1
Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
Trờng Đại Học Vinh
-----------& ----------
Ngô Thị Thanh Thuỷ
Vần Và Nhịp Trong Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số:60.22.01
luận văn thạc sỹ ngữ văn
Nguời hớng dẫn khoa học:
GS. TS. Nguyễn nhã bản
Vinh 12/2008
Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thơ ca là một bức tranh toàn cảnh về cuộc sống, về hiện thực khách
quan, nó hấp dẫn ngời đọc ở mọi thời đại, mọi tầng lớp trong xã hội. Một trong
những lý do làm nên sức hấp dẫn của thơ đối với ngời đọc đó chính là tính nhạc,
có thể nói đây là một trong những u thế tuyệt đối(chữ dùng của Nguyễn Phan
Cảnh) của thơ so với văn xuôi.
2
Tính nhạc trong thơ do nhiều yếu tố cấu tạo nên, trong đó phải nói tới hai
yếu tố chính và chủ yếu đó là vần và nhịp, vần và nhịp là những yếu tố quan
trọng tạo nên nhạc tính trong thơ. Đã xuất hiện nhiều công trình của các tác giả
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu vần và nhịp trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ cụ thể:
- Khái quát về vần và nhịp, vai trò và chức năng của chúng trong thơ ca.
- Khảo sát phân loại, tìm ra những đặc trng về vần và nhịp trong thơ Lâm Thị
Mỹ Dạ, và mối quan hệ giữa chúng.
- Từ đó, xác định những đóng góp của tác giả trong việc sử dụng vần và nhịp
cho nền văn học dân tộc.
2.2. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
-Sáng tác của Lâm Thị Mỹ Dạ khá nhiều cả thơ và văn xuôi tuy nhiên đề
tài của chúng tôi tập chung nghiên cứu những tập thơ chính sau:
-Trái tim nỗi nhớ, in chung với ý Nhi, Nxb Văn Học, 1974.
- Bài ca không năm tháng, Nxb Tác phẩm mới, 1983.
- Mẹ và con, in chung với Hoàng Dạ Thi, Nxb Phụ nữ, 1996.
- Đề tặng một giấc mơ, Nxb Thanh niên, 1998.
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Lâm Thị Mỹ Dạ là nhà thơ nữ trởng thành trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ.Tác phẩm của chị đợc bạn đọc yêu thích và có chỗ đứng vững chắc trên văn đàn,
đã có khá nhiều bài viết của các nhà thơ, nhà phê bình, nhà nghiên cứu nhận xét về
thơ của chị .
Trong Tác phẩm và d luận Trần Bảo Hng viết: Trái tim nhạy cảm
nhiều yêu thơng và nỗi nhớ của Lâm Thị Mỹ Dạ giúp cho cảm xúc thơ của chị
nhiều vẻ ít đơn điệu và không cằn cỗi Thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ có đợc cái tình
hơi đa mang, đa tình nhng rất tha thiết, rât thật. [32; 181]. Nhận xét về những
giá trị nội dung trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, Hồ Thế Hà cho rằng: Sau Trái tim
nỗi nhớ (1974), Bài thơ không năm tháng(1983), thơ chị lặng lẽ đi theo một
4
hớng mới với ý thức cần có tiếng nói mới, trớc hết cho chính mình. Hái tuổi em
những hơi thở gấp gáp của những hồi ức tự thú, tự thoại, sống thật với chính
mình. [30; 107]
Ngoài ra còn nhiều bài viết in trên các báo, tạp chí nhận xét đánh giá về
thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ, hoặc phân tích, bình giảng một số bài thơ cụ thể. Nhìn
chung đều là những lời nhận xét tâm huyết của các tác giả, đa phần là những lời
khen, những cảm nhận tinh tế về thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ cả về nội dung lẫn hình
thức.
