HỌC VIỆN THỂ THAO
TRƯỜNG ĐHSP THỂ DỤC THỂ THAO
THƯỢNG HẢI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HÀNG QUANG THÁI
NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI
VÀ THỂ LỰC TRẺ 4 TUỔI CÁC TRƯỜNG MẦM NON
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
HỌC VIỆN THỂ THAO
TRƯỜNG ĐHSP THỂ DỤC THỂ THAO
THƯỢNG HẢI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HÀNG QUANG THÁI
NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI
VÀ THỂ LỰC TRẺ 4 TUỔI CÁC TRƯỜNG MẦM NON
trong sự nghiệp giáo dục của đất nước. Giáo dục Mầm non nằm trong hệ
thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
trẻ em ở lứa tuổi từ ba tháng đến sáu tuổi, giúp trẻ em phát triển về thể chất,
tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên về nhân cách.
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của
mỗi gia đình và toàn xã hội. Từ lâu, cộng đồng nhân loại đã nhận thức rõ điều
đó và đi tới những biện pháp thiết thực để bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ, phát
huy tối đa các năng lực trí tuệ, thể chất cho thế hệ trẻ, phát triển phù hợp với
sự tiến bộ của thời đại.
Ở Việt Nam, trong chương trình giảng dạy thể dục cho trẻ Mầm non,
các nội dung của thể dục phát triển thể chất chiếm vị trí chủ yếu. Chương
trình giáo dục thể chất cho lứa tuổi này cùng với chương trình giáo dục thể
2
chất cho các cấp học tiếp theo, thể dục góp phần quan trọng vào việc phát
triển các tố chất thể lực, kỹ năng, hoàn thiện các hoạt động tâm sinh lý cho
học sinh, tạo ra những tiền đề phát hiện tài năng thể thao trong tương lai.
Trẻ ở lứa tuổi Mầm non năng lực thể chất đang trên đà phát triển,
song phát triển của một số năng lực diễn ra không đồng đều. Điều đó, trước
hết là do những quy luật tự nhiên của sự biến đổi các hình thái và chức năng
của cơ thể theo lứa tuổi trong những giai đoạn phát triển và trưởng thành khác
nhau. Các tố chất thể lực của trẻ trong một chừng mực nhất định, sẽ được
hình thành và hoàn thiện dần trong quá trình học các động tác, các bài tập thể
dục của chương trình GDTC Mầm non quy định. Song, sự tác động có chủ
đích đối với những tố chất thể lực này, hay tố chất thể lực khác, sẽ được đảm
bảo nhờ sự lựa chọn các bài tập thể chất và các phương pháp tập luyện phù
hợp và khoa học. Do vậy, vấn đề đặt ra là phải tổ chức hoạt động giáo dục thể
chất đúng đắn và phát triển toàn diện cho trẻ, ngay từ lứa tuổi nhỏ, chuẩn bị
Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đế nghiên cứu
cũng như thực trạng giáo dục thể chất hiện nay ở các trường Mầm non, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI VÀ THỂ LỰC
TRẺ 4 TUỔI CÁC TRƯỜNG MẦM NON Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH”
+ Mục đích nghiên cứu:
Nhằm đánh giá thực trạng và tác dụng của tập luyện thể dục đối với sự
phát triển hình thái và thể lực của trẻ 4 tuổi các trường Mầm non ở Thành Phố
Hồ Chí Minh. Qua đó giúp cho các giáo viên có những phương pháp giảng
dạy thể dục phù hợp với khả năng phát triển thể chất của trẻ lứa tuổi Mầm
non.
4
+ Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu 1: Lựa chọn các chỉ số, đánh giá thực trạng hình thái và thể
lực trẻ 4 tuổi các trường Mầm non ở Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Lựa chọn các chỉ số đánh giá hình thái và thể lực trẻ 4 tuổi các trường
Mầm non ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Kiểm nghiệm định độ tin cậy các chỉ số đánh giá về hình thái và thể
lực trẻ 4 tuổi các trường Mầm non ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đánh giá thực trạng hình thái và thể lực trẻ 4 tuổi các trường Mầm
non ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Mục tiêu 2: Đánh giá sự phát triển hình thái và thể lực trẻ 4 tuổi các
trường Mầm non ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đánh giá sự phát triển hình thái và thể lực trẻ 4 tuổi các trường Mầm
non ở Thành phố Hồ Chí Minh sau một năm học tập.
