Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập dùng phát triển năng lực tự học trong dạy học hóa học lớp 10 ở trường THPT luận vă - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM TRÂM ANH

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
DÙNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC
TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10 Ở
TRƯỜNG THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

VINH - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM TRÂM ANH

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
DÙNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC
TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10 Ở
TRƯỜNG THPT
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số:

60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


Danh mục các bảng.......................................................................................................
Danh mục các hình vẽ, đồ thị.......................................................................................
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.............................................................33

5. Thông tin bổ sung:...........................................................................45
Lịch sử phát hiện iot............................................................................46
3.6.3. Kết quả định lượng thu được qua bài kiểm tra của học sinh .......................98
3.6.4.6. Nhận xét của giáo viên về hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học ........110

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................112
5.2. Clo trong tự nhiên Clo có 2 đồng vị (75%) và (25%) ..................................12
CHƯƠNG 7 TỐC ĐỘ PHẢN ỨNG − CÂN BẰNG HÓA HỌC........................139

A. nhiệt độ. B. tốc độ phản ứng.............................................................................140
A. khi áp suất tăng, tốc độ phản ứng giảm.............................................................140
C. giảm áp suất bình phản ứng.

D. giảm nhiệt độ, tăng áp suất bình............142

CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM...............................................................6
3.6.3. Kết quả định lượng thu được qua bài kiểm tra của học sinh .......................13
3.6.4.6. Nhận xét của giáo viên về hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học ..........24

PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................25


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt


đktc

Định luật bảo toàn

ĐLBT

Giáo viên

GV

Hệ thống bài tập

HTBT

Học sinh

HS

Kiểm tra đánh giá

KT - ĐG

Nhà xuất bản

NXB

Phòng thí nghiệm

PTN


THPT


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Danh sách các lớp thực nghiệm............Error: Reference source not found
Bảng 3.2. Nhận xét của giáo viên về HTBT.........Error: Reference source not found
Bảng 3.3. Thống kê số lượng phiếu nhận xét của HS....Error: Reference source not
found
Bảng 3.4. Nhận xét của học sinh về HTBT..........Error: Reference source not found
Bảng 3.5. Bảng điểm bài kiểm tra lần 1................Error: Reference source not found
Bảng 3.6. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 1.....Error:
Reference source not found
Bảng 3.7. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 1. Error: Reference source not
found
Bảng 3.8. Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 1........Error: Reference
source not found
Bảng 3.9. Bảng điểm bài kiểm tra lần 2................Error: Reference source not found
Bảng 3.10. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 2...Error:
Reference source not found
Bảng 3.11. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 2Error: Reference source not
found
Bảng 3.12. Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 2......Error: Reference
source not found
Bảng 3.13. Bảng điểm bài kiểm tra lần 3..............Error: Reference source not found
Bảng 3.14. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 3...Error:
Reference source not found
Bảng 3.15. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 3Error: Reference source not
found
Bảng 3.16. Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra lần 3......Error: Reference

Hình 3.10. Đồ thị tổng hợp kết quả học tập của 4 bài kiểm tra......Error: Reference
source not found



