Trờng Đại học Vinh
Khoa lịch sử
-------***---------
Bùi Thị Hải
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Tìm hiểu di tích lịch sử - văn hoá đại thi
hào Nguyễn du (nghi xuân - Hà Tĩnh)
Chuyên ngành : lịch sử văn hoá
Khoá 42 - Lớp E2
Giáo viên hớng dẫn : GVC. Ths. Hoàng Quốc Tuấn
Vinh - 2006
1
A. phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trong những thập niên 70 đến 90 của thế kỷ XX có thể nói sự thành
công trong phát triển kinh tế và ổn định xã hội của Nhật Bản cũng nh các con
rồng châu á (Xingapo, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc) đã thu hút đợc sự
quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả. Tốc độ tăng trởng kinh tế vợt bậc và liên
tục của các quốc gia này đã khiến ngời ta hết sức thán phục. Theo đó một loạt
câu hỏi đã đợc đặt ra: Tại sao lại có "Hiện tợng thần kì Nhật Bản"? Tại sao Đài
Loan, Hàn Quốc, Xingapo, Hồng Kông có thể nhanh chóng hoá rồng? Và đặc
nhiều phong tục tập quán đặc trng của dân tộc này chịu ảnh hởng sâu sắc của t
tuởng Phật giáo và vẫn đợc duy trì trên đất nớc Nhật Bản hôm nay. Sức sống lâu
bền cũng nh ảnh hởng sâu sắc của Phật giáo đối với một đất nớc nh vậy quả cũng
là một điều kì lạ. Chính vì lẽ đó, việc tìm hiểu vấn đề này vẫn có sức hút đối với
những ai muốn hiểu thêm về nền văn hoá Nhật Bản.
Phật giáo và Nho giáo là những học thuyết triết học, học thuyết chính
trị-xã hội có nội dung t tởng sâu sắc và triết lý cao siêu. Trong suốt chiều dài của
lịch sử, Phật giáo và Nho giáo đã đợc truyền bá rộng rãi và có ảnh hởng lớn đến
đời sống, văn hoá của nhiều quốc gia khu vực trên thế giới. Quá trình truyền bá
Phật giáo và Nho giáo cũng là một bộ phận của quá trình truyền bá và giao lu
văn hoá giữa các quốc gia, châu lục. Tìm hiểu quá trình du nhập, phát triển cũng
nh ảnh hởng của Phật giáo và Nho giáo tới đời sống xã hội của một nớc láng
giềng nh Nhật Bản sẽ giúp chúng ta có đợc cái nhìn sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về
vai trò của giao lu văn hoá trong tiến trình phát triển của nhân loại.
Phật giáo, Nho giáo và lịch sử Nhật Bản là một phần quan trọng trong
chơng trình học tập, nghiên cứu của sinh viên KHXH ở các trờng đại học cao
đẳng. Tìm hiểu về Phật giáo và Nho giáo trong lịch sử Nhật Bản sẽ giúp chúng ta
hiểu biết sâu sắc hơn về lịch sử và nền văn hoá giàu bản sắc của dân tộc này.
Đồng thời nó cũng là cơ sở để củng cố, phát triển mối quan hệ hữu nghị hợp tác
giữa hai dân tộc Việt Nam Nhật Bản và góp phần làm cho mối quan hệ đó
ngày càng trở nên bền vững hơn.
3
Xuất phát từ những ý nghĩa nói trên, cộng với việc tiếp thu và kế thừa
những thành tựu khoa học của các tác giả đã và đang nghiên cứu về Phật giáo,
Nho giáo và Nhật Bản, tôi mạnh dạn chọn đề tài "Xã hội Nhật Bản dới ảnh hởng
của Nho, Phật Trung Quốc thời phong kiến" làm khoá luận tốt nghiệp của mình
dới sự hớng dẫn của thầy giáo Hoàng Đăng Long.
2 . Lịch sử vấn đề và nguồn tài liệu.
dạng giới thiệu những ảnh hởng của văn hoá Trung Hoa đối với Nhật Bản, một
số phân tích về ảnh hởng của Nho giáo đối với xã hội Nhật Bản thời Tokugawa.