6
Sau khi nước nhà vừa mới độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ
đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn… Vậy mà, ngày 30/01/1946, với
tầm nhìn chiến lược, Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập Nha Thể Dục
Trung Ương Thuộc Bộ Thanh Niên trên cơ sở: “Xét vấn đề thể dục rất cần
thiết để tăng cường, bồi bổ sức khỏe quốc dân và cải tạo nòi giống Việt
Nam”.
Sắc lệnh còn chỉ rõ, Nha Thể Dục Trung Ương có nhiệm vụ liên lạc
mật thiết với Bộ Y Tế và Bộ Giáo Dục, để nghiên cứu phương pháp thể dục
Việt Nam và thực hành một chương trình thể dục riêng trong toàn quốc, phù
hợp với hoàn cảnh và nền kinh tế lúc bấy giờ. Đây là một văn kiện lịch sử về
TDTT rất quý giá, nó không những đánh dấu sự ra đời của ngành TDTT Việt
Nam, mà còn thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ với ngành TDTT Việt
Nam, đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống tổ chức và định hướng lâu
dài cho nền TDTT Việt Nam. Ngay sau đó, ngày 27/3/1946, trong bài lời kêu
gọi toàn dân tập thể dục, Người viết: “giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà,
gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công”. Bác cũng
chỉ rõ muốn có sức khỏe thì “rèn luyện tập thể dục” và coi đó là bổn phận của
“mỗi người dân yêu nước” [5, tr212].
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục toàn
diện cho thế hệ trẻ, rất chú ý đến TDTT, coi đó là mục tiêu quan trọng của sự
nghiệp Cộng Sản. Với tư tưởng chỉ đạo đó, Đảng và Nhà nước không ngừng
tạo những điều kiện thuận lợi, để biến học thuyết phát triển con người toàn
diện thành hiện thực.
Văn kiện Đại hội VIII của Đảng đã nêu rõ:“ Giáo dục và đào tạo cùng
với khoa học công nghệ phải trở thành quốc sách hàng đầu, chuẩn bị tốt hành
trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ 21… Đồng thời, khẳng định rõ sự cường
8
Bước vào thế kỷ 21 – nền văn minh tin học với sự bùng nổ của tri thức
khoa học và công nghệ, vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định sự sống và
phát triển nguồn nhân lực. Từ trước đến nay, nhân tố con người luôn được
Đảng và Nhà nước coi trọng và xem là “vốn quý nhất của xã hội”. Điều đó,
được thể hiện xuyên suốt và nhất quán trong tất cả các nghị quyết của Đảng
về cách đặt vấn đề giáo dục lớp người mới của đất nước là con người phát
triển toàn diện. Giáo dục đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược
phát triển của mỗi quốc gia. Thế hệ trẻ hôm nay, sẽ là những chủ nhân tương
lai của đất nước. Vì thế, giáo dục phải chuẩn bị đầy đủ cho lớp trẻ những năng
lực thể chất và trí tuệ cần thiết, để có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển của
đất nước trong giai đoạn mới. Do vậy, cần có sự liên kết chặt chẽ và thống
nhất với nhau trong quá trình giáo dục và đào tạo giữa các cấp học, bắt đầu từ
giáo dục Mầm non, giáo dục Phổ thông đến giáo dục Đại học…[9].
1.1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất
cho trẻ em trước tuổi đến trường:
Giáo dục Mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn lực con người, Nhà
giáo dục học Macarenko A.X đã viết: “Những cơ sở căn bản của việc giáo
dục trẻ đã được hình thành từ trước tuổi lên năm. Những điều dạy cho trẻ
trong thời kỳ đó, chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ. Về sau, việc giáo dục
đào tạo con người vẫn tiếp tục, nhưng lúc đó là bắt đầu nếm quả, còn những
nụ hoa đã được vun trồng trong năm năm đầu tiên”. Điều đó, cho thấy rằng:
việc nuôi dạy “con người” bắt đầu từ những năm đầu tiên của cuộc sống là
một việc làm hết sức quan trọng và có ý nghĩa lớn lao về nhân văn, xã hội và
kinh tế, nhưng lại vô cùng vất vả, khó khăn.
