Thực hiện qui chế dân chủ cơ sở ở xã nghi kim (thành phố vinh) trong những năm gần đây thực trạng và giải pháp - Pdf 32

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh

Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
ở xã nghi kim (thành phố Vinh) trong
những năm gần đây - Thực trạng và giải
pháp
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên Ngành giáo dục chính trị

Ngời thực hiện:

Phan Thị Hoài Khóa 46

Ngời hớng dẫn khoa học: ThS. Phan Văn Bình

1


Vinh, tháng 5 năm 2009
mở đầu
1. lý do chọn đề tài
Dân chủ không chỉ là bản chất của chế độ XHCN mà còn là động lực, là
mục tiêu của sự nghiệp cách mạng XHCN.
Từ lâu, Đảng ta luôn coi trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
dựa vào dân, nên đã lãnh đạo cách mạng nớc ta vợt qua mọi gian nan thử
thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong công cuộc đổi mới toàn
diện đất nớc theo định hớng XHCN, dân chủ hóa đời sống xã hội đã đợc Đảng
cộng sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm.
Đặc biệt là dân chủ hóa đời sống xã hội từ cơ sở.
Chính vì vậy, ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 30 CT/TW về

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, trong những năm qua, việc thực hiện QCDCCS đã gây đợc
sự chú ý, quan tâm của nhiều cấp, ngành, nhiều lĩnh vực. Nó luôn là đề tài đợc
nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các cấp, các ngành quan tâm nghiên cứu với
nhiều góc độ khác nhau. Những năm gần đây ở nớc ta có nhiều công trình,
nhiều cuộc hội thảo khoa học về đề tài dân chủ nói chung, dân chủ cơ sở nói
riêng.
Ngay từ khi QCDCCS đợc ban hành, các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nớc
cũng đã có các bài phát biểu nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực
hiện QCDCCS nh: Lê Khả Phiêu (1998), Phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, xây dựng và thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở, Tạp chí Cộng sản, (3),
tr. 3-7. Đỗ Mời (1998), Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, Tạp
chí Cộng sản (20), tr.3-8.
Một số bài viết tiêu biểu góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho việc thực
hiện và đánh giá quá trình thực hiện QCDCCS. Nh: Mấy vấn đề xây dựng
quy chế dân chủ ở cơ sở của Đỗ Quang Tuấn, Tạp chí Cộng sản, số 8, 1998,
tr. 8-12; Nhìn lại 10 năm thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phờng, thị trấn
của Huỳnh Đảm, Tạp chí Cộng sản, số 789, 2008, tr.8-15.

3


Nghiên cứu chung về vấn đề QCDCCS đã có một số công trình đợc in
thành sách, đã phân tích một cách sâu sắc, phong phú cả nội dung lý luận và
thực tiễn qua khảo sát ở các vùng, các địa phơng, nh: Quy chế thực hiện dân
chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn do PGS. TS. Dơng Xuân
Ngọc - chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
Liên quan đến vấn đề này còn có Luận văn thạc sỹ Triết học (chuyên
ngành Chủ nghĩa cộng sản khoa học) của tác giả Phan Văn Bình (bảo vệ tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2001): Thực hiện QCDCCS

dựng xã Nghi Kim giàu, mạnh, văn minh.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình thực hiện và phát huy
QCDCCS ở xã Nghi Kim trong thời gian qua.
- Vạch ra những nguyên nhân làm hạn chế quá trình thực hiện QCDCCS
ở xã Nghi Kim (Thành phố Vinh).
- Đề xuất những phơng hớng, các giải pháp hữu hiệu, có tính khả thi
nhằm thực hiện tốt nhất dân chủ ở xã Nghi Kim, phát huy cao nhất vai trò
động lực của dân chủ trong quá trình đổi mới.
4. đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện QCDCCS ở xã Nghi
Kim (Thành phố Vinh).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu một địa bàn cụ thể đó là tình hình
thực hiện QCDCCS ở xã Nghi Kim (thành phố Vinh) trong những năm gần
đây.
5. cơ sở và Phơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở nghiên cứu
- Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh về
vấn đề dân chủ.