1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người và là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong thời đại hiện nay, Việt Nam đã là
thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO, thì giáo dục lại cần
phải phát triển hơn nữa để góp phần đào tạo những thế hệ con người Việt Nam mới
năng động, sáng tạo, có khả năng hội nhập toàn cầu, tự lập trong suốt cuộc đời.
Nhưng biển học thì vô bờ mà bất cứ trường học nào cũng chỉ có thể cung cấp cho
con người khối lượng tri thức có giới hạn. Vậy nên học sao đây trong thời đại bùng
nổ thông tin như hiện nay, kiến thức nhân loại tăng lên vùn vụt, mỗi ngày một
nhiều. Vì vậy cách giải quyết tốt nhất là rèn luyện cho học sinh khả năng tự học.
Bác Hồ đã dạy: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt”; có như thế thì khi ra trường
họ vẫn có thể học mãi, học suốt đời và chỉ có thế họ mới không bị lạc hậu so với
tình hình phát triển của khoa học, kĩ thuật. Việc tiếp thu kiến thức của học sinh nếu
chỉ dựa vào các tiết học trên lớp là chưa đủ. Do vậy, phải dạy cho học sinh cách học
để có thể giúp họ trở thành những người có khả năng tự học suốt đời. Vậy cần thiết
phải đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Một trong những thành tố quan trọng trong quá trình dạy học của người Thầy là
mục tiêu dạy học. Ðể đạt được mục tiêu này, người Thầy phải khai thác có hiệu
quả, xây dựng và chọn lọc kỹ hệ thống bài tập để HS sau khi học xong một bài hoặc
một chương thì phải đạt được 3 mức độ của kiến thức và tư duy là biết, hiểu và vận

3. Đỗ Văn Minh (2007), Xây dựng hệ thống bài tập hoá học vô cơ nhằm rèn luyện
tư duy trong bồi dưỡng HS giỏi ở trường THPT, Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP
Hà Nội.
4. Lê Thị Thiện Mỹ (2011), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự
học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa Học 11 nâng cao trường THPT,
Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TPHCM .
5. Phan Thanh Nam (2006), Xây dựng hệ thống bài tập hóa học để củng cố và phát
triển kiến thức cho học sinh lớp 10 THPT, Luận văn thạc sĩ, ĐH Vinh .
6. Lê Như Nguyện (2009), Rèn trí thông minh cho học sinh thông qua việc giải bài
tập trong dạy học hóa học ở trường THPT, Luận văn thạc sỹ, ĐHSP Vinh.


3

7. Lê Thị Kim Oanh (2011), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh
tự học phần hóa vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao trường THPT, Luận văn thạc
sĩ, ĐHSP TPHCM .
8. Nguyễn Thị Thanh Thủy (2006), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho
học sinh THPT thông qua bài tập hóa học vô cơ, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội.
9. Vũ Anh Tuấn (2003), Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm rèn luyện tư duy
trong việc bồi dưỡng HS giỏi hóa học ở trường trung học phổ thông, Luận án tiến
sĩ, ĐHSP Hà Nội.
10. Trần Thị Thanh Vy (2011), Tuyển chọn xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập
hóa học đại cương nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh lớp 10 nâng cao
THPT, Luận văn thạc sĩ, ĐH Vinh .
- Như vậy, việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập dùng phát triển năng lực tự
học trong dạy học hóa học lớp 10 ở trường THPT vẫn chưa được quan tâm đúng
mức. Điều đó gây trở ngại lớn cho HS khi học phần này. Vì vậy, xây dựng và sử
dụng HTBT dùng phát triển năng lực tự học trong dạy học hóa học lớp 10 ở trường
THPT là cần thiết.

- PP thực nghiệm sư phạm.
- PP toán học.
c. Dùng toán học thống kê để xử lí số liệu kết quả thực nghiệm.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập, phù hợp với trình độ học sinh và được sử
dụng linh hoạt, hợp lí thì giáo viên sẽ thành công trong việc phát triển năng lực tự
học cho học sinh. Qua đó sẽ hình thành thói quen tự học, làm việc độc lập, chủ động
tìm tòi lĩnh hội kiến thức của môn học.
8. Những đóng góp mới của đề tài
- Xây dựng được hệ thống bài tập hoá học lớp 10 hướng dẫn tự học phù hợp với quá
trình nhận thức đa cấp độ của học sinh từ thấp đến cao.
- Xây dựng bộ đề giúp học sinh tự kiểm tra – đánh giá kết quả học tập.
- Giúp học sinh THPT có phương pháp rèn luyện các kĩ năng giải bài tập hóa học
góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học trong giai đoạn hiện nay.
- Là nguồn tư liệu cho GV trong quá trình giảng dạy.


