Trờng Đại học Vinh
Khoa Lịch Sử
--------=======--------
Hoàng Quốc Bảo
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Tìm hiểu một số di tích văn hoá
lịch sử ở huyện Nghi Xuân - Hà tĩnh
Chuyên ngành: Lịch Sử văn hoá
Giáo viên hớng dẫn: GVC.Ths Hoàng Quốc Tuấn
1
Vinh - 2006
Mục Lục
A - Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
2. Lịch sử vấn đề ..
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4. Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
5. Bố cục đề tài .
B - Nội dung ..
Chơng I: Nghi Xuân một vùng đất văn hoá .
1.1. Đất và ngời Nghi Xuân ...
1.1.1. Đất Nghi Xuân
3.2. Giá trị văn hóa
3.2.1. Giá trị kiến trúc và điêu khắc .
3.2.2. Giá trị tâm linh
C - Kết luận ..
Tài liệu tham khảo .
2
A - Mở đầu.
1. Lý do chọn đề tài:
Trên con đờng xây dựng và phát triển đối với nớc ta công tác
nghiên cứu bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá truyền thống đ ợc chú
trọng và đạt đợc nhiều kết quả khả quan. Nhận rõ tầm quan trọng đó việc
bảo tồn và phát huy các giá trị kho tàng di sản đang là một trong những
vấn đề nổi cộm và cần thiết.
Đặt trong bối cảnh của toàn dân tộc để có đợc những thành tựu nh
ngày hôm nay, ta không thể không nói đến sự đóng góp của mỗi địa ph ơng. Nghĩ đến quê hơng chúng ta không chỉ nghĩ đến cây đa, bến nớc,
sân đình mà tiềm ẩn trong đó là những sức mạnh vô hình, những giá trị
tinh thần to lớn. Đợc sinh ra và lớn lên trên mảnh đất đại thi hào Nguyễn
Du, tôi mang trong mình niềm tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê hơng, đó cũng là hành trang cho tôi bớc vào đời.
Ngày nay trên con đờng phát triển của tri thức nhân loại con ng ời
đang dần dần chinh phục những đỉnh cao mới, sáng tạo ra biết bao phát
minh về khoa học kỹ thuật. Nhng chúng ta vẫn không quên đợc quá khứ
bởi bên cạnh những bớc tiến của tri thức là mặt trái của xã hội. Cuộc
sống còn nhiều xô bồ, dễ làm ngời ta đánh mất bản sắc văn hoá và quên
đi cội nguồn của mình. Hiện nay, thế hệ trẻ có hiểu biết rất hạn chế về
lịch sử quê hơng. Chính vì vậy cần khơi dậy trong các em niềm tự hào về
mảnh đất nơi mình đã chôn rau cắt rốn và cung cấp cho các em những
hiểu biết về những chặng đờng đã qua của lịch sử quê hơng mình.
Các tác phẩm cụ thể hơn về việc bảo tồn và phát huy các giá trị kho
tàng di sản ở Hà Tĩnh - Nghi Xuân gồm có:
Di tích danh thắng Hà Tĩnh - Trần Tấn Thành chủ biên - Sở văn
hoá thông tin Hà Tĩnh, 1997.
Danh nhân Hà Tĩnh (tập I) Sở văn hoá thông tin Hà Tĩnh - 1996.
T liệu về Nguyễn Công Trứ - Sở văn hoá thông tin Hà Tĩnh năm 2001.
Nghi Xuân di tích và danh thắng - Nhiều tác giả, xuất bản năm 2005.
Ngời Nghi Xuân. Tập I - Nhà xuất bản văn hoá thông tin 2002.
4
Nghi Xuân địa chí - Đông hồ Lê Văn Diễn.