Cuốn Nho giáo và phát triển ở Việt Nam của GS.Vũ Khiêu trong chơng I có đề cập tới Nho giáo ở Nhật Bản một cách khái quát, trong đó tác giả chỉ
ra sự khác biệt giữa Nho giáo ở Trung Quốc và Nho giáo ở Nhật Bản, sau đó tập
trung phân tích ảnh hởng của Nho giáo đến sự phát triển kinh tế của Nhật Bản
chủ yếu trong thời hiện đại.
Ngoài ra, còn khá nhiều bài viết trên các tạp chí của các tác giả khác
cũng đã đề cập đến mặt này hay mặt khác của vấn đề.
Hai tác giả: Đỗ Công Định và Thích Minh Đăng với bài viết Đạo phật ở
Nhật Bản trên tạp chí Nghiên cứu Phật học số 4 2001 đã đề cập một cách
khá sinh động về quá trình truyền bá, phát triển đạo Phật của Nhật Bản.
Nguyễn Thị Thuý Anh với bài "Tác động của tôn giáo đến đời sống
chính trị Nhật Bản trong thập niên 90 của thế kỷ XX" trong tạp chí "Nghiên cứu
Nhật Bản và Đông Bắc á" số 3 2001 đã cho chúng ta một cái nhìn khái quát
về ảnh hởng của Phật giáo đối với chính trị Nhật Bản.
Hoàng Thị Thơ trong tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 1- 2001 với bài
Vài nét đặc trng của Phật giáo Thiền tông Nhật Bản đã giới thiệu những nét
đại cơng nhất về các tông phái Thiền ở Nhật Bản.
Phạm Đức Thành với bài Vai trò của Khổng giáo trong phát triển ở
đông á trong tạp chí Nghiên cứu Đông nam á số 4 2000 có đề cập dến
vai trò của nho giáo trong sự phát triển của đông á. Tác giả đã phân tích một số
ảnh hởng tích cực của t tởng nho giáo đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của
khu vực này, nhng chủ yếu trong xã hội hiện đại.
Cung Hữu Khánh với bài ảnh hởng của khổng giáo ở Nhật Bản giai
đoạn trớc thế kỉ XVIII trong tạp chí nghiên cứu Nhật Bản số 1- 1997 cũng đã
5
chỉ ra những tác động của đạo khổng đối với xã hội Nhật Bản trên một số lĩnh
vực nh thiết chế chính trị, giáo dục...
B. Nội dung
Chơng I
quá trình du nhập, phát triển của phật giáo và nho
giáo ở nhật bản thời phong kiến
1. Vài nét khái quát về đất nớc và con ngời Nhật Bản.
1.1. Đất nớc Nhật Bản.
Nhật Bản là một quốc gia ở Đông Bắc Thái Bình Dơng thuộc miền cực
đông của lục địa châu á. Quần đảo Nhật Bản đợc tạo nên từ những vụ núi lửa
cách đây hàng triệu năm kéo dài từ vĩ tuyến 30 độ đến 45 độ bắc, theo hình cánh
cung ôm lấy lục địa châu á, Nhật Bản bao gồm 4 đảo lớn : Hokkaido, Honshu,
Kyushu, sikoku và khoảng gần 4000 đảo nhỏ rải ra trên 3800 km. Theo nh kết
quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho biết, trớc kia Nhật Bản vốn nối liền với
lục địa châu á chứ không bị ngăn cách bởi biển nh ngày nay. Nhật Bản có thể
liên lạc với châu á lục địa qua 3 con đờng: Con đờng phía Bắc từ Đông xibia
đến hokkaido qua xakhalin; Con đờng phía Đông từ bán đảo Triêù Tiên đến
honshu và con đờng phía Nam từ đất Trung Hoa đến đảo kyushu qua Đài Loan
và đảo ryukyu. Từ rất lâu những con đờng này đã trở thành cầu nối giao lu văn
hoá giữa Nhật Bản với thế giới bên ngoài. Do bản thân là một quần đảo nên Nhật
Bản hầu nh bị tách biệt với thế giới bên ngoài đặc biệt là với đại lục (nhất là ở
những buổi đầu của lịch sử). Ngời ta thờng ví Nhật Bản nh là nớc Anh của châu