5

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC VÀ BÀI TẬP
HOÁ HỌC
1.1. Tự học
1.1.1. Khái niệm tự học [16], [18], [32]
- Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001, tự học là: “…tự học
là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực
hành…”
- Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học. Người cho rằng “Tự học là cách
học tự động” và “phải biết tự động học”. Theo Người, “tự động học tập” là tự học
một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm
vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự triển khai, thực

trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học. Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu
bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người
học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết
quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nồng độ học tập nhất định”.
-Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so
sánh, phân tích, tổng hợp v.v…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ),
cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới
quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên
trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học …) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó
của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
- Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio,
truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triển lãm, xem phim,
kịch, giao tiếp với những người có học, với các chuyên gia và những người hoạt
động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau. Người tự học phải biết cách lựa chọn
tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe,
phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết
cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện, … Đối
với HS, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc
bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác. Tự học đòi hỏi phải
có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao.
- Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi
cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân. Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi
cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt
động tự thân ấy. Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi HS phải tự thân tiếp nhận


7

tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các kĩ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn
của mình ở mọi nơi mọi lúc.


8

- Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết
vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có
tính chất cá nhân.
- Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự
trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân của mình, tự thể hiện qua sự hợp
tác, trao đổi, giao tiếp các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng
đồng lớp học.
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy
kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai,
tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức).
1.1.3.2. Chu trình dạy của thầy
Chu trình dạy của thầy nhằm tác động hợp lý, phù hợp và cộng hưởng với
chu trình tự học của trò, cũng là chu trình ba thời tương ứng với chu trình tự học ba
thời của trò:
- Hướng dẫn
Thầy hướng dẫn cho từng cá nhân học sinh về các tình huống học, về các vấn đề
cần phải giải quyết, về các nhiệm vụ phải thực hiện trong tập thể học sinh.
Học sinh tự nghiên cứu, tìm tòi cách xử lý các tình huống, cách giải quyết vấn đề để
tự mình tìm ra kiến thức, chân lý bằng hành động của chính mình, tạo ra sản phẩm
ban đầu.
- Tổ chức
Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn: tổ chức các cuộc
tranh luận, trao đổi trò – trò, trò – thầy, sinh hoạt nhóm, các hoạt động tập thể trong
và ngoài nhà trường nhằm tăng cường mối quan hệ giao tiếp

(xã hội)

Hình 1.1. Sơ đồ chu trình dạy - tự học
Dựa vào sơ đồ trên ta thấy:
- Hình tròn bên trong tượng trưng cho nội lực – năng lực tự học.
- Đường tròn giữa tượng trưng cho ngoại lực – tác động dạy của thầy.
- Đường tròn ngoài cùng tượng trưng cho tri thức người học cần chiếm lĩnh.
- Các mũi tên → trong sơ đồ ở vào từng thời đều xuất phát từ cực “thầy”; sáng kiến
điều hành chung cả chu trình dạy – tự học đều thuộc về thầy; Thầy là người khởi
xướng, người dẫn chương trình tự học của trò.
(1) Thầy hướng dẫn cho trò tự nghiên cứu để tự tìm ra một tri thức có tính chất cá
nhân.
(2) Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện, hợp tác với nhau để làm cho sản phẩm ban đầu
của người học được khách quan hơn, tri thức có tính chất xã hội.
(3) Thầy là trọng tài cố vấn, kết luận về cuộc đối thoại và hoạt động của trò, làm cơ
sở cho trò tự kiểm tra, tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình, tri thức người học
tự tìm ra giờ đây mới có tính chất khoa học.