Trên cơ sở kế thừa các nguồn tài liệu nh sách, báo, các tạp chí
nghiên cứu lịch sử văn hoá, các khoá luận trớc đó cùng với quá trình tổng
hợp của bản thân tôi muốn góp phần xây dựng bức tranh một số di tích
văn hoá lịch sử ở huyện Nghi Xuân.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
Trong phạm vi của đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến việc tìm
hiểu một số di tích - văn hoá lịch sử ở huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh.
Trớc hết chúng tôi đi vào tìm hiểu điều kiện địa lí tự nhiên, con ng ời và di tích danh thắng của Nghi Xuân. Đó là cơ sở hình thành bản sắc
văn hoá của các vùng này. Điều đó cũng có phần cắt nghĩa sự bảo tồn và
phát huy các giá trị kho tàng di sản của Nghi Xuân trong các chặng đ ờng
phát triển.
Phần trọng tâm của đề tài đi sâu vào nghiên cứu một số di tích văn
hoá lịch sử ở Nghi Xuân. Nhng để có một cách nhìn tổng quát, khách
quan cần đặt nó trong mối quan hệ di tích và danh thắng Nghi Xuân
trong các thời kỳ. Qua đó để chúng ta thấy đợc sự kế thừa và phát huy
những giá trị văn hoá truyền thống của quê hơng. Tất cả những điều trên
nhằm nêu lên đặc điểm, ý nghĩa và sự đóng góp của bản sắc văn hoá
Nghi Xuân trong vờn hoa văn hoá dân tộc.
nằm gọn trên toạ độ từ 28 0 31 đến 18 0 45 vĩ độ Bắc và từ 105 0 41 đến
105 0 51 kinh độ Đông. Diện tích tự nhiên là 21 776km 2 dân số 99875
ngời. Mật độ dân số 459 ngời/km 3 chiếm 3,59% diện tích đất tự nhiên và
7,9% tổng dân số toàn tỉnh (1995) [11;7]. Trớc 1945 Nghi Xuân có 5
tổng, 33 xã, thôn, trang, phờng. Đến 2003 Nghi Xuân có 17 xã, 2 thị trấn
với 192 thôn, xóm, khối. Phía Đông của Nghi Xuân giáp biển, phía Đông
nam đến cuối xã Cơng Gián, đông Bắc đến xã Hội Thống (Xuân Hội).
Phía Tây giáp các huyện Hng Nguyên và Đức Thọ. Phía Bắc là dòng Lam
xanh trong. Phía Tây Nam là dãy núi Hồng Lĩnh với 99 ngọn hùng vĩ
trùng điệp đi vào sử sách với bao giai thoại. Vùng đất Nghi Xuân hẹp,
trải dài nhng có đủ cả sông, biển, núi đồi, đồng bằng, hải đảo đúng là
Sơn thuỷ hữu tình, đắm say lòng ngời.
Về địa hình nổi bật ở Nghi Xuân là dãy núi Hồng Lĩnh nằm lệch về
phía Tây Nam, trải dài trên địa phận 10 xã chiếm gần 1/2 diện tích đất tự
nhiên của huyện - Đây là dãy núi đã đợc khắc tên vào Cửu Đỉnh đặt ở
kinh đô Huế. Trong cấu tạo địa chất núi có khá nhiều lớp trầm tích nên
có mỏ sắt, mangan và một số khoáng sản có ích khác. Chiều cao, độ dốc,
thảm thực vật, lợng nớc ngầm là những nhân tố tác động trực tiếp tới
các mặt khí hậu, nguồn nớc và đời sống c dân trong huyện.
Vùng đồng bằng của Nghi Xuân vốn đã hẹp lại bị núi chia cắt
thành khu vực đồng bằng chân núi và đồng bằng ven biển. Vùng biển
Nghi Xuân kéo dài từ Cửa Hội đến Cửa Động Kèn - Động Gián, tạo điều
kiện cho ngời dân khai thác hải sản và tiềm năng du lịch nh ở bãi biển
Xuân Thành, Xuân Yên. Đất đai chủ yếu là đất cát, một số vùng đ ợc phù
sa bồi đắp nên điều kiện canh tác dễ dàng hơn.