Âu. Tuy nhiên, trờng hợp của Nhật Bản khác so với nớc Anh. Trong khi Anh
cách lục địa châu Âu chỉ có 31 km thì mỏm cực Tây của Nhật cách Triều Tiên
117 km và phải vợt 800 km đờng biển mới tới bờ biển Trung Quốc. Trong điều
kiện kĩ thuật đóng thuyền còn hạn chế, cộng thêm vào đó là bão tố thờng xuyên
xuất hiện thì khoảng cách xa nh vậy của Nhật Bản với lục địa quả là một trở ngại
rất lớn cho việc giao lu giữa Nhật Bản với lục địa, đặc biệt là Trung Quốc- một
7
8
Nếu nh thiên nhiên đã u ái khi ban tặng cho Nhật Bản một khí hậu ôn
hoà thì ngợc lại về tài nguyên, nó lại tỏ ra quá khắt khe với quốc gia này khi mà
hầu nh ở Nhật Bản không có nguồn tài nguyên, khoáng sản nào đáng giá. Có thể
nói, Nhật Bản là một quốc gia rất nghèo về tài nguyên. Điểm hạn chế đó đã ảnh
hởng khá lớn đến sự phát triển của Nhật Bản sau này, nhng phải chăng đây cũng
là một nhân tố để hình thành nên tính cách tiết kiệm của ngời Nhật? Mặt khác,
đất đai của Nhật Bản chủ yếu là đồi núi cằn cỗi không thích hợp cho sự phát
triển của nông nghiệp. ở đây diện tích đất canh tác chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ
(khoảng 15%). Hơn nữa, việc không có đợc vùng châu thổ rộng lớn nh Ai Cập,
Trung Quốc, ấn Độ cũng là một hạn chế rất lớn cho Nhật Bản trong việc phát
triển kinh tế, nhất là trong điều kiện sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo.
Mặc dù vậy, việc phát triển kinh tế nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng
trong đời sống của c dân Nhật Bản cho đến đầu thế kỷ XIX. Đất đai cằn cỗi, diện
tích canh tác ít, do vậy để đáp ứng nh cầu lơng thực, thực phẩm cho mình, thì
không còn cách nào khác là ngời dân Nhật phải lấy sự cần cù, tiết kiệm để bù
đắp vào những chỗ thiếu hụt đó. Và phải chăng đây là một yếu tố góp phần định
hình nên tính cần cù trong lao động của ngời dân Nhật Bản?
Cũng do nằm trong khu vực cha ổn định của cấu trúc địa chất mà Nhật
Bản phải thờng xuyên hứng chịu những trận núi lửa, những cơn bão biển ghê
gớm. Có thể nói, Nhật là một quốc gia có nhiều động đất trên thế giới. Việc phải
thờng xuyên sống chung với động đất, núi lửa, bão biển đã có ảnh hởng không
nhỏ đến tính cách của con ngời Nhật Bản. Trong một bức tranh toàn cảnh, ngời
ta có cảm nhận dờng nh ở Nhật có sự đan xen, kết hợp của những điều tởng nh
không thể, những điểm trái ngợc nhau, nhng lại thống nhất trong một chủ thể tạo
nên một Nhật Bản rất riêng, rất độc đáo. Đó là đất nớc của những cảnh quan
thiên nhiên hùng vĩ và dữ dội, ngoạn mục nhng đầy biến động, đẹp nhng cũng
[12,23] .
Nh vậy, có thể nhận định rằng : Dân tộc Nhật Bản là một tạp chủng đã
hình thành trong thời kỳ tiền sử bởi nhiều thành phần, từ nhiều địa phơng ở châu
á du nhập vào ở những thời điểm khác nhau. Trải qua quá trình sinh sống lâu dài
đã có sự hoà đồng giữa các cộng đồng dân c đến sau với những thổ dân đến trớc
10
hình thành nên dân tộc Nhật Bản. Ngày nay, trên các quần đảo Nhật Bản, 123
triệu dân Nhật là một dân tộc thống nhất với những truyền thống văn hoá, phong
tục tập quán, tôn giáo, tâm lý xã hội riêng biệt và độc đáo [12,23].