Nh vậy chúng ta có thể thấy, thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đợc các nhà nghiên cứu,
phê bình đánh giá khá cao. Đặc biệt, thơ chị thu hút đợc một lợng lớn độc giả cả
trong nớc lẫn ở nớc ngoài. Tuy nhiên ngoài một công trình nghiên cứu về ngôn
ngữ thơ của chị, còn lại chủ yếu là các bài viết nhỏ. Vì vậy nghiên cứu thơ Lâm
Thị Mỹ Dạ đang còn rất nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ cần phải đi sâu nghiên cứu,
đánh giá tìm ra những nét đặc sắc, những đóng góp của chị đối với nền văn học
dân tộc. Đặc biệt là nghiên cứu về vần và nhịp, một trong những nét khẳng định
tài năng thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đã đề ra, luận văn sử dụng những phơng pháp nghiên cứu sau: Thống kê và phân loại các câu thơ, bài thơ có chứa vần
và nhịp trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.Từ đó miêu tả, phân tích tổng hợp các đặc trng
của vần và nhịp để rút ra những nhận xét cụ thể về vần và nhịp trong thơ Lâm Thị
Mỹ Dạ.
5. Cái mới của đề tài
Luận văn là đề tài đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về vần và
nhịp trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, bằng các số liệu và dẫn chứng cụ thể, tìm ra mối
quan hệ giữa chúng góp phần vào việc phê bình, nghiên cứu, học tập và giảng
dạy thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong nhà trờng.
6. Cấu trúc của luận văn
6
song khái niệm về vần vẫn luôn là vấn đề đợc bàn cãi. Đã xuất hiện rất nhiều các
quan niệm khác nhau nhng cha có một quan niệm nào hoàn toàn thống nhất ở các
nhà thơ, các nhà nghiên cứu. Luận văn sẽ trình bày một số quan điểm, đánh giá của
các tác giả nghiên cứu về vần thơ .
1.1.1 Khái niệm về vần trong thơ ca
Cũng nh các quan niệm về từ, hình vị, về câu, về thơ, các quan niệm về
vần hiện nay có rất nhiều nhng cha có một định nghĩa nào cho đến nay đợc công
nhận là đầy đủ, là bao quát cho mọi vần thơ.
ở Việt Nam, những năm gần đây chúng ta đã có khá nhiều tác giả
nghiên cứu về vần thơ, Đã có nhiều các định nghĩa về vần ở nhiều khía cạnh, góc
độ khác nhau đợc công bố.
Dơng Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu và Việt Nam giáo
khoa th đã định nghĩa: Vần ( chữ nho là vận) là những tiếng thanh âm hoà hiệp đặt
vào hai hoặc nhiều câu văn để hởng ứng nhau [dẫn theo 6; 18] Định nghĩa này đã
chú ý đợc đặc điểm hoà âm của vần do đó nó tơng đối là phổ quát. Tác giả
Nguyễn Lơng Ngọc cũng đa ra định nghĩa về vần trong Mấy vấn đề nguyên lý văn
học. Sự lặp lại những thanh đọc theo một âm ở cuối hay quãng giữa dòng thơ để
tăng tiết tấu và sự biểu hiện của từ gọi là vần. [dẫn theo 6; 18]. Định nghĩa này tác
giả chú ý đến vai trò của thanh điệu song lại không chú ý đến vai trò hoà âm của
vần thơ.
8
Cả hai định nghĩa trên đều cha thấy đợc chức năng liên kết của vần, đây
là chức năng quan trọng nhất của vần thơ. Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa
vần khá đầy đủ: Một phơng tiện tổ chức văn bản thơ dựa trên cơ sở sự lặp lại sự
không hoàn toàn các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo tính hài
hoà và liên kết của dòng thơ và giữa các dòng thơ [35; 292].
vần với một từ đơn tiết hoặc một từ đa tiết nào khác. Ngời ta chỉ thừa nhận sự hiệp
vần giữ tiếng (âm tiết) khác mà thôi.[6; 65]. Ví dụ:
Rơi rơi dìu dịu rơi rơi
Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ
Tơng t hớng lạc, phơng mờ
Trở nghiêng gối mộng, hững hờ nằm nghe.