Đối lập với cảnh non xanh là dòng sông Lam quanh năm nớc trong
xanh chảy hiền hoà ôm trọn đất Nghi Xuân. Có thể nói Nghi Xuân là
huyện duy nhất có cả núi Hồng sông Lam.
còn tiếp diễn.
Theo các nhà khảo cổ học ở Nghi Xuân có nhiều di tích khảo cổ
của nhiều thời đại khác nhau. Trớc hết là những dấu hiệu thời đồ đá cũ.
Trên bề mặt bóc mòn của thềm sông Lam, khu vực đền huyện xã Xuân
Giang, gần đây các nhà khảo cổ học đã phát hiện một số công cụ ghè đẽo
thuộc văn hoá Sơn Vi có niên đại hậu kỳ đá cũ cách ngày nay khoảng vài
8
vạn năm. Đây là những dấu hiệu đầu tiên để nghiên cứu thời đại đá cũ ở
vùng đất Nghi Xuân. ở đây còn có nhiều di tích thời đại đá mới ở bãi
Phôi Phối. Bãi Phôi Phối nằm kề chân núi Hồng Lĩnh thuộc xã Xuân
Viên. Địa điểm khảo cổ này đợc thầy trò khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp
(Nay Đại học Quốc Gia Hà Nội) khai quật vào 1976. Di tích có tầng văn
hoá dày 50 cm phân tách thành hai lớp sớm muộn khác nhau. Lớp d ới tợng trng cho văn hoá Quỳnh Văn với công cụ ghè đẽo thô sơ từ đá gốc,
kỹ thuật mài cha phát triển cao, công cụ cha thật định hình chính xác. Đồ
gốm thô và dày chủ yếu là gồm đáy nhọn, trang trí văn thừng, văn chải. Lớp
trên thuộc văn hoá Thạch Lạc với sự phong phú của rìu đá có vai, rìu tứ
giác và cuốc đá.
Thời kỳ văn hoá Đông Sơn ở Nghi Xuân có các di tích đợc phát
hiện đầu tiên ở Xuân An. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy rìu đồng xoè
cân, rìu lỡi xéo, cày đồngở đây còn tìm thấy khuyên tai hình hai đầu
thú bằng đá đen, một đồ trang sức dộc đáo chứng tỏ sự giao l u văn hoá ở
đây lúc bấy giờ với các vùng xa.
Trong lòng đất các xã Xuân An, Xuân Giang, Xuân Viên đều có
các di tích của các thời kỳ Bắc thuộc. Đó là những kiến trúc gạch xây cha sử dụng vật liệu kết dính. Các viên gạch với độ dày mỏng khác nhau,
có hoa văn ô trám hoặc để trơn, xếp chồng lên nhau thành những hầm mộ
kiểu vòng cuốn.
Các nhà khảo cổ học đã khai quật tìm thấy các dấu tích nh khối
tháp cổ đời Trần bằng đất nung khá độc đáo ở vùng núi thuộc xã Xuân
Nghi Xuân độc toàn.
Nghi Xuân là đồn tiền tiêu án ngữ che chở cho trấn Nghệ An mà
ngã ba Tam Chế (thuộc xã Xuân Lam - Nghi Xuân ngày nay) đã trở
thành dinh luỹ của trấn thành.
Trên mảnh đất Nghi Xuân đã in dấu vó ngựa và chiến thuyền của
vua tôi, binh lính qua bao triều đại phong kiến Việt Nam.
Lê Lợi trong kháng chiến chống quân Minh khi gặp khó khăn đã đi
vào Nghệ An (bao gồm cả Hà Tĩnh ngày nay), lấy nơi đây làm nơi dừng
chân củng cố lực lợng để tổng phản công. Bấy giờ Nghi Xuân đã góp
nhiều nhân tài vật lực. Đất đai chung quanh Ngàn Hống đã là những trại
sản xuất lơng thực cho nghĩa quân.