10

Chu trình dạy – tự học là quá trình kết hợp hữu cơ giữa chu trình dạy của thầy và
chu trình tự học của trò. Vì vậy muốn đạt kết quả cao nhất trong chu trình trên thì
dạy học phải cộng hưởng với tự học.
1.1.3.4. Dạy học cộng hưởng với tự học
Sự kết hợp giữa ngoại lực – dạy với nội lực – tự học làm tăng sức tự học,
nâng cao năng lực tự học, chất lượng và hiệu quả học tập có thể xem như là một
hiện tượng cộng hưởng.
Trong lĩnh vực dạy học, tác động dạy học cộng hưởng với tự học:
- Người học tìm cách tự vươn lên trình độ phát triển của mình. Điểm tựa để vươn

tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh.Và, một trong những nhiệm vụ
quan trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học. Bởi từ đó nền
giáo dục mới mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với
mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng. Có thể xem tính tích cực
(hình thành từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân
cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại. Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện
sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức
thông qua sự hưng phấn tích cực. Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú
trong học tập. Có hứng thú người học mới có được sự tự giác say mê tìm tòi nghiên
cứu khám phá. Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác. Tính tích cực của con người
chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với tự giác.
Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập.
- Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng
định năng lực phẩm chất và để cống hiến. Tự học giúp con người thích ứng với mọi
biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội. Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ
không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những
tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn
từ môi trường nghề nghiệp. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ
năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho
họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao.
Với những lí do nêu trên có thể nhận thấy, nếu xây dựng được phương pháp tự
học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực
tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học.
1.1.5. Những khó khăn trong việc tự học môn hoá học
- Thiếu phương tiện, nguồn tư liệu học tập.
- Không chuẩn bị trước bài học ở nhà .


12


(chỉ lên lớp và thụ động nghe thầy giáo giảng bài, giải bài toán minh họa, điều được


13

quan tâm là kết quả bài toán nhiều hơn quá trình giải bài toán, nặng về rèn kỹ năng
hơn rèn năng lực suy luận, tư duy) mà đòi hỏi phải có một trình độ phát triển cao
hơn, có phương thức hoạt động trí tuệ phức tạp hơn thông qua quá trình tự lực giải
bài toán (từ chỗ nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp bài toán, suy xét từ nhiều góc
độ có hệ thống trên cơ sở những lý luận hiểu biết đã có của mình, phát hiện ra các
khó khăn, mâu thuẫn cần được giải quyết bổ sung làm sáng tỏ. Sau đó trình bày giả
thuyết, xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết bài toán. Khảo sát
các khía cạnh, xử lý các dữ kiện bài toán. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết
luận, khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề áp
dụng, vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn hoặc trên cơ sở kiến
thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới
thông qua quá trình giải quyết những bài toán khác. Cuối cùng phải rèn luyện cho
học sinh khả năng tự đánh giá thông qua quá trình tự đánh giá mình và đánh giá
bạn, không có khả năng tự đánh giá, học sinh khó có thể tự tin trong phát hiện, giải
quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học. Nếu học sinh thực sự nắm được những
kiến thức quan trọng thông quá quá trình tự giải bài toán thì đây là tiêu chí rõ nhất
về trình độ phát triển năng lực tự học của các em.
- Kết quả cho thấy sự hướng dẫn tự học, tự điều chỉnh đúng đắn của người thầy và
học sinh có ảnh hưởng rất lớn đối với khả năng tự học của người học.Năng lực tự
học có thể được phát triển thông qua việc ứng dụng học tập tự điều chỉnh và nếu
người học càng có khả năng tự học, kết quả học tập của họ sẽ càng cao.
- Các hoạt động học tập nên được thiết kế theo hướng góp phần tăng cường năng
lực tự học của người học, tức là dựa trên nguyên lý người học tự điều chỉnh học tập
của chính mình qua việc đề ra kế hoạch học tập, thực hiện và điều chỉnh hoạt kế
hoạch học tập và sau cùng là đánh giá kết quả và tiến trình học tập của chính mình.