10
ngồi trên ghế nhà trường. Giáo dục thể chất tốt trong giai đoạn này, sẽ tạo cơ
sở tốt cho sự phát triển cơ thể trong suốt cuộc đời sau này của đứa trẻ.
Quan niệm giáo dục hiện đại và tiến bộ nhấn mạnh rằng, cùng với việc
chăm lo nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe cho trẻ, người lớn cần phải nhạy cảm
biết đón nhận và thỏa mãn nhu cầu phát triển của trẻ, chủ động tạo ra những
kích thích, làm nảy sinh nhu cầu phát triển mới, từng bước hoàn thiện và phát
triển nhân cách trẻ. Do vậy, việc chăm sóc giáo dục trẻ em ngay từ những
năm đầu tiên của cuộc sống, là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ
trở thành những con người tương lai của đất nước Việt Nam đang có những
bước chuyển mạnh mẽ trên con đường xây dựng một xã hội ấm no, văn minh
và hạnh phúc.
Để thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị cho thế hệ bước vào thế kỷ 21 – Thời
đại của nền văn minh trí tuệ, giáo dục Mầm non cũng đang có những bước
chuyển biến mới về chất lượng, đổi mới trong sự nghiệp chung của ngành
Giáo dục và Đào tạo, nhằm khắc phục những mặt tồn tại mà giáo dục Mầm
non chưa đáp ứng kịp theo sự đổi mới của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Do vậy, cần đảm bảo mọi trẻ em trong các loại hình giáo dục Mầm non
đều được hưởng chương trình chăm sóc giáo dục đổi mới cả nội dung và
phương pháp, cung cấp cho trẻ một nền móng phát triển về thể lực, trí tuệ,
tình cảm, đạo đức – xã hội, đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục trẻ ở các bậc
học tiếp theo.
Nhiều công trình khoa học trên thế giới và Việt Nam đã chứng minh lợi
ích của việc “can thiệp” vào lứa tuổi Mầm non là rất to lớn và lâu dài. Việc
chăm sóc sức khỏe cho trẻ một cách khoa học từ khi trẻ còn nhỏ, sẽ bảo đảm
Mỗi giai đoạn tuổi đều chứa đựng các vết tích của giai đoạn trước,
những cái hiện có của giai đoạn này là những mầm mống của giai đoạn sau.
Như vậy, mỗi lứa tuổi là một hệ thống cơ động độc đáo và chính sự phát triển
cơ động liên tục đó đặt ra trước khoa học giáo dục một nhiệm vụ vô cùng
quan trọng và hết sức tinh tế – xác định cái hiện có và dựa trên nền móng của
cái tương lai mà tổ chức việc dạy học và giáo dục.
Cơ thể trẻ em ở lứa tuổi Mầm non đang trên con đường phát triển, hoàn
thiện về mặt cấu tạo và chức năng hoạt động của các cơ quan và hệ cơ quan,
cơ thể chưa ổn định. Điều này thể hiện qua các thông số về hình thái chức
năng của cơ thể trẻ, cũng như mức độ hình thành và phát triển các kỹ năng
vận động và mức độ hình thành về tư duy. Do vậy, việc xác định đúng và nắm
vững đặc điểm phát triển của trẻ trong từng giai đoạn tuổi là vô cùng quan
trọng đối với người làm công tác giáo dục.
1.2.1. Một số đặc điểm giải phẫu, sinh lý của trẻ Mầm non [22].
Trước 7 tuổi, các hệ thống cơ quan cơ thể của trẻ em có đặc điểm là
phát triển rất mạnh. Trẻ em mang theo những đặc tính di truyền sinh học, kể
cả những đặc tính về loại hình thần kinh (sức mạnh, sự cân bằng và tính linh
hoạt). Những đặc điểm này là cơ sở để phát triển về thể chất và tinh thần
trong tương lai. Tuy nhiên ngoại cảnh và sự giáo dục là nhân tố quyết định
những tháng đầu tiên của cuộc đời. Vì vậy, một điều rất quan trọng là phải
tiến hành giáo dục như thế nào, để tạo nên trạng thái hứng khởi cho trẻ phát
triển được đầy đủ về tâm lý và thể lực.