5


- Xuất phát từ tình hình thực hiện QCDCCS ở xã Nghi Kim (thành phố
Vinh), đề tài nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này.
5.2.

Phơng pháp nghiên cứu


khoa học nghiên cứu, luận bàn.
Dân chủ là một khái niệm đa nghĩa, phức tạp, thuộc phạm trù chính trị
có nguồn gốc từ xã hội Hy Lạp cổ đại. ở đây, dân chủ là một từ ghép bao
gồm hai chữ: Dêmos, có nghĩa là ngời bình dân, là dân chúng (không phải là
quý tộc, cũng không phải là nô lệ), và Kratia - có nguồn gốc từ chữ Kratos có nghĩa là quyền lực cai trị, sức mạnh. Do vậy, từ nguyên Dêmos Kratia có
nghĩa là dân chủ, quyền lực, là sự thống trị, nền cai trị của ngời bình dân. Nó
đợc biểu hiện theo nghĩa đối lập với chế độ độc tài. Theo đó, dân chủ có nghĩa
là quyền lực của nhân dân, dân chủ là sự cai trị của nhân dân. Nhân dân là chủ
thể của quyền lực, sử dụng quyền lực, trong đó, quyền lực chính trị là quan
trọng nhất để tổ chức, quản lý xã hội, thực hiện sự nghiệp giải phóng xã hội,
giải phóng con ngời.
Dân chủ là một phạm trù chính trị mang tính lịch sử. Trong xã hội
chiếm hữu nô lệ, giai cấp chủ nô nhân danh xã hội, chiếm đoạt nhà nớc, biến
nhà nớc thành công cụ thực hiện quyền lực chính trị của mình. Nhà nớc chủ
nô chính là hình thái đầu tiên của chế độ dân chủ trong xã hội có giai cấp.
Dân chủ chủ nô đã đem lại cho loài ngời một mô hình về mặt tổ chức và cơ
chế vận hành của một thể chế dân chủ: Dân chủ cho thiểu số.

7


Thiết lập nền dân chủ t sản, dới ngọn cờ dân chủ, giai cấp t sản ở thời
kỳ đầu đã nhanh chóng lật đổ chế độ chuyên chế phong kiến và tuyên bố về
các quyền tự do, bình đẳng, bác ái, về quyền tự do cá nhân của con ngời. Song
thực tế trong xã hội t bản, chủ nghĩa tự do cho toàn xã hội đã bị thay thế
bằng chủ nghĩa mất tự do cho giai cấp bị trị. Do vậy, sự tha hóa quyền lực là
tất yếu phổ biến ở các nớc TBCN. Đúng nh nhận xét của C.Mác: Chế độ bầu
cử tự do trong CNTB biến thành tự do của nhân dân lựa chọn những ngời
thống trị mình. Tuyệt nhiên không phải là sự lựa chọn những ngời đại diện
cho lợi ích của bản thân mình. Lênin trong tác phẩm Nhà nớc và cách mạng

dân chủ cộng hòa - Nhà nớc công nông đầu tiên ở Đông Nam á đợc thiết lập.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ngời sáng lập và rèn luyện Đảng ta, đã có nhận thức
rất sớm và sâu sắc về vấn đề dân chủ và vai trò của việc phát huy quyền làm
chủ của nhân dân. Theo Ngời, dân chủ, thứ nhất là: dân là chủ: Nớc ta là nớc
dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ [18,515]; thứ hai, dân chủ là
dân làm chủ: nớc ta là nớc dân chủ, nghĩa là nớc nhà do nhân dân làm chủ
[19,452]; dân chủ là toàn bộ quyền lực, lợi ích đều thuộc về nhân dân: Nớc ta
là một nớc dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm. Khắp nơi có
đoàn thể nhân dân, nh HĐND, Mặt trận, Công đoàn, Hội nông dân cứu quốc,
Phụ nữ cứu quốc. Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân,
bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phủ [18,66].
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là
nhân dân làm chủ [20,25]. Ngời cũng sớm nhận thức sâu sắc về sức mạnh
của quần chúng nhân dân; coi dân là gốc của nớc, của cách mạng. Không
những chỉ có quan điểm dân chủ đúng đắn, mà Ngời còn nhận thấy vai trò,
tầm quan trọng của việc thực hành dân chủ. Ngời nói: Thực hành dân chủ là
cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn[21,249].
Trớc lúc đi xa, trong bản Di chúc, với muôn vàn tình thơng yêu để lại
cho muôn đời con cháu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: Toàn Đảng, toàn
dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nớc Việt Nam hòa bình, thống nhất,
độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng

9


thế giới. Nh vậy, dân chủ luôn là nội dung quan trọng trong t tởng Hồ Chí
Minh. Đây chính là cơ sở t tởng lý luận giúp Đảng cộng sản Việt Nam vận
dụng trong xây dựng nền dân chủ XHCN ở nớc ta.
Gần 80 năm lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành độc lập và xây dựng
CNXH, Đảng ta bao giờ cũng coi dân chủ là một nội dung quan trọng trong đờng lối cách mạng của mình. Mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm

động, học tập. Xã, phờng cũng là nơi nảy sinh nhiều yêu cầu bức xúc hàng
ngày của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, là nơi nhân dân trực tiếp thực
hiện mọi chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc. Do vậy, cũng là nơi
nhân dân đang có nhiều đòi hỏi về quyền làm chủ; nơi diễn ra sự tiếp xúc và
thể hiện các mối liên hệ đan chéo nhau nh: Đảng với dân, dân với dân, các tổ
chức, các đơn vị kinh tế, xã hội với dân
1.2.2. QCDCCS - nội dung quan trọng của dân chủ XHCN ở nớc ta.
Nắm bắt đợc yêu cầu của thực tiễn, trải qua quá trình nghiên cứu, tìm
tòi, thử nghiệm. Ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị ra chỉ thị số 30-CT/TW về
Xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở. Trên cơ sở đó, ngày 11/5/1998 Chính
phủ ra nghị định số 29/1998 NĐ/CP Về việc thực hiện QCDC ở xã, cùng với
Chỉ thị số 22/1998 CT-TTg ngày 15/5/1998 Về triển khai quy chế thực hiện
dân chủ ở xã, Chỉ thị số 24 CT-TTg ngày 19/6/1998 Về việc xây dựng và
thực hiện hơng ớc, quy ớc của làng, bản, thôn ấp, cụm dân c của thủ tớng
Chính phủ. Đây là những văn bản quan trọng do Đảng, Nhà nớc ban hành.
Tinh thần cơ bản của chỉ thị và nghị định này là làm sao dân chủ XHCN đợc
mở rộng, quyền làm chủ của nhân dân đợc phát huy. Đó cũng chính là mục
tiêu, động lực bảo đảm cho sự thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi
mới.
Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị đã khẳng định: Khâu quan trọng và cấp
bách trớc mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. Thực hiện
dân chủ phờng, xã là thực hiện những nội dung về dân chủ một cách trực tiếp
và rộng rãi, đến với từng ngời dân nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ của

11


nhân dân trong đời sống chính trị, kinh tế, quản lý xã hội, giữ gìn an ninh, trật
tự công cộng. Chỉ thị số 30 - CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị định 29 NĐ/CP của Chính phủ kèm theo quy chế thực hiện dân chủ ở xã. Quy chế
gồm: Lời nói đầu, 7 chơng và 25 điều. Về nội dung, quy chế quy định những

