Phần một
Đặt vấn đề.
I. Lý do chn ti.
Trong những năm gần đây theo chủ trơng của Bộ Giáo dục và Đào tạo,
việc đổi mới phơng pháp dạy học đã trở thành một yêu cầu bắt buộc và đang
tích cực đợc thực hiện ở tất cả các cấp học, môn học. ở cấp THPT, với t cách là
một môn khoa học xã hội trong nhà trờng môn Giáo dục công dân (GDCD)
ngoài việc trang bị những tri thức khoa học cho học sinh còn có vai trò rất quan
trọng trong việc hình thành nhân cách, lối sống cho học sinh.
Để nâng cao chất lợng giáo dục đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu,
nội dung chơng trình, phơng pháp, hình thức tổ chức dạy học đến việc kiểm tra,
đánh giá kết quả trong đó khâu đột phá là đổi mới phơng pháp dạy học.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới song không phải ở bất cứ
đâu và ở bất kỳ giáo viên nào cũng thực hiện đợc một cách thờng xuyên để đạt
đợc mục tiêu môn học đề ra. Bởi tri thức của bộ môn GDCD dù là những kiến
thức phổ thông, cơ bản nhất về triết học, kinh tế, pháp luật thì vẫn mang tính
trừu tợng, khái quát rất cao, hoặc là những vấn đề đạo đức trong thực tiễn cuộc
sống không thể áp đặt lý thuyết suông. Nếu không biết cách sử dụng linh hoạt
và phát huy thế mạnh của từng phơng pháp dạy học mà áp dụng máy móc, cứng
nhắc một phơng pháp dạy học nào đó thì hiệu quả giáo dục sẽ rất thấp. Kết quả
là học sinh không hiểu bài, không có hứng thú với môn học, tâm trạng sẽ mệt
mỏi, chán nản mỗi khi đến giờ GDCD, khi ra ngoài cuộc sống không thể vận
dụng những kiến thức đã học để giải quyết các tình huống có thật. Cho nên d
luận ở nhiều nơi đang lên tiếng vì hiệu quả giáo dục thực tế của môn GDCD rất
thấp khi trong xã hội ngày càng có nhiều thanh thiếu niên có lối sống không
lành mạnh, trong sáng. Điều đó đặt ra một câu hỏi rất lớn cho cả ngành giáo dục
nói chung và các thầy cô giảng dạy bộ môn GDCD nói riêng, là làm thế nào để
những bài học của môn GDCD thật sự có ý nghĩa với các em?
Phần hai.
Nội dung.
I. cơ sở lý luận:
Một số vấn đề chung về phơng pháp sử dụng đồ dùng trực quan.
Việc đổi mới phơng pháp dạy học phải theo hớng phát huy tính tính cực,
tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, bồi dỡng cho học sinh năng lực tự học,
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, lòng say mê học tập và ý chí vơn lên,
loại bỏ thói quen học tập thụ động, phụ thuộc hoàn toàn vào ngời thầy nh trớc
đây.
Sử dụng đồ dùng trực quan đợc xem là một trong số các biện pháp hỗ trợ
hiệu quả trong khi áp dụng các phơng pháp dạy học tích cực hiện nay. Tuy
nhiên cần phải nhận thức rõ rằng, không thể sử dụng duy nhất một phơng pháp,
một kỹ thuật, một biện pháp dạy học trong quá trình giảng dạy mà lại hy vọng
đạt đợc tất cả các mục tiêu đề ra. Do đó, việc kết hợp, sử dụng linh hoạt các ph ơng pháp là một nghệ thuật đối với ngời giáo viên. Đối với môn GDCD, sử dụng
đồ dùng trực quan có tác dụng rất lớn trong việc chuyển biến những kiến thức
khoa học của bộ môn thành những cái thật sự cần thiết cho các em học sinh
trong cuộc sống hàng ngày.