Nói chung văn hoá của một bất cứ dân tộc nào cũng có nét riêng biệt
độc đáo, nhng đối với trờng hợp Nhật Bản, những nét đặc trng trong văn hoá của
họ mang sắc thái khá rõ ràng và đồng nhất. Có thể kiểm định điều đó qua lịch sử
hay quan sát trong những sinh hoạt hiện tại [25,19]. Xuất phát từ nhiều góc độ
tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu có thể nhấn mạnh mặt này hay mặt kia,
đặc điểm này hay đặc điểm khác, nhng nhìn chung là khá thống nhất, mặc dù để
đi đến giải quyết đợc vấn đề bản sắc của văn hoá Nhật Bản là gì thì đòi hỏi phải
có những công trình nghiên cứu công phu của nhiều chuyên gia. Song tựu trung
lại có thể thấy một số đặc trng nổi bật sau đây:
Thứ nhất: Đó là tính hiếu kì và nhạy cảm đối với văn hoá nớc ngoài. Về
điều này, giáo s Vĩnh Sính đã đa ra những nhận xét hết sức sắc sảo "Có thể nói
rằng không có một dân tộc nào nhạy bén về văn hoá nớc ngoài cho bằng ngời
Nhật. Họ không ngừng theo dõi những diễn tiến trên thế giới bên ngoài, đánh giá
và cân nhắc ảnh hởng của những trào lu và xu hớng chính đối với Nhật Bản. Một
điều đáng chú ý khác là khi họ biết trào lu nào đang thắng thế thì họ có khuynh
hớng chấp nhận, học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lu đó, không để mất thời cơ"
[25,20].
Trong lịch sử Nhật Bản có hai thời điểm hết sức quan trọng phản ánh nét
đặc trng này. Vào thế kỷ VII VIII và nửa sau thế kỷ XIX, khi nhận thấy
Thứ ba: Ngời Nhật có tính cộng đồng rất cao. Cộng đồng, tập thể đóng
một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của ngời Nhật. Một trong những
việc cấm kỵ nhất đối với họ là làm mất danh dự của tập thể, của cộng đồng.
Trong mọi hoạt động, ngời Nhật thờng gạt "cái tôi" lại để đề cao cái chung, tìm
sự hoà hợp giữa mình và những thành viên khác trong một tập thể, trong cộng
đồng. Giải thích về tính cộng đồng cao của ngời Nhật, có ngời cho rằng đó là do
những điều kiện thiên nhiên dữ dội của Nhật làm cho ngời Nhật phải đề cao cộng
đồng tập thể, có ngời lại cho "đó là hệ quả của sự kết hợp giữa t tởng Khổng giáo
với Thần đạo" [12,25]. Còn Ruth Benedict nhà dân tộc học ngời Mỹ thì cho
rằng: "Đạo đức phơng Tây dựa vào ý thức cá nhân nhận thấy mình có tội với
12
chúa, do đó xng tội hay thú tội là nhẹ ngời, còn đạo đức Nhật Bản và một số nền
văn hoá khác lấy động cơ hổ thẹn, sợ xã hội chê bai là chính chứ không phải tự lơng tâm cắn rứt, do đó các nhân gắn chặt với chuẩn mực xã hội" [15,109].
Thứ t : Ngời Nhật có thói quen sống thanh bạch, giản dị, gần gũi với thiên
nhiên. Có thể nói không ngoa rằng họ đã học đợc nghệ thuật sống thanh bạch,
giản dị và điều này đợc thể hiện trong các món ăn hàng ngày, trong lối kiến trúc
nhà cửa Tất cả đều là những vật liệu hết sức quen thuộc nh gỗ, tre, rau, cá
Ngời Nhật cũng rất gắn bó với thiên nhiên. Tình cảm gắn bó với thiên nhiên của
họ có sắc thái tín ngỡng và tôn giáo trong tiềm thức dân gian. Ngời Nhật cho cây
cối, loài vật đều có quỷ thần nên phải tôn thờ. Đến nay, dân Nhật còn giữ
những lễ hội gắn với thiên nhiên, xuất phát từ sinh hoạt nông nghiệp theo mùa
(lễ hội cấy lúa vào tháng 4, lễ hội cơm mới vào tháng 10). Ng ời Nhật cũng có
tục lệ ngắm hoa Anh đào, hoa Mẫu đơn, hoa sen, hoa cúc, hoa Asagaô Núi
non đối với ngời Nhật cũng gần gũi chứ không đáng sợ. Họ quan niệm rằng đó là
những nơi thanh bình, yên tĩnh, trong lành, nên thơ. Chính vì vậy, ở Nhật Bản từ
"San" nghĩa là núi thờng gắn với tên các tu viện hoặc các ngôi đền thiêng liêng.