10
Sau khi nhà Lê hng thịnh đất Nghi Xuân luôn là nơi dừng chân của
nhà vua khi tuần thú Phơng Nam.
Hồng Lĩnh lai phong
Nghi Xuân dịch mã .
(Qua núi Hồng Lĩnh
Nghi Xuân là con ngựa trạm).
Trạm Chế làm một trạm giao liên quan trọng trên trục đờng thiên lí
từ Thăng Long đến Đèo Ngang. Mùa hè 1476 vua Lê Thánh Tông khi
nghỉ chân ở đây đã ghi lại cảm xúc qua bài thơ Nôm vịnh Làng Chế:
Bóng ác non dài ban xế xế
Bỗng đâu đã tới miền Tam Chế
Mênh mang khóm nớc nhuốm màu Lam
Chất ngất đỉnh non trùm bóng quế.
Chợ họp bên sông gẫm có chiều
Thuyền bày trên đất xem nhiều thế
Nghệ Tĩnh là những ngời làm nông nghiệp [7;34].
Các di chỉ khảo cổ tiếp theo cho biết thêm về thời đại đồ đồng nh
di chỉ Xuân An, bên bờ Sông Lam, dới chân Rú Cơm, đối diện Bến Thuỷ
cũng tìm đợc nồi gốm có dấu vết xỉ đồng chứng tỏ rằng đồng đợc đúc tại
chỗ, di chỉ Xuân Giang cũng đã phát hiện đợc dấu vết những lò luyện sắt.
Nh vậy, cách đây từ 4000 năm đến 3000 năm, trên Nghi Xuân đã hình
thành và phát triển nền văn hoá rực rỡ dựa trên nền tảng nông nghiệp
trồng lúa nớc, đã hình thành cộng đồng làng xã với lối sống chung.
Qua hàng nghìn năm tồn tại và phát triển, c dân Nghi Xuân đã từng
bớc lấn biển, chuyển từ miền núi xuống sinh sống dọc theo ven biển l u
vực Sông Cả và khai phá đồng bằng.
Theo tiến trình lịch sử c dân bản địa đợc bổ sung bằng những đợt
di c từ nơi khác tới, có thể từ Bắc vào, từ Nam ra. Có thể vì nhiều lý do
khác nhau: chạy loạn, theo các cuộc khởi nghĩa lui về, hoặc tìm đất mới
an c. Trải qua bao thăng trầm trong xây dựng và bảo vệ quê h ơng, sự hoà
quyện về huyết thống, văn hoá đã tạo nên những nét đẹp riêng trong con
ngời Nghi Xuân, trong truyền thống chung của ngời Nghệ Tĩnh.
Ngay từ thế kỷ XV dới ách độ hộ của quân Minh, hai thủ lĩnh Trần
Đài và Phan Xá - ngời Nghi Xuân đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh nhng
thất bại. Năm 1424 khi Lê Lợi đa quân vào Nghệ An, ngời Nghi Xuân
12
náo nức gia nhập lực lợng, trong đó có Phan Nhân đợc Lê Lợi phân công
phụ tránh vận chuyển lơng thực, là một vị tớng hậu cần đóng góp nhiều
công lao cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Hai xã Tiên Điền và Hội Thống
cho nhiều ngời bổ sung vào nghĩa quân và lập nhiều công trạng đợc nhà
vua phong tặng danh hiệu xã Kiên Nghĩa.