(Buồn đêm ma- Huy Cận)
ở đây chúng ta có thể thấy không phải là vu vơ hiệp vần với mờ mà
chỉ có âm tiết vơ hiệp vần với mờ tơng tự mờ hiệp vần với hờ chứ không
phải hững hờ. Nh vậy chúng ta có thể thấy khi hiệp vần thơ, nhà thơ chỉ quan tâm
đến một âm tiết trong từ đa tiết mà thôi. Âm tiết đó đa phần có là âm tiết cuối của
từ đa tiết nh mơ và hờ ở trên, hoặc cũng có thể là âm tiết đầu tiên của từ đa
tiết. ví dụ:
Lời tự tình trăm lần trên ghế đá
Biết lời nào giả dối với lời yêu
(Thơ tình cho bạn trẻ- Xuân Quỳnh)
1.1.2.2. Đối với thơ ca truyền thống không có vần không thể thành thơ
và khi làm thơ các tác giả phải tuân theo các quy tắc bắt buộc trong việc bắt vần
trong thơ.Ví dụ trong thể thơ bát cú vần có những đặc điểm chính sau:
- Không có vần lng chỉ có vần chân ở các dòng 1, 2, 4, 6, 8 .
- Thờng chỉ là vần bằng, thoảng hoặc mới dùng vần trắc.
- Các âm tiết bắt vần với nhau thờng cùng vận mẫu (độc vần)
Ví dụ :
Quanh năm buôn bán ở mom sông.
10
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng.
Ngời còn thì của hãy còn
Tìm nơi xứng đáng lên con cái nhà.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du )
Ngoài ra trong ca dao, tục ngữ Việt Nam vần luôn xuất hiện và là yếu tố
không thể thiếu:
Tiện đây Mận mới hỏi Đào
Vờn Hồng có lối ai vào hay cha.
( ca dao )
Ngời sống, đống vàng
Đâm bị thóc, chọc bị gạo
(Tục ngữ)
Thơ ca hiện đại xuất hiện nhiều hình thức thơ mới nh thơ tự do, thơ văn
xuôi . . . Vần không còn là những quy tắc bắt buộc. Không còn là những dấu hiệu
đặc trng nữa. Tuy nhiên vần vẫn là yếu tố quan trong tạo nên nhip điệu cho mỗi câu
thơ, bài thơ. Do vậy vần cũng trở nên phong phú và đa dạng hơn. Các tác giả sử
dụng nhiều hình thức gieo vần phong phú, mới lạ. Các lối gieo vần đã có trong thơ
ca dân tộc đều đợc khai thác và vận dụng, ngoài ra thơ mới còn tiếp thu nhiều cách
gieo vần của thơ ca nớc ngoài, nh thơ ca Pháp.
Cách gieo vần của thơ ca hiện đại không còn bắt buộc phải tuân theo những
quy tắc luật lệ mà nó phụ thuộc vào tài năng và phong cách của cá nhân mỗi nhà thơ,
ví dụ:
Em không nghe mùa thu
Dới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng ngời cô phụ.
( Tiếng thơ - Lu Trọng L )
12
13
Trong Thơ mới bình minh thơ Việt Nam hiện đại Ngô Quốc Tuý lại
cho rằng : Ngoài những loại vần phổ biến nh thơ truyền thống thì thơ mới còn có
hiện tợng hiệp vần giữa các âm tiết cùng dòng. Có thể là vần liền ( Hai âm tiết đi
liền với nhau ) hoặc cách nhau một âm tiết.
Sau khi tìm hểu, nghiên cứu các loại vần thơ Việt Nam các nhà nghiên
cứu đã thống nhất hai cách phân loại vần nh sau :
- Thứ nhất là dựa theo vị trí hiệp vần; Có vần chân và vân lng.
Thứ hai, dựa theo độ hoà âm giữa các âm tiết tham gia hiệp vần có; Vần
chính, vần thông và vần ép .
Xét theo vị trí các tiếng hiệp vần, thơ Việt Nam có hai loại: Vần chân và
vần lng.
Vần chân (còn gọi là cớc vận) là tiếng đợc gieo và tiếng hiệp vần đều
nằm ở cuối dòng thơ. Vần chân có tác dụng đánh dấu sự kết thúc dòng thơ và tạo
nên mối liên kết giữa các dòng thơ.
Hình thức gieo vần này đợc thể hiện khá đa dạng, linh hoạt thể hiện ý
tuởng, phong cách của từng tác giả.
- Có thể là vần Chân liên tiếp.
Ví dụ :
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sơng lấp đoàn quân mỏi
Mờng Lát hoa về trong đêm hơi.
(Tây Tiến- Quang Dũng)
- Có thể là vần chân giãn cách.