Sự thành công của việc sử dụng đồ dùng trực quan phần lớn phụ thuộc
vào đồ dùng đợc sử dụng cũng nh cách thức sử dụng nó trong bài học. Có thể
nói nó là linh hồn, là cái cốt lõi nhất, là vấn đề ngời giáo viên phải xem xét,
chuẩn bị kỹ lỡng trớc khi sử dụng. Mục đích ngời giáo viên có đạt tới đợc hay
không chính là ở điểm này. Bởi nếu đồ dùng đa ra không phát huy đợc vai trò
tích cực của ngời học, không gắn đợc với thực tiễn, giải quyết tình huống không
có tác dụng giáo dục đối với thái độ, t tởng và hành vi của ngời
học thì coi nh ngời giáo viên đã thất bại. Cho nên, để sử dụng phơng pháp này
1. Ví dụ 1: Khi giảng bài 5 ở lớp 10 “Cách thức sự vận động và phát triển của
sự vật, hiện tượng” có rất nhiều phần kiến thức mà nếu chỉ sử dụng phương
pháp thuyết trình – vấn đáp thông thường sẽ khó thu hút được sự chú ý của học
sinh, học sinh chỉ thấy thụ động tiếp thu kiến thức, ắt hẳn sẽ thấy nhàm chán,
cho rằng nội dung môn GDCD thật khó hiểu. Nhưng nếu người giáo viên chỉ
cần có sự thay đổi một chút xíu thì kết quả có thể sẽ khác. Chỉ bằng những đồ
dùng rất đơn giản như quả chanh, quả ớt, viên phấn, cái đồng hồ….giáo viên có
thể dễ dàng dẫn dắt học sinh đi tìm hiểu phần khái niệm về chất – một khái
niệm triết học rất trừu tượng bởi học sinh thường nhầm khái niệm chất theo
nghĩa triết học với chất liệu cấu tạo nên sự vật.Với các đồ dùng trên cộng với
việc sử dụng trò chơi “thử tài đoán vật” người giáo viên sẽ cho một học sinh lên
nói về đặc điểm của vật mà mình nhận thấy cho các bạn ở dưới lớp biết. Kết
quả là học sinh có thể nhận thấy rất nhiều đặc điểm, nhiều thuộc tính của một
sự vật nhưng chưa chắc đã đoãn được đó là cái gì. Chỉ đến khi nào học sinh
nhận thấy được đặc điểm cơ bản, bản chất nhất, đặc trưng nhất của sự vật ấy thì
mới có thế đoán đúng được sự vật. Cái kết luận về nội dung kiến thức bài học là
“Mỗi sự vật có thể có nhiều đặc điểm, nhiều thuộc tính nhưng thuộc tính cơ
bản, bản chất đặc trưng của sự vật để phân biệt nó với cái khác thì được gọi là
chất của sự vật” sẽ được học sinh tiếp thu dễ dàng hơn rất nhiều so với việc đơn
thuần dùng lời giảng của giáo viên.
2. Ví dụ 2: Khi giảng bài 7: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
cũng tương tự như vậy. Để học sinh có thể hiểu rõ thế nào là nhận thức cảm
tính đồng thời tạo một không khí thoải mái trong giờ học người giáo viên có thể
chuẩn bị đồ dung như một quả chanh leo ( hay một đồ dùng khác có nhiều đặc
điểm) rồi yêu cầu một học sinh lên bảng. Giáo viên cho phép em này sử dụng
các cơ quan cảm giác ( trừ thị giác) để nhận biết sự vật như cầm, sờ, nghe, ngửi,
nếm để nhận biết các đặc điểm bên ngoài của sự vật, có thể đoán xem đó là sự
vật gì. Cuối cùng người giáo viên mới cho học sinh này sử dụng cơ quan thị
nhiều. Kiểm tra sự ghi nhớ và vận dụng kiến thức của học sinh ở hai lớp này đạt
100% từ trung bình trở lên, trong đó có 98% đạt loại khá, giỏi.
KẾT LUẬN
thay i mt thúi quen ( nht l thúi quen xu) khụng phi l mt
cụng vic d dng. Cng ging nh thay i ý thc, cht lng ging dy v
hc tp mụn GDCD khụng phi ch da vo mt yu t duy nht l cú th t
c. Nhng nu chỳng ta khụng bt u t nhng cỏi nh, rt nh thỡ chỳng ta
cng khụng bao gi lm c cỏi ln hn. Hc sinh cú thớch hc tp, tỡm hiu
mụn hc hay khụng, ni dung bi hc cú ng li c gỡ trong mi hc sinh
sau khi kt thỳc gi hc hay khụng.iu ú ph thuc rt nhiu vo ngi
giỏo viờn m c th l mi gi lờn lp ngi giỏo viờn s lm gỡ vi hc sinh,
lm gỡ vi nhng kin thc ó vit sn trong sỏch giỏo khoa y. Cho nờn dự l
nhng cỏi rt nh tụi ngh chỳng ta cng nờn bt u t nhng rt nh y. Lm
sao hc sinh cú th va hc m chi chi m hc ú mi l mt ngi
giỏo viờn dy mụn GDCD tt.
Với mục đích góp phần vào việc nâng cao hiệu quả và chất lợng giảng
dạy thực tế của bộ môn GDCD trong nhà trờng THPT, tôi đã tiến hành nghiên
cứu và vận dụng một phơng pháp dạy học mới theo hớng phát huy tối đa vai trò
tích cực của ngời học. Đề tài của tôi sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong nhận đợc sự quan tâm, chia sẻ và góp ý của các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Lào Cai, ngày
tháng
năm 2013