Do đó, việc nâng cao nhận thức hơn nữa về nội dung, phương pháp thực hiện việc
đổi mới này phải trở thành công việc thường xuyên, liên tục.
1.2.2. Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học [4], [11]
1.2.2.1 Những nét đặc trưng cơ bản của xu hướng đối mới PPDH trên thế giới
- Do tác động của cơ chế thị trường, vai trò của giáo dục ngày càng được đề cao và
được xem như một động lực trực tiếp nhất để bồi dưỡng nhân lực, thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế xã hội. Do tác động đó, nhà trường muốn tồn tại và phát triển
thì phải đổi mới cách dạy học cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp, trong đó
phương pháp là yếu tố cuối cùng quyết định chất lượng đào tạo. Để đảm bảo cho


15

sản phẩm đào tạo được nhanh chóng thích ứng với cơ chế mới, nhà trường phải tạo
ra được những hệ dạy học mềm dẻo, đa năng và hiệu nghiệm, thích hợp với đối
tượng học sinh rất khác nhau về nhu cầu, trình độ và khả năng.
- Các PPDH hiện đại được phát sinh từ những tiếp cận khoa học hiện đại, như tiếp
cận hệ thống, tiếp cận mođun, phương pháp grap v.v ... Đây là những phương pháp
giúp điều hành và quản lý kinh tế - xã hội rất hiệu nghiệm ở quy mô hoạt động rộng
lớn và phức tạp. Từ những phương pháp đó, đã xuất hiện những tổ hợp PPDH phức
hợp, như algorit dạy học, grap dạy học, mođun dạy học, v.v. .. Những tổ hợp
phương pháp phức hợp này rất thích hợp với những hệ dạy học mới của nhà trường
trong cơ chế thị trường hiện đại, và chỉ có chúng mới cho phép người giáo viên sử
dụng phối hợp có hiệu quả với những hệ thống đa kênh, kể cả kỹ thuật vi tính, điều
mà các PPDH cổ truyền không có khả năng thực hiện.
- Đặc biệt là tiếp cận hệ thống đang xâm nhập vào giáo dục như một công cụ
phương pháp luận hiệu nghiệm. Ngày nay, khi mà mục tiêu của nhà trường trong cơ
chế thị trường hiện đại đang định hướng rõ rệt cho việc bồi dưỡng và phát triển
nguồn nhân lực cho một nền kinh tế đang phát triển và biến đổi sâu sắc, nội dung trí
dục của nhà trường cũng biến đổi cơ bản theo với sự phát triển mạnh mẽ của khoa

3. Cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh.
- Cần phải xác định rằng một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng dạy và
học chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới của thực tiễn là do công tác kiểm tra và
đánh giá chưa được hoàn chỉnh. Vì vậy, "việc xây dựng và hoàn chỉnh các phương
pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở trường phổ thông đến nay vẫn là một trong
những vấn đề quan trọng nhất". Có thể xem đây cũng là một khâu đột phá khởi
động cho việc đổi mới PPDH. Dạy tốt chỉ có thể có ý nghĩa khi kết quả của nó dẫn
đến đích là học tốt. Do đó, muốn đánh giá "dạy tốt" thì trước hết phải kiểm tra đánh
giá xem có "học tốt" không đã. "Chính nội dung và cách thức kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của người học sẽ chi phối mạnh mẽ, điều chỉnh ngay lập tức cách học
của học sinh và cách dạy của thầy".
- Kiểm tra - đánh giá trong dạy học là một vấn đề hết sức phức tạp, luôn luôn chứa
đựng nguy cơ không chính xác, dễ sai lầm. Vì vậy đổi mới PPDH thì nhất định phải
đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá, sử dụng kỹ thuật ngày càng tiên tiến, có tính
khách quan và độ tin cậy cao.
1.3. Bài tập hóa học
1.3.1. Khái niệm bài tập hóa học
- Bài tập hoá học giữ vai trò rất quan trọng, nó vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại
vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm. Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status