Cuối thế kỷ XIX sau lúc thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, hởng ứng
lời kêu gọi Cần Vơng, cử nhân Phan Khắc Hoà ở Xuân Yên tức tốc lên
chuẩn bị cho khởi nghĩa tháng 8 - 1945.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Nghi Xuân là
tuyến lửa, lớp lớp con em Nghi Xuân đã lên đờng ra tiền tuyến giết giặc
lập công. Có 20 bà mẹ của Nghi Xuân đợc phong tặng bà mẹ Việt Nam
anh hùng. Huyện Nghi Xuân có các xã nh: Xuân Giang, Xuân Hải, Xuân
Trờng, Xuân Viên, Tiên Điền, Xuân Hội đợc tặng danh hiệu anh hùng
lực lợng vũ trang.
Tiếp nối truyền thống anh dũng của cha ông trong công cuộc đấu
tranh bảo vệ đất nớc, ngời Nghi Xuân đang từng bớc khẳng định mình
trong công cuộc dựng nớc. Trên con đờng phát triển Nghi Xuân ngày
càng gặt hái đợc nhiều thành tựu trên các lĩnh vực văn hoá, giáo dục,
kinh tế, chính trị. Bộ mặt Nghi Xuân thêm phần rạng rỡ, xinh đẹp nh hai
chữ nên xuân trong tên gọi của vùng đất này.
Điều kiện tự nhiên không kém phần khắc nghiệt đã rèn giũa cho
con ngời Nghi Xuân. Mỗi ngời đều mang trong mình một bầu máu nóng
đầy nhiệt huyết xây dựng quê hơng đất nớc.
Trải qua bao thăng trầm trong xây dựng và bảo vệ quê hơng, sự hoà
quyện về huyết thống văn hoá đã tạo nên nét đẹp riêng trong con ngời
Nghi Xuân, trong truyền thống chung của ngời Nghệ Tĩnh.
Đại hội Đảng bộ Nghệ Tĩnh lần thứ XI đã khẳng định những đức
tính tốt đẹp của con ngời Nghệ Tĩnh trong con ngời Việt Nam: Có lòng
yêu nớc thiết tha, có tình cảm quốc tế trong sáng đậm đà; cần cù lao
động; nghĩa tình trong cuộc sống; biết chịu đựng hy sinh, dũng cảm
chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, kiên cờng vợt qua mọi thử thách hiểm nghèo
trong cuộc đấu tranh chống lại sự hà khắc của thiên nhiên; chống lại mọi
sự bất công và áp bức trong xã hội. Đức tính đó là cơ sở để hun đúc nên
khí phách Hồng Lam của con ngời Nghệ Tĩnh. Trên mảnh đất Nghi
14
công trình kiến trúc cổ ở Nghi Xuân là di tích văn hoá lịch sử thuộc thời
Hậu Lê đến thời Nguyễn.
Trên địa bàn vẫn còn 3 ngôi chùa: Đà Liễu (ở Xuân Mỹ), Thanh L ơng và Phong Phạn (ở Xuân An) có nhiều pho tợng quý. Nh chùa Đà
Liễu hiện còn trên 36 pho tợng quý đợc tạc từ thế kỷ XVII, XVIII.
Nhiều đình, đền, nhà thờ còn giữ đợc nhiều bộ sắc phong quý, cũng
nh các đồ tế khí, còn đợc giữ nguyên, tiêu biểu nh Đình Hoa Vân Hải ở
xã Cổ Đạm còn giữ đợc cả tợng đồng đen.
Ngoài Nghi Xuân bát cảnh, nay trên đất Nghi Xuân còn có bãi
biển Xuân Thành, khu du lịch biển đợc nhiều du khách yêu thích, bởi bãi
biển thoai thoải, có dòng nớc ngọt chảy song song phía trong không bao
giờ cạn. Biển Xuân Thành lại có nhiều đặc hải sản quý: tôm, cua, mực,
ốc, rắn biển Cơ sở hạ tầng đang từng b ớc đợc xây dựng để đáp ứng nhu
cầu của du khách.