Ví dụ :
Từ ngày nào chẳng biết
Thuyền nghe lời biển khơi
Cánh Hải Âu sóng biếc
Hoặc :
Em nhỏ thơ ngây đôi mắt biếc
15
Gói tròn thơng tiếc chiếc khăn tay.
( Tống biệt hành- Thâm Tâm)
Vần chân và vần lng là hai cách hiệp vần thờng thấy trong thơ ca Việt
Nam. Các tác giả khi làm thơ đều sử dụng vần này, đặc biệt là trong thơ ca truyền
trống. Sau này các tác giả thơ ca hiện đại đã sử dụng cách gieo vần chân và vần lng
khá linh hoạt tạo nên nét riêng, độc đáo, làm cho thơ ca có đợc âm hởng dồi dào,
diễn tả những rung động trong tâm hồn mỗi nhà thơ.
Vần xét theo độ hoà âm đợc chia làm ba loại: Vần chính, vần thông và
vần ép.
Vần chính
Là vần mà có độ hoà âm, phối âm thanh cao nhất, nó phải đồng nhất ở đặc
trng thanh điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc). Âm cuối nếu có phải giống nhau, có
âm chính giống nhau. Phụ âm cuối nếu có phải khác nhau.
Ví dụ:
Tiếng hát đâu mà nghe nhớ thơng
Mái nhà man mác nớc sông Hơng.
( Quê Mẹ - Tố Hữu )
Theo Mai Ngọc Chừ vần chính có bốn kiểu nh sau:
Kiểu 1: loan hoan, tuyết nguyệt, hàn - màn, ta là, ai
hai ( khác nhau âm đầu, đồng nhất ở thanh điệu và các thành phần khác).
Kiểu 2: loan lan, hoa ha, tuyệt tiết, quán cạn, hoài
hài ( chỉ khác nhau ở âm đệm, các thành phần khác đồng nhất ).
Kiểu 3: toàn toan, quất quật, đôi - đồi, vần vân, cồ
cô, la là (hoàn toàn đồng nhất ở các bộ phận chỉ khác nhau ở thanh điệu,
Các tác giả khi nghiên cứu về vần ép đều cho cùng quan niệm vần ép là có
âm gần giống vần thông nhng ở mức độ kém hơn. Tác giả Dơng Quảng Hàm cho
rằng vân ép là vần cỡng áp: là vần gieo gợng không đợc hiệp lắm. [Dẫn theo 6;
186]
Trong thơ ca truyền thống, vần ép không đợc phổ biến lắm. Hiện nay,
trong thơ ca hiện đại vần ép đợc sử dụng nhiều hơn. Có ngời đã xem vần ép nh là
17
một loại vần chính trong thơ ca. ở vần ép, âm chính khác nhau cả về dòng lẫn độ
mở. Còn âm cuối có thể trùng nhau hoặc cùng cùng nhóm phụ âm ( Mũi hay tắc).
Dới hàng cây đây
Ta không còn bớc
Nh ngời lính gác
Đã hết phiên mình
Nh lá vàng rụng
Nh chồi thêm xanh.
( Chồi biếc Xuân Quỳnh )
Ngoài cách phân loại vần nh trên, cũng có thể phân loại vần dựa vào đờng
nét thanh điệu trong các tiếng hiệp vần thành vần bằng hoặc vần trắc.
Vần bằng là những tiếng hiệp vần có thanh ngang ( không dấu ) và thanh
huyền ( \ ).Ví dụ:
Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi
Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Mà em ơn mẹ suốt đời cha xong.
( Mẹ của anh Xuân Quỳnh )
Vần trắc: các tiếng hiệp vần có dấu thanh là sắc (/), ngã(~), và nặng (.). Ví
dụ:
cảm xúc, suy nghĩ của ngời viết. Vì vậy tác giả Hà Minh Đức cho rằng: Thơ lục
bát có những hạn chế trong việc biểu hiện cái quyết liệt và sôi nổi của hiện thực
khách quan [13; 123]. Tuy nhiên đối với thơ ca hiện đại các tác giả đã không
ngừng tìm tòi, sáng tạo và cách tạo vần điệu, khiến cho những câu thơ lục bát có
âm hởng phong phú, đa dạng hơn, góp phần khắc phục nhợc điểm do cấu trúc của
thơ mang lại: Đó chính là sự đều đều phẳng lặng, ví dụ:
Nhìn đâu cũng thấy nụ cời
Hàng phi lao hát nhũng lời mát xanh.