Thứ năm: Ngời Nhật có óc thẩm mỹ rất cao. ấn tợng ban đầu của du
khách khi đến thăm Nhật Bản đó là sự ngạc nhiên và thán phục về óc thẩm mỹ
đã góp phần xây dựng một nớc Nhật hùng cờng. Trải qua bao thăng trầm của lịch
sử, bản sắc dân tộc Nhật Bản vẫn giữ gìn và phát huy cho đến tận hôm nay. Bên
cạnh nền văn minh hiện đại, ngời Nhật vẫn luôn tôn trọng những giá trị độc đáo
của nền văn hoá cổ truyền. Phải chăng bản sắc dân tộc trong đời sống xã hội nói
chung, trong nền văn hoá truyền thống nói riêng đã góp phần tạo nên sức mạnh
cho nớc Nhật nhanh chóng bớc lên con đờng giàu mạnh, văn minh?
2. Qúa trình du nhập, phát triển của Phật giáo và Nho giáo vào Nhật
Bản thời phong kiến.
2.1. Tình hình Nhật Bản trớc khi Phật giáo và Nho giáo du nhập.
Theo truyền thuyết, nớc Nhật Bản đợc thành lập từ năm 660 TCN khi
Thiên hoàng Jimmu (Thần Vũ) thuộc dòng dõi của thần mặt trời Amaterasu lên
14
ngôi. Jimmu là ngời đầu tiên dựng lên nớc Nhật Bản và là vị Thiên hoàng thứ
nhất của đất nớc này. Các biên niên sử đã ghi lại sự việc Jimmu trở thành Thiên
hoàng nh sau: "Trong nhiều năm nhà vua này đã đánh thắng và bình định đợc
các bộ lạc mà ông ta gặp trên đờng tiến của mình và đã trở thành chủ nhân của
Yamato. ở vùng này, ông xây dựng một cung điện ở đó ông ăn mừng cuộc
chinh phục của mình bằng những cuộc tế lễ Nữ thần Mặt Trời vào ngày 11 tháng
2 năm 660 TCN" [22,37]. Nhng tất nhiên đó là một ngày hoàn toàn dựa vào
truyền thuyết và hiện nay đã hoàn toàn bị các nhà sử học bác bỏ. Những thành tụ
của khoa học liên nghành cho phép ta dựng lại tiến trình phát triển của lịch sử
Nhật Bản từ buổi đầu, dù rằng còn khá sơ sài.
Cách đây khoảng 400.000-500.000 năm, trên dất nớc Nhật Bản đã có con
ngời sinh sống. Điều chắc chắn là dấu vết của thời đại đồ đá đã đợc các nhà nhà
khảo cổ học phát hiện có niên đại từ 30.000-10.000 năm trớc đây. Nền văn hoá
đồ đá giữa và nền văn hoá đồ đá mới bắt đầu từ khoảng 8.000 -7.500 TCN đã đợc tìm thấy ở nhiều nơi trên đất nớc Nhật Bản. Những di chỉ khảo cổ tìm thấy
trong nền văn hoá Jômôn (thế kỷ V-I TCN) cho thấy hoạt động kinh tế chủ yếu
của thời kỳ này là săn bắn, đánh cá và hái lợm. Con ngời cũng đã biết dựng lều
lại hoặc phụ thuộc vào nhau. Đến đầu thế kỷ III đã xuất hiện những nớc tơng đối
lớn với hàng nghìn, hàng vạn hộ, trong đó lớn mạnh nhất là nớc Yamatai do nữ
vơng Himico thống trị. Tuy nhiên, về sau này nó đã bị một tiểu quốc khác hùng
mạnh hơn là Yamato chinh phục.
Khoảng cuối thế kỷ IV, ở miền Tây Nam đảo Honshu đã xuất hiện vơng
quốc Yamato (Đại Hoà). Nhà nớc Yamato hình thành là kết quả của quá trình
chinh phục, chiếm đoạt đất đai của nhiều tiểu quốc và cử sứ thần sang Trung
Quốc cầu phong. Đến thế kỷ V, Yamato đã thống nhất đợc cả Nhật Bản. Tuy
nhiên, về thực chất Yamato mới chỉ là một nớc sơ khai, một liên minh các thị tộc
với sự tập trung u thế kinh tế, chính trị, tôn giáo vào thị tộc Thiên hoàng, do đó
mối quan hệ giữa các thị thị tộc còn hết sức lỏng lẻo.