Để cắt nghĩa nguồn gốc của sự hội tụ di tích danh thắng ở Nghi
Xuân không thể không suy nghĩ về đặc điểm tự nhiên vừa hùng vĩ, vừa tơi đẹp, phong phú, gợi cảm hứng nghệ thuật, vừa không ít khó khăn về
địa lý, đất đai, khí hậu, cũng nh truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời liên
tục đợc phát huy của vùng đất này. Đây là một vùng đất từ xa đã xuất
hiện nhiều ngời tài giỏi: có vị lập công hớng dẫn c dân đắp đê ngăn mặn,
xứng danh ông tổ của họ trâm anh thế phiệt, sau khi mất đ ợc nhân dân
phong thần làm thành hoàng và lập đền thờ nh Nguyễn Nghiễm ở Tiên
Điền. Danh nhân văn hoá thế giới nh đại thi hào Nguyễn Du. Uy viễn tớng công Nguyễn Công Trứ vừa là nhà chính trị, nhà quân sự, vừa là nhà
kinh tế có tài, nhà thơ độc đáo có nhân cách cao thợng, tâm hồn hết sức
phóng khoáng, một nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XIX.
Các yếu tố chủ yếu hình thành cảnh quan ở Nghi Xuân là địa hình,
mặt nớc màu xanh của cây lá, kiến trúc của công trình.
1.2.2.Nghi Xuân bát cảnh.
theo. Sau này núi nuối tiếc, mang tên Hồng làm kỷ niệm. Cục lịp vẫn còn
cùng với dải Hồng Lĩnh thơ mộng, tạo nên nhiều cảnh đẹp. Có nền Trang
17
vơng xa xa, với chùa Hơng Tích đẹp và cổ kính, có dãy Ngũ Mã với đền
Củi linh thiêng, có lăng mộ Ngọc Trần (vợ vua Lê Lợi) ở núi Na, có đá
Ông, đá Mụ, có truông Cồng Khánh, con đờng mà đại thi hào Nguyễn Du
đi tắt vợt Treo Vọt để hát phờng vải, có di chỉ văn hóa Phôi Phối Vì
thế chăng, mà dải Hồng Lĩnh đợc khắc tên Anh Đỉnh ở kinh đô Huế để
tôn vinh những kì quan đẹp nhất nớc.
- Hoa Phẩm thắng triền:
Hoa Phẩm là tên chợ, nằm trớc chân núi Na (trong dải Hồng Lĩnh
thuộc địa phận xã Xuân Lam), chợ nằm gần sông, gần đờng cái quan,
thông thơng Nam Bắc, là cảnh Chênh vênh quán lá chen hoa tím. Vắt
vẻo đờng quan hơng thoảng bay. Chợ lại ở một bên trạm nơi dừng chân
của các cuộc kinh lí, cùng gần nhà quán nên sầm uất. Sau này, khi táng
bà Lê Nguyên Phi (vợ vua Lê Lợi) ở núi Na, chợ dời đến bãi Chế sát bờ
sông, cảnh trên bến dới thuyền tấp nập, trù phú nên đã có những câu ngợi
ca Chợ Chế một tháng sáu phiên. Một quan mà bán tám tiền cũng đi
(Một quan bằng mời tiền).
- Cô Độc lâm lu:
Từ chợ Củi, xuôi xuống chút nữa ta gặp hòn núi Cô Độc (thuộc
nhóm Ngũ Mã trong dải Hồng Lĩnh, địa phận xã Xuân Hồng). Nhìn cả
nhóm núi nh đàn trâu đang cúi mình và một con nghé đứng riêng.