1.2.1.1. Hệ thần kinh:
Đặc điểm của hệ thần kinh trung ương những năm đầu cuộc sống là sự
chưa hoàn thiện về kết cấu hình thái và sự phát triển chức năng của vỏ bán
cầu đại não. Sự hoàn thiện của quá trình này diễn ra vào những năm tiếp theo
13
14
biệt của các tế bào đại não, đòi hỏi chúng ta cần phải đối xử thận trọng với trẻ
– cần tránh không cho trẻ thực hiện một khối lượng vận động quá mức kéo
dài, vì sẽ làm cho trẻ trở nên mệt mỏi lâu, ảnh hưởng đến sức khỏe. Đặc biệt,
ở trẻ 6 tuổi, ức chế trong ổn định hơn, sức làm việc ở võ não được nâng cao,
trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối tượng nhất định trong thời gian 15-20
phút. Ức chế ngoài giảm bớt ý nghĩa đối với trẻ, tức là các kính thích bên
ngoài một cách đột ngột không có ảnh hưởng mạnh đến các phản xạ có điều
kiện đã thành lập được như ở năm trước, ức chế trong được tăng cường.
Những ức chế phân biệt và dập tắt được hình thành nhanh gấp hai lần so với
trẻ 4 tuổi, giúp trẻ hình thành chính xác hơn các động tác hành vi.
Ở lứa tuổi này, vốn kinh nghiệm sống của trẻ được tăng lên, trẻ bắt đầu
quan tâm sâu sắc hơn đến môi trường xung quanh, thường đặt ra những câu
hỏi và chăm chú nghe giải thích. Trẻ Mầm non rất dễ nhạy cảm, nhưng những
dấu vết của các ấn tượng đã tiếp thu chưa được củng cố ngay và những kỹ
năng lúc đầu chưa vững chắc, các quá trình hưng phấn chiếm ưu thế hơn so
với quá trình ức chế. Liên quan đến vấn đề đó là phải tạo ra sự cân bằng quá
trình hưng phấn và ức chế, độ linh hoạt của chúng, phát triển ức chế phân
biệt, cũng như hoàn thiện các cơ quan phân tích vận động, các cơ quan cảm
giác.
1.2.1.2. Hệ cơ và xương:
Sự phát triển bộ xương để làm điểm tựa cho vận động và bảo vệ các cơ
quan bên trong ở lứa tuổi này hoàn toàn chưa kết thúc. Bộ xương của trẻ còn
yếu, vì bên trong còn chứa nhiều tổ chức sụn, do vậy xương mềm, dễ uốn,
nhưng chưa đủ sự chắc chắn, dễ bị cong vẹo khi giữ tư thế sai lệch hoặc giữ
tư thế sai khi ngồi, đứng, nằm và tập các động tác thể dục sai.
15
Trẻ trước tuổi đi học, sự phát triển hệ cơ và xương diễn ra không đồng
đều, dưới 4 tuổi hệ xương phát triển nhanh, sau đó chậm lại. Ví dụ: Trẻ 4 tuổi,
sau 1 năm trọng lượng tăng trung bình khoảng 1,5 – 2kg, chiều cao tăng
khoảng 2-4 cm. Trong tuổi thứ 6 tăng thêm 3kg, chiều cao tăng thêm 6-8cm.
Tỷ lệ thân có sự thay đổi rõ rệt, sức bền cơ thể tăng lên. Tư thế nằm ngang
của xương sườn gây hạn chết hoạt động của lồng ngực đã dần dần được mất
đi ở tuổi 6-7 và gần giống hình dạng người lớn. Xương chậu gắn liền nhau bắt
đầu từ lúc lên 5-6 tuổi đồng thời quá trình cốt hóa xương diễn ra nhanh.
Trẻ trước tuổi đến trường, các nhóm cơ duỗi phát triển kém và tương
đối yếu. Vì vậy, trẻ thường giữ tư thế thân người không chính xác. Ví dụ: Đầu
cúi, vai xuôi, lưng gù, ngực hóp lại. Đến 4 tuổi khối lượng cơ tăng lên nhiều,
đặc biệt là tăng khối lượng các cơ chi dưới, làm cho sức mạnh tăng lên và khả
năng làm việc của trẻ cũng biến đổi. Các chỉ số sức mạnh phản ánh đặc điểm
lứa tuổi và cũng phản ánh tác động của việc tập luyện thể dục. Sức mạnh cơ
bàn tay tăng 3.5 – 4kg (3-4 tuổi), đến 13-15kg (trẻ 7 tuổi). Từ 4 tuổi đã có sự
khác biệt giữa trẻ em trai và trẻ gái. Sức mạnh cơ thân mình ở trẻ 7 tuổi tăng
gấp 2 lần so với lúc 3 - 4 tuổi, từ 15-17kg đến 32-34kg.
