xát thể hiện quyết tâm, kiên trì nâng cao chất
lượng học sinh.
Kết quả cụ thể:


3. Kết luận
Trong các hoạt động của nhà trường thì hoạt động dạy và học là hoạt động
trung tâm, vì thế người quản lý về chuyên môn không thể tách rời khâu chỉ đạo
hoạt động dạy học nhằm hoàn thành chương trình, đạt mục tiêu của nhà trường
đề ra. Nhiệm vụ nâng cao chất lượng học sinh yếu, kém đối với các nhà trường ở
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn như trường THPT số 2 Bát Xát là
một nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt không chỉ một năm mà còn tiếp tục phải
thực hiện trong nhiều năm nữa. Để nâng cao chất lượng học sinh yếu, kém cần
phối hợp nhiều biện pháp và cần có nhiều cách làm mới phù hợp với điều kiện
thực tế mới đem lại hiệu quả.
Các biện pháp nâng cao chất lượng học sinh yếu kém của trường THPT
số 2 Bát Xát có thể áp dụng được cho những trường phổ thông ở những vùng
sau, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên việc vận dụng vào từng nhà
trường cần linh hoạt.
Muốn tổ chức, chỉ đạo công tác nâng cao chất lượng học sinh yếu đạt hiệu
quả người quản lý chuyên môn phải biết lựa chọn và xử lý linh hoạt các biện
pháp quản lý phù hợp với thực tế của trường. Từ thực tế chỉ đạo tôi rút ra một số
bài học kinh nghiệm như sau:
+ Người phụ trách chuyên môn và người tổ trưởng chuyên môn phải là
người có tâm huyết, luôn suy nghĩ tìm ra biện pháp thích hợp và phải kiên trì
làm cho đến nơi đến chốn.
+ Phải biết phát huy sức mạnh tổng hợp của tập thể giáo viên, phụ huynh
học sinh và phát huy dân chủ trong quá trình cộng tác giữa người quản lí và giáo
viên.
+ Phải có kế hoạch lâu dài. Trong quá trình triển khai kế hoạch bồi dưỡng
cần tham khảo học tập kinh nghiệm của các đơn vị bạn.
+ Vai trò động viên khen thưởng cũng rất quan trọng, có như vậy họ mới
hết lòng với sự nghiệp và chú ý đến các đề xuất hợp lý của giáo viên như là một
trân trọng. Từ đó giáo viên luôn luôn cố gắng, tìm cách cải tiến phương pháp

dục và đào tạo II – TP.HCM.
5. Các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2013-2014 của Sở
GD&ĐT Lào Cai.
8. Nghị Quyết Hội nghị cán bộ viên chức năm học 2013 – 2014 trường
THPT số 2 Bát Xát.
9. Nghị quyết chuyên đề “Kiểm tra việc tự học tối của học sinh” của chi
bộ trường THPT số 2 Bát Xát.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status