Về mặt xã hội: Yamato chia c dân ra thành các tầng lớp khác nhau: đại
nhân, hạ hộ, bộ dân và nô lệ, trong đó bộ dân là tầng lớp khá đông đảo trong xã
hội Yamato. Tầng lớp này xuất hiện vào khoảng thế kỷ III, khi sự phân hoá xã
16
hội và chế độ t hữu tài sản bắt đầu phát triển. Một bộ phận hết sức quan trọng
của bộ dân là những ngời Trung Quốc và Triều Tiên do chiến tranh loạn lạc hay
vì cuộc sống đã di c đến Nhật Bản. Những ngời này đã trải qua nền văn hoá có
trình độ cao hơn rất nhiều so với nền văn hoá Nhật Bản khi đó nên họ đóng một
vai trò rất lớn trong việc truyền bá văn hoá và kỹ thuật tiến tiến vào Nhật Bản.
Trong thời gian tồn tại của Yamato có một sự kiện vô cùng quan trọng đã
xảy ra. Vào năm 391, Yamato đã đa quân xâm lợc Triều Tiên và chiếm đóng
mỏm đất phía Nam có tên gọi là Mimana (hay Nhiệm Na). Việc Nhật Bản chiếm
đóng Mimana của Triều tiên trong một khoảng thời gian dài có ý nghĩa rất lớn
đối với quan hệ giao lu văn hoá giữa Nhật Bản và các nớc bên ngoài, nhất là với
Triều Tiên và Trung Quốc. Văn hoá, kỹ thuật của Triều Tiên đợc du nhập ngày
càng mạnh mẽ vào Nhật Bản. Thông qua Triều Tiên, Nhật Bản cũng mở rộng
giao lu, tiếp xúc với Trung Quốc. Triều đình Yamato ngoài việc cử các phái bộ
nên cấp thiết và là sự lự chọn của giới cầm quyền ở đây.
Về mặt tín ngỡng: Trớc khi Phật giáo và Nho giáo du nhập vào Nhật Bản,
ngời Nhật cũng có tín ngỡng bản địa của mình. Tín ngỡng này lúc đầu cha có tên
gọi, chỉ sau khi Phật giáo du nhập thì tên gọi Shinto (Thần đạo) mới xuất hiện để
phân biệt nó với tôn giáo ngoại lai. Nói đến Shinto là nói đến thế giới thần thánh,
đó là thế giới thần quyền có tác động đến số phận của con ngời trong một xã hội
nông nghiệp. Thế giới đó ngăn cách hoá bằng các thần núi, thần sông, thần lửa,
thần nớc, thần ma, thần gió
Đối với ngời dân Nhật Bản, thế giới thần thánh là biểu hiện tình cảm cao
quý của họ. Về mặt nào đó mà nói, tình cảm giống nh tín ngỡng đa thần của ngời
La Mã và Hy Lạp cổ đại. Đó cha phải là tôn giáo với những giáo lý có nguồn gốc
nh lịch sử đạo Phật, đạo Kitô hay đạo Hồi, nó không có ngời sáng lập, không có
kinh thánh, không có thầy tu, không có kẻ tử vì đạo, không có các vị thánh thần
có tên tuổi cụ thể.
Có thể coi đây là một hình thái tín ngỡng tự nhiên, xuất phát từ nhận thức
cho rằng tất cả mọi vật đều có linh hồn, đều có đời sống tình cảm. Những biểu
hiện của tự nhiên lớn hay nhỏ đều có sự hiện diện của thánh thần (Kami). Do
18
vậy, trong Nihongi (Nhật Bản th kỷ) đã viết: "ở mảnh đất trung tâm của đồng
bằng lau sậy này có vô số Kami, chúng toả sáng rực rỡ nh đom đóm, còn Kami
ác thì kêu vo vo nh ruồi. ở đó có cả loài cây và các loài cỏ, tất cả đều có thể nói
đợc" [8,207].