Trạng thái tĩnh của cơ gọi là trương lực cơ. Trương lực cơ duy trì được
nhờ những xung động dẫn truyền từ hệ thần kinh trung ương. Trạng thái
trương lực cơ ở lứa tuổi này có ý nghĩa lớn đối với việc hình thành tư thế
đúng. Đáng chú ý nhất là trương lực các cơ thân mình.
Càng lớn lên, trương lực các cơ thành bụng và lưng tăng lên, không
phải chỉ là nhờ cải thiện chức năng điều hòa hệ thần kinh trung ương, mà còn
là do sự luyện tập thể dục. Vì vậy, trương lực cơ được cải thiện, sự điều hòa
mang tính phản xạ sự căng và thả lỏng các nhóm cơ riêng biệt cũng được
17
cũng cần lưu ý và sự đạt được những kỹ năng đó phụ thuộc vào sự phát triển
cơ thể và quá trình luyện tập, quá trình này xuất hiện dần dần. Bởi vậy, ở lứa
tuổi đầu Mẫu giáo, có thể thấy đứa trẻ còn vụng về, dần dần theo thời gian,
đứa trẻ đã đạt được sự phối hợp khéo léo hơn và kiểm soát được việc thực
hành. Còn kỹ năng vận động tinh khéo thì phụ thuộc vào sự chín muồi của
não mà trẻ thực hiện nó khó khăn hơn vì thiếu sự kiểm soát cơ cần thiết cho
việc thực hiện kỹ năng này. Theo thời gian dần dần đứa trẻ phát triển thuần
thục trong nhiều kỹ năng vận động tinh khéo, nhờ đó đến cuối tuổi Mầm non
hoặc đầu lớp một, khi đi học, trẻ thực hiện dễ dàng hơn nhiều các nhiệm vụ
và kỹ năng vận động.
Từ 4 tuổi sự hình thành những thói quen vận động của trẻ được phát
triển nhanh. Đối với lứa tuổi này, thì những điều kiện cần thiết đã có, thể hiện
dễ thấy nhất là sự thay đổi tỷ lệ của thân thể, tạo ra tư thế vững chắc, cảm giác
thăng bằng được hoàn thiện, sự phối hợp vận động trên cơ cở phối hợp các
chức năng của hệ thần kinh được tốt hơn, vốn kinh nghiệm vận động nhiều
hơn, lực cơ bắp được tăng.
Quan sát trẻ đi bộ, thì thấy có sự phối hợp nhịp nhàng giữa tay và chân
vững vàng, bước đi nhịp điệu ổn định. Động tác nhảy được thực hiện hoàn
thiện với niềm tin lớn, khi nhảy biết đánh lăng tay và rơi xuống đất bằng hai
mũi bàn chân nhịp nhàng. Vận động bò và ném được thực hiện rõ nét nhất, có
sự chính xác của động tác, khả năng định hướng và ước lượng bằng mắt, cảm
giác vận động ngày càng phát triển.
Tất cả những điều kiện đó phụ thuộc vào chuyển biến xảy ra trong lĩnh
vực tâm lý trẻ. Trong điều kiện giảng dạy và giáo dục trẻ một cách thường
xuyên và có hệ thống thì những hình thức đơn giản của chương trình hoạt
động được hình thành: hiểu được nhiệm vụ học tập, khát khao được thực hiện
19
có xu hướng mất đi vẻ bụ bẫm sớm hơn trẻ gái, sự tiếp tục giảm lớp mỡ dưới
da không chỉ diễn ra trong thời kỳ ấu thơ mà còn tiếp tục ở lứa tuổi tiếp theo.
Ngược lại, ở trẻ gái quá trình cốt hóa diễn ra nhanh hơn nhiều hơn so với trẻ
trai, chức năng thần kinh trung ương của não chín muồi sớm hơn so với tuổi
của bé.