Chuyện kể rằng: Trong lúc cả đàn đang ăn cỏ, một chú nghé non
ngẩng đầu nhìn sang bên kia sông, nơi ấy cỏ hình nh xanh hơn, ngon
lành hơn. Chú lặng lẽ tách khỏi đàn định vợt sông, khi hai chân trớc vừa
bớc xuống sông, điều không may đã đến, trời bắt chú hóa đá. Thế là có
một ngọn núi đá nằm bên bờ sông, nớc chảy lồng phía dới, thuyền chạy
Còn nay, đây là vùng dân c, đất đai màu mỡ, cây cối xanh tốt
quanh năm. Trong lòng có nhà thờ họ Hồ nổi tiếng. Với không khí trong
lành mát mẻ, chắc sẽ là điểm du lịch trong tơng lai.
- Giang Đình cổ độ:
Rời Quần Mộc xuôi chút nữa ta gặp bến Giang Đình. Xa, đây là bến đò
ngang nằm ở trung tâm huyện, lại sát huyện lỵ, nơi đợc chọn làm nơi gặp mặt
trên sông, về sau là nơi đón khách xa đến huyện (theo đờng thủy), rồi là nơi
đón các ông nghè vinh quy, mở hội ăn mừng và đợc rớc về quê quán.
19
Bến Giang Đình đẹp, vì ngoài có rừng bần chắn gió, bến dốc nên
sạch, trên bờ là những cây cổ thụ rợp bóng mát, ngay sát là chợ huyện,
tên chợ cũng đợc mang tên Giang Đình. Trên chợ dới thuyền thật là
thuận lợi, buôn bán sầm uất. Bến xa có lúc là đón ngời vinh hiển, có lúc
lại xôn xao với vành yếm thắm, cũng có lúc đò sang tím lại bởi tiếng tâm
tình.
Đại thi hào Nguyễn Du khi đặt chân lên bến Giang Đình lại nhớ
đến cụ thân sinh:
ức tích ngô ông ta lão thị
Phiêu phiêu bồ tử thử giang mi
(Nhớ cụ ta xa cáo lão về
Mé sông này rộn ngựa cùng xe).
Còn nay, bến đã dời đến chợ Giang Đình mới, đò nối hai bờ của
hai tỉnh, nơi đón hàng từ ngàn về. Chợ Giang Đình vẫn là trung tâm buôn
bán tấp nập của huyện.
- Đan Nhai quy phàm:
Rời bến Giang Đình xuôi về sông Lam, trớc đây gọi là cửa Đan
Nhai, còn nay gọi là cửa Hội (cửa Đan Nhai là tên của xã Đan Nhai, cửa
Chơng II
Một số đình đền và nhà thờ họ điển hình.
21
2.1. Đình Hội Thống
2.1.1. Khái quát về một số đình ở Nghi Xuân.
Đình làng Việt Nam đơn sơ mà ấm cúng. Giữa những mái nhà đất,
nhà gỗ mộc mạc đợc bao thành bởi những cây đa, bến nớc là sân đình và
nổi bật lên mái đình với những đầu đao cong vút. Mái đình nh ôm ấp cả
làng quê thân yêu. Có thể nói đình làng nh một biểu tợng cô đọng nhất của
làng xã Việt Nam bởi đó là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng
làng:
Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thơng mình bấy nhiêu
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ngôi đình Việt Nam đợc xây theo
một truyền thống cổ xa khi tổ tiên ta còn ở nhà sàn. Ngôi đình mái cong
trĩu nằm trên những cột đồ sộ bao giờ cũng có sàn lát bằng ván gỗ.
Những hình nhà sàn chạm khắc trên mặt trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ
cổ xa vào thời các vua Hùng dựng nớc đã nhắc khéo về truyền thống lâu
đời của kiến trúc đình làng ở Việt Nam.
Thời gian trôi qua hàng chục thế kỷ, đất nớc trải qua bao cuộc
chống ngoại xâm và khí hậu khắc nghiệt đã hủy diệt biết bao công trình
kiến trúc.
Hiện nay trên đất Nghi Xuân còn lại một số đình:
- Đình Hoa Vân Hải:
Đình Hoa Vân Hải nằm trên một triền cát rộng sát biển, thuộc làng
Vân Hải, xã Cổ Đạm - huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh. Đền đ ợc xây dựng
Kỳ vào những ngày tháng cuối cùng của cao trào cách mạng 1930 - 1931.