Từ những ý nghĩa trên ta thấy tín ngỡng Thần đạo ở Nhật Bản cũng có
nhiều điểm giống các dân tộc khác ở giai đoạn sơ khai. Tuy nhiên, cũng cần phải
thấy rằng, Thần đạo vẫn có những đặc trng hết sức riêng biệt và do đó, nó là một
tôn giáo riêng của Nhật Bản trong thời cổ đại. Đặc trng riêng ấy chính là sự quan
tâm đặc biệt đến sự trong sạch của nghi lễ. Những cái xúc phạm đến Thần thì
đã có đợc tín ngỡng bản địa của mình, đó là Thần đạo. Dù cha có hệ thống, nhng
Thần đạo đã ăn sâu bám rễ trong đời sống của c dân Nhật Bản cổ đại. Sự xâm
nhập và tác động của các yếu tố văn hoá đến từ Triều Tiên và Trung Quốc là
nhân tố hết sức quan trọng thúc đẩy xã hội Yamato phát triển. Sự chuyển biến
bên ngoài đã đặt ra cho Yamato một yêu cầu cấp bách là phải thiết lập bộ máy
nhà nớc tập trung thống nhất, xoá bỏ những tàn d lạc hậu của nhà nớc liên hiệp,
của các dòng họ trớc đây. Tấm gơng Trung Quốc (nhà Tuỳ) cùng với sự phát
triển rực rỡ của nền văn hoá ấy đã làm cho Yamato hết sức ngỡng mộ và Trung
Quốc trở thành khuôn mẫu để nó noi theo. Việc học tập theo mô hình Trung
Quốc đã thúc đẩy Yamato phát triển vợt bậc và đa lịch sử Nhật Bản sang một
trang mới.
2.2. Quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo và Nho giáo vào
Nhật Bản thời phong kiến.
Vào thế kỷ VI, nhu cầu học hỏi văn hoá Trung Quốc đã trở thành vấn đề
cấp thiết với quốc gia Yamato. Tuy nhiên, việc học hỏi nền văn hoá Trung Quốc
lại đợc thực hiện trớc tiên thông qua việc tiếp nhận Phật giáo. Điều này có
nguyên nhân của nó.
Vào thế kỷ V trên bán đảo Triều Tiên có 3 nớc: Paikche (Bách tế), Silla và
Koguryo. Thời bấy giờ Nhật Bản có quan hệ thân thiện với Paikche và thù địch
với Silla. Chính sách của Nhật Bản là bành trớng ảnh hởng sang bán đảo Triều
Tiên. Bằng cách ủng hộ một trong 3 nớc kia đánh nhau. Thời kỳ đó, Paikche
20
chẳng những bị Silla đe doạ mà còn phải đơng đầu với một lực lợng mạnh hơn ở
phía bắc đó là Koguryo. Vua Paikche đã nhiều lần cầu cứu sự giúp đỡ của
Yamato. Lịch sử đã từng ghi nhận vào các năm 517, 527 quân đội của Yamato
đã đợc cử sang Paikche chống lại Silla nhng không thành công. Năm 554, Silla
đánh bại quân Paikche và đến năm 562 thì ngay cả mỏm đất Mimana ở phía nam
Triều Tiên của Yamato cũng bị rơi vào tay Silla. Mặc dù vậy, vua Paikche vẫn
cùng với thầy cúng, s, thợ mộc làm chùa, thợ vẽ, ngời đúc đồng, nặn tợng. Nhiều
con gái của các nhà quý tộc đã đi tu và một số ngời gốc Trung Quốc đã xuất gia
tu hành. Umako (ngời đứng đầu dòng họ Sôga đang thống trị toàn nớc Nhật lúc
đó) đã cử các Nico sang Triều Tiên để học và xúc tiến việc phổ biến tôn giáo
mới [22,78].
Nh vậy là đến cuối thế kỷ VI, Phật giáo đã chính thức đứng chân ở Nhật
Bản. Năm 538 đã trở thành một mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của Phật
giáo ở Nhật Bản. Mặc dù từ khi giới thiệu đến khi có đợc địa vị chính thức ở
Nhật Bản, tôn giáo này cũng phải trải qua không ít cản trở từ các thế lực bảo thủ.
Bằng con mắt tinh tờng và nhạy bén về chính trị, tầng lớp lãnh đạo Nhật Bản đã
tiếp thu Phật giáo và biến nó trở thành một "phơng tiện quan trọng nhất trong
việc truyền tải văn minh Trung Hoa vào Nhật Bản. Và ngời Nhật, qua niềm tin
tôn giáo cũng đã lĩnh hội những yếu tố văn hóa từ lục địa một cách hứng khởi,
sâu sắc hơn" [7,42].