( Tình ca trong lòng vịnh Xuân Quỳnh )
19
Ngoài cặp vần lng cời lời Tác giả gieo vần giữa các âm tiết trong một
dòng thơ hát mát( vần lng ) mang thanh trắc, tạo âm hởng vui tơi, rộn ràng
hơn.
Vần ở thể thơ năm chữ:
Là một thể thơ truyền thống có từ xa của dân tộc ta, thờng là các bài vè,
hát đồng dao, thơ cổ phong. Theo một số tác giả thơ 5 chữ có nguồn gốc từ thể hát
giặm Nghệ Tĩnh. ở thể thơ này các tác giả thờng gieo vần bằng tạo nên sự hài hoà,
âm hởng bay bổng cho bài thơ. Thơ năm chữ của thơ mới có nhiều nét khác biệt so
với thơ ngụ ngôn trớc đây. Với sự sáng tạo không ngừng các tác giả đã tạo cho thơ
năm chữ một hơi thở mới, mạch thơ mở rộng hơn, tứ thơ bay bổng và tình ý thiết
tha hơn.
Thông thờng bài thơ năm chữ mới thờng có nhiều khổ, mỗi khổ bốn câu.
Vần đợc gieo từng cặp một, ôm nhau, chéo nhau hoặc giãn cách:
Ví dụ:
Sầu riêng sao gai góc
Niềm đau toả hơng trời
Ngoài xanh mà trong đỏ
thơ gọi là thơ tự do.Thơ tự do là sự kế thừa, thể hát nói trong thơ ca dân gian. Sau
cách mạng tháng Tám đến nay thơ tự do phát triển ngày càng mạnh mẽ và phong
phú hơn. Là thơ tự do vì vậy nó không có những quy định, quy tắc bắt buộc nh thơ
đờng luật, hay các thể thơ khác. Số chữ trong câu có thể từ một chữ cho đến hàng
chục chữ. Khổ thơ có thể là dài hoặc ngắn không hạn chế. Vì vậy gieo vần trong
thơ tự do cũng rất linh hoạt, đa dạng. Có thể gieo vần vừa bằng vừa trắc, vừa gieo
vần liên tiếp, vần giãn cách hoặc ôm nhau, có thể cả vần chân và vần lng.Ví dụ:
Trang nhật ký xé trăm lần lại viết
Tình yêu nào cũng tha thiết nh nhau
Có một thời ngay cả nỗi đau
Cũng mạnh mẽ, ồn ào không dấu nổi
Mơ ớc viển vông, niềm vui thơ dại
Tuổi xuân mình tởng mãi vẫn tơi xanh
21
Và tình yêu không ai khác ngoài anh.
( Có một thời nh thế Xuân Quỳnh)
ở thơ hiện đại các tác giả sử dụng nhiều hình thức gieo vần phong phú,
đa dạng với những cách biến đổi linh hoạt hơn. Ngoài ra thơ ca hiện đại còn tiếp
thu nhiều cách gieo vần của thơ ca nớc ngoài nh thơ ca Pháp tạo nên những nét hấp
dẫn riêng biệt.
Ngày nay có nhiều ý kiến khác nhau về vần trong thơ. Có ý kiến cho rằng
thơ mới không cần vần cho nên họ không chú ý nhiều đến vần. Theo chúng tôi dù
là thơ ca hiện đại hay truyền thống thì hiệp vần trong thơ vẫn là một trong những
yếu tố quan trọng tạo nên sợi dây liên kết cho bài thơ, làm cho bài thơ là một khối
liền mạch gắn kết cả về nội dung lẫn hình thức.
1.1.3. Vai trò, chức năng của vần trong thơ
Đối với thơ ca truyền thống vần là một trong những dấu hiệu đặc trng, đã
Ô hay buồn vơng cây ngô đồng
b
Vàng rơi ! Vàng rơi thu mênh mông b
( Tỳ bà - Bích Khê )
Thơ hiện đại không có câu thơ, khổ thơ nhất định nh thơ truyền thống, vì
vậy chúng ta có thể cảm thấy vai trò của vần ở đây không quan trọng, hoặc kém
hơn. Nhng thực ra, ở những bài thơ hiện đại vần có một vai trò rất quan trọng trong
việc tổ chức liên kết các dòng thơ, đoạn thơ. ở thơ tự do, đối với những bài thơ
không có khổ vần nh một sợi dây liên kết kéo dài từ đầu bài thơ đến cuối bài thơ.