Sau khi phát hiện đình Hoa Vân Hải là nơi liên lạc của xứ ủy Trung
kỳ, thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp , triệt hạ làng Cổ Đạm. Đình làng
sau đó bị thực dân Pháp đốt trụi, chỉ còn lại một phần ở phía sau.
Trải qua năm tháng và hai cuộc kháng chiến, đình Hoa Vân Hải đã
bị xuống cấp, toàn bộ tờng bao bị đổ, nay chỉ còn lại hai ngôi nhà trung
điện và hạ điện. Kết cấu ở hai ngôi nhà này đơn giản, ít hoa văn họa tiết
nhng chắc khỏe.
Ngày 28/12/2001, đình Hoa Vân Hải đã đợc Bộ Văn hóa thông tin
xếp hạng di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia. Hiện nay ngôi đình đã trở
thành một địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.
23
- Đình Hát:
Đình lớn nhất xã Xuân Viên còn gọi là đình Hát. Đình Hát nằm
trên cồn cao phía sau làng, xung quanh là ruộng n ơng. Đình hớng Nam.
Ngày trớc đình có ba tòa, thế chữ tam. Tòa thợng có long ngai lớn đặt
bài vị thờ đức Đại vơng cả Đậu Vĩnh Trờng. Tòa trung, ở giữa là nền tế,
hai bên là các bậc cao thấp khác nhau dành cho các vị chức sắc, những
ngời nho học của xã. Tòa hạ dành cho các đinh làng bình th ờng đến dự
lễ.
Phía trớc đình là hai cây muỗm lớn. Bên phải cạnh đình là đền thờ
bản thế, và tiếp đến là chùa Diên Phúc. Bên trái cạnh đình là nhà dùng để
dọn lễ, phụ nữ có thể dứng ở đây dự lễ. Phía trớc đình là nền Thanh minh
và ngày xa cũng đợc dùng làm sàn diễn. Phía ngoài hai cột hoa biểu lớn
là ao đình rộng, xa hơn chút nữa là dải Hồng Lĩnh.
Chuyện kể rằng: Ngày xa, vua nhà Lý đi kinh lý phơng Nam, đến
ngắm xem phong cảnh hùng vĩ của Hồng Lĩnh và chọn đây làm nơi nghỉ
chân. Để tiện những lần sau vua đến, dân dựng đình. Phần tòa trung lúc
Đình hiện còn một bản sắc thời Khải Định năm thứ 9.
Ngày trớc, đình Ráng có hai lần lễ lớn trong năm. Trong đó ngày
giỗ thành hoàng 25/7 do làng biện lễ cúng. Còn ngày mồng 4 tết xã tổ
chức lễ hội.
Các cụ còn nhớ đình Ráng là nơi phát chẩn cho mấy xã vào năm
đói 1945, là nơi tập hợp lực lợng tham gia biểu tình trong cách mạng
tháng Tám, là nơi thành lập chi bộ Đảng cộng sản xã Đan Tràng tháng
12/1945.
2.1.2. Đình Hội Thống.
Trong số những đình còn lại trên đất Nghi Xuân, đình Hội thống là
một địa chỉ đỏ tiêu biểu hơn cả.
Hội Thống là tên gọi của làng ở thời Lê. Ngôi đình này đã đ ợc
làng xây dựng vào thời điểm làng đã và đang có tên gọi đó. Vì vậy tên
gọi đình Hội Thống chỉ mang ý nghĩa chỉ địa danh.
Đình Hội Thống từ khi xây dựng đến nay vị trí không thay đổi.
Duy chỉ có tên gọi hành chính cấp xã thuộc địa bàn của di tích là thay
đổi qua các thời kỳ lịch sử.
25