Từ khi du nhập (thế kỷ VI) đến thế kỷ XIX , Phật giáo đã trải qua những
giai đoạn phát triển khác nhau. Lịch sử Phật giáo Nhật Bản có thể chia làm 3 thời
kỳ:
Thời kỳ truyền bá đạo Phật (Từ thế kỷ VI đến thế kỷ VIII), Thời kỳ "Nhật
Bản hoá" đạo Phật (Từ thế kỷ IX đến thế kỷ XIV), Thời kỳ suy thoái của đạo
Phật ở Nhật Bản (Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX).
+ Thời kỳ truyền bá đạo phật (Từ thế kỷ VI thế kỷ VIII).
Thời kỳ này nổi bật lên vai trò của Thái tử Shotoku (572 - 622). Ông đợc
xem là ngời thực sự hiểu biết các t tởng của đạo Phật và tin tởng vào nó cũng nh
bản thân Đức Thích Ca. Đặc biệt, ông còn đợc đánh giá là ngời sáng lập ra Phật
22
giáo ở Nhật Bản một cách chính thức, thậm chí ông còn đợc xem là hoá thân của
Đức Phật.
Là ngời có học vấn uyên thâm, ngay từ năm 21 tuổi Thái tử đã đợc tể tớng
về và các học giả Nhật Bản đi truyền giáo khắp nơi. Triều đình đã giành nhiều u
ái cho hoạt động của chùa chiền, kể cả việc trở cấp những khoản tiền lớn. Đạo
Phật đã thực sự trở thành quốc giáo.
Sau khi Thái tử Shotoku qua đời (năm 621), ở Nhật hàng loạt biến cố
chính trị đã xảy ra do sự lộng quyền của dòng họ Soga. Nhu cầu phát triển của
Nhật Bản đòi hỏi phải gạt bỏ dòng họ Soga và do đó đã dẫn đến cuộc chính biến
của Hoàng tử Nacanoe dới sự ủng hộ của dòng họ Nakatomi (sau đổi thành
Fujiwara) vào năm 645. Ngày sau đó Hoàng tử Nacanoe đã đa Thiên hoàng
Côtoc lên ngôi, đặt niên hiệu là Taika, còn mình thì giữ vai trò nhiếp chính. Một
năm sau khi lên ngôi (646) Thiên hoàng Côtoc đã ban chiếu cải cách, mà lịch sử
Nhật Bản gọi đó là cải cách Taika một cuộc cải cách do tầng lớp quí tộc thực
hiện dựa vào các luận thuyết chính trị của Shotoku. Dòng họ Soga bị lật đổ, và
giờ đây quyền lực nằm trong tay dòng họ mới Fujiwara. Một hệ thống chính
quyền theo mô hình nhà Đờng đợc hình thành với chế độ định đô.
Sang thời kỳ Nara (710 794), do đợc triều đình xem là một quyền lực
thiêng liêng bảo vệ xứ sở nên Phật giáo trở thành một thế lực quan trọng. Mọi
hành động phá hoại tợng Phật đều bị coi là trọng tội và ở một mức độ nào đó còn
bị coi là hành động chống lại chính quyền. Sở dĩ có quan niệm đó là vì các Thiên
hoàng Nhật Bản không chỉ là lãnh tụ về chính trị mà còn là lãnh tụ về tôn giáo.
Nơi ở của Thiên hoàng cũng chính là nơi ở của thần linh. Nhiều chùa chiền, tự
viện đợc xây dựng khắp nơi.
Tuy nhiên, sự phát triển của Phật giáo không buộc phải loại trừ yếu tố
truyền thống Shinto bản địa, mà thay vào đó là xu hớng Thần- Phật hỗn hợp.
Trên thực tế, đây là một trong những cách thức chủ yếu để Phật giáo đợc "Nhật
Bản hoá". Đức Phật đợc xem là một Kami thợng đẳng. Các Kami lại đợc coi nh
thần hộ Pháp với quyền lực tối cao. Nhiều Kami đợc đa vào Phật điện, nhiều bậc
tôn giả đợc đa vào thần điện Shinto [28,34].
24
25