Do có sự khác nhau như vậy, nên trẻ trai trong suốt thời kỳ lứa tuổi
mẫu giáo có lợi thế hơn về chiều cao và sức mạnh. Vì vậy, trong một số kỹ
năng vận động như: ném, chạy, thăng bằng, bắt, bật xa… thường đạt kết quả
tốt hơn trẻ gái. Những kỹ năng vận động đòi hỏi sự khéo léo và giữ thăng
bằng hơn là sức mạnh trẻ gái thực hiện tốt hơn. Nhưng điều cốt yếu ở đây
chúng ta cần lưu ý là cho dù bất cứ lý do gì, thì trẻ trai hay trẻ gái đều sử dụng
thời gian nhiều hơn cho việc thực hiện thuần thục các kỹ năng vận động của
trẻ.
1.2.2. Một số đặc điểm tâm lý của trẻ Mầm non. [5].
Ở tuổi Mầm non, hoạt động vui chơi ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống
tâm lý trẻ, tạo ra sự biến đổi về chất trong cấu trúc tâm lý.
Trong giai đoạn này, một số phẩm chất tâm lý như tính tự lập, tính
đồng cảm, tính hợp tác, khả năng tôn trọng những quy định chung đã có điều
kiện phát triển. Nhu cầu giao tiếp của trẻ đối với con người, với trẻ cùng lứa
tuổi, với môi trường xung quanh, trở thành nhu cầu mạnh mẽ đối với trẻ. Trẻ
đã có nguyện vọng muốn được tự lực. Tính độc lập là phẩm chất quan trọng
của nhân cách cần được hình thành và phát triển ngay chính từ giai đoạn này.
Để phát triển tính độc lập, cần tạo điều kiện để trẻ hành động trong hoàn cảnh
quen thuộc, biết tự mình sử dụng những cách thức quen thuộc vào những tình
huống mới nhưng không lạ, các quy tắc mà trẻ nắm được có tính chất khái
quát, trở thành chuẩn mực qui định hành vi của nó trong bất cứ hoàn cảnh
21
khôn sớm hơn, biết nhiều hơn trẻ cùng tuổi trước kia khá nhiều, đặc biệt là trẻ
em ở vùng thành thị.
Tuy nhiên, cần nhớ rằng tuổi phát triển của trẻ cũng mang tính cá biệt
rõ nét, mỗi đứa trẻ có một hoàn cảnh riêng, một tốc độ, một con đường phát
triển riêng – đặc điểm tâm – sinh lý và thiên hướng khác nhau. Chính vì vậy,
để đáp ứng được chuẩn bị lớp người cho những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI,
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi những
người làm công tác giáo dục, nắm được một cách đầy đủ và chính xác về đặc
điểm phát triển của lứa tuổi này, phải ý thức được tầm quan trọng của giáo
dục Mầm non nói chung và giáo dục thể chất cho trẻ nói riêng trong chiến
lược phát triển nguồn lực con người, trước những hiểu biết mới của khoa học
về sinh học phát triển của trẻ em ngày nay mới có thể đào tạo những lớp
người có đầy đủ những phẩm chất, năng lực cần thiết, đáp ứng yêu cầu ngày
càng cao của xã hội.
1.3. Đặc điểm và phương pháp rèn luyện thể lực (phát triển các TCVĐ)
cho trẻ Mầm non.
1.3.1. Đặc điểm phát triển các tố chất vận động:
Sự phát triển các tố chất vận động có liên quan chặt chẽ với sự phát
triển của cơ thể nói chung và của từng cơ quan chức năng nói riêng. Bản thân
sự vận động cũng góp phần quan trọng vào việc phát triển cơ thể.
Ngay từ khi mới sinh ra, đứa trẻ đã bắt đầu lĩnh hội những cử động và
động tác mới. Quá trình hình thành và hoàn thiện động tác xảy ra theo cơ chế
phản xạ và chịu tác động qua lại của các cơ quan khác nhau, trong đó các giác
quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Kỹ năng, kỹ xảo vận động đứng và bò
giúp cho bộ máy vận động phát triển nhanh chóng hơn, tăng cường lực của cơ
bắp và khả năng phối hợp động tác của trẻ. Một trong những kỹ năng vận
23