Ví dụ:
Cuộc đời sao dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Nh biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao đợc tan ra
Thành trăm ngàn con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ
( Sóng Xuân Quỳnh )
Các nhà thơ mới luôn luôn có ý thức sáng tạo, cách tân ở cách gieo vần,
đem đến cho thơ ca hiện đại một dáng vẻ mới, với sức hấp dẫn đặc biêt. Vần giờ
đây đợc gieo rất phong phú, đa dạng, thể hiện đợc nhiều tâm t, tình cảm, những
rung động của con ngời, của chính tác giả. Có thể nói trong thơ mới vần có những
giá trị thẩm mỹ và t tởng cao phù hợp với xu thế của thời đại.
Cũng ở giai đoạn thơ mới, thơ tự do phát triển (sau cách mạng tháng 8).
Ngoài các bài thơ có vần còn xuất hiện những bài thơ không có vần. Các tác giả
23
24
Khái niệm nhịp điệu trong thơ đã có từ lâu trong văn học. Các tác
giả, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Việt nam đã đa ra rất nhiều quan
điểm, định nghĩa khác nhau về nhịp điệu. Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức cho
rằng: Nhịp điệu là sự láy lại một cách đều đặn và nhịp nhàng, những tiết tấu
của thơ ca mà sự sắp xếp những tiét tấu đó lại do quy luật của thanh điệu chi
phối. Nhịp điệu rất linh hoạt và cơ động, tạo thành do sự phối hợp của những
quy luật riêng của âm thanh [26; 343]. Hà Minh Đức thì cho rằng: Quan
niệm một cách đơn giản thì nhịp điệu là kết quả của sự chuyển động nhịp
nhàng, sự lặp lại đều đặn những âm thanh nào đó trong thơ [13; 376]. Theo
Bùi Công Hùng thì: Nhịp điệu trong thơ xuất hiện trên cơ sở nhịp điệu của lao
động, nhịp điệu của hơi thở con ngời. Nhịp điệu là sự nối tiếp của các tiếng sắp
xếp thành từng khung đều đặn của giọng nói và theo thời gian [19; 179] Để
khẳng định vai trò của nhịp điệu trong thơ Maiakôpxki nhấn mạnh: Nhịp điệu
là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bản của thơ [Dẫn theo 13; 376].
Có thể nói: Nhịp trong thơ là nhịp trên cơ sở lao động, dựa vào hơi
thở gắn liền với xúc cảm, dựa vào bản chất của chất liệu ngôn ngữ [19; 181,
182].Các tác giả chú ý đến cơ chế cấu tạo nhịp điệu trong thơ. Họ cho rằng nhịp
điệu là đặc trng cơ bản của hình thức thơ. Nhịp điệu trong thơ là sự tổng hợp hài
hoà nhiều yếu tố: âm tiết, đoạn tiết tấu, giai điệu và vần thơ. Nhịp điệu trong thơ
là kết quả của sự cộng hởng giữa nhịp điệu ngoài đời sống và nhịp điệu của tâm
hồn nhà thơ. Nhà thơ, khi có những rung động trớc nhịp điệu nào đó thờng tái
hiện lại bằng một nhịp điệu riêng đặc trng riêng của chính mình Nhịp thơ là
nhịp điệu có tính mỹ học do con ngời sáng tạo ra để biểu thị t tởng tình cảm của
mình [19; 182].
Một số tác giả cho rằng nhịp điệu là sự phân bố chỗ ngắt giọng, nhịp
điệu của ngôn ngữ là sự chia cắt âm thanh để khi đọc ngời đọc có thể cảm thụ đợc tốt nhất nội dung t tởng của bài thơ. Nh vậy chúng ta có thể hiểu rằng nhịp
điệu trong thơ là kết quả của sự chuyển động một cách nhịp nhàng, uyển
hay 2/4/2.