phải là toàn bộ vấn đề dân đề dân trí. Biết ở đây là quyền đợc thông tin một
cách đầy đủ và trung thực. Qua sự nhận biết từ thông tin, dân biết đợc quyền
và nghĩa vụ của mình, từ đó mới hiểu, mới có cơ sở để bàn, để làm và để kiểm
tra. Do vậy, trách nhiệm của các cơ quan Nhà nớc và hệ thống chính trị cơ sở
là phải thông báo thờng xuyên, đầy đủ đờng lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nớc; những vấn đề kinh tế - xã hội của địa phơng một cách sâu
rộng trong nhân dân. Quy chế quy định những điều dân đợc biết là một bớc cụ
thể hóa quyền đợc thông tin của công dân quy định tại Điều 59, Hiến pháp
1992.
Dân bàn - là một khái niệm để chỉ quyền tham gia ý kiến nhân dân.
Bàn để đi đến những quyết định trực tiếp; bàn để thực hiện; bàn để tham gia ý
kiến, để từ đó, cơ quan đại diện quyết định.
Dân làm - dân không chỉ là đối tợng đợc biết, đợc bàn và dân còn là
chủ thể trực tiếp của quá trình thực hiện. Khi đợc biết, đợc bàn, đợc tham gia ý
kiến, thì việc thực hiện sẽ thuận lợi. T tởng là cái gốc của hành động. T tởng
thông, hành động cách mạng của nhân dân sẽ đợc đẩy lên mức cao. Dân hồ
hởi, phấn khởi thì đờng lối, chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc sẽ trở
thành phong trào thi đua sâu rộng và có hiệu quả trong nhân dân.
Dân kiểm tra - Đây cũng là vấn đề thuộc bản chất của nền dân chủ
XHCN, nhân dân có quyền kiểm tra, thanh tra hoạt động của các tổ chức, cơ
quan Nhà nớc trong khuôn khổ pháp luật; từ công tác kiểm tra để có kiến nghị
chấn chỉnh, bổ sung với mục đích là làm cho hoạt động của các cơ quan này
lành mạnh hơn, dân chủ và hiệu quả hơn. Nội dung dân kiểm tra là nội dung
khó nhất trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân hiện nay.

13


Cả bốn khâu dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là một quy
trình kín, có mối liên hệ chặt chẽ, tác động, thúc đẩy lẫn nhau nhằm phát

trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp: 526,83ha, đất ở: 54,92ha, đất chuyên
dùng: 143,61ha, đất nuôi trồng thủy sản 18,53ha. Dân số: 9.469 ngời.
Địa hình Nghi Kim chia làm 2 vùng: Vùng đất cao là đất pha cát rất
thích hợp cho làm rau màu, trồng ngô, lạc, đậu, ngày nay đang dần chuyển đổi
trồng hoa, các loại rau sạch phù hợp với kinh tế thị trờng, và vùng đất thấp là
đất thịt rất thích hợp cho việc trồng lúa nớc.
Về giao thông vận tải: Có đờng quốc lộ 1A và đờng sắt chạy qua địa
bàn xã theo hớng Bắc - Nam. Có đờng liên huyện xuất phát từ quốc lộ 1A
chạy qua trung tâm xã lên Hng Nguyên, tiếp liền với quốc lộ 46 lên huyện
Nam Đàn quê Bác. Có đờng Đặng Thai Mai chạy dọc phía Nam xã. Ngoài ra
có các đờng trục ngang, dọc (đờng liên xóm) và đờng nội xóm phần lớn đã
đều đợc nhựa hóa.
Là một xã đồng bằng, nằm trong phông chung của khí hậu Nghệ An
nhiệt đới ẩm gió mùa, gió mùa đông bắc, gió tây nam nóng khô, thờng gọi là
gió Lào, gió đông nam thổi vào nên mát mẻ. Nhiệt độ trung bình 23 0C. Cũng
nh toàn thể nhân dân trong tỉnh, c dân Nghi Kim đã vất vả nhiều trong việc
chế ngự thiên nhiên, với khí hậu và thời tiết để sản xuất, tạo dựng cuộc sống.
2.1.2. Về điều kiện kinh tế - xã hội.
- Về kinh tế: Nghi Kim nằm trong vùng kinh tế năng động của huyện
Nghi Lộc trớc đây, có lợi thế quan trọng trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã
hội, là cửa ngõ giao lu kinh tế phía Bắc thành phố Vinh. Thơng mại dịch vụ
phát triển theo nhịp điệu phát triển của nền kinh tế thị trờng. Có hàng trăm cửa
hàng, cửa hiệu làm dịch vụ chế biến nông sản, cơ khí, cửa hàng phục vụ ăn
uống, có hàng nghìn mặt hàng đợc trao đổi từ trong Nam ngoài Bắc vào suốt
ngày đêm.
Hiện nay, tỷ trọng sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 26,8%, công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp 20,2%, dịch vụ, thơng mại chiếm tới 53%.

15



Các tổ chức, đoàn thể (ủy ban MTTQ, Công đoàn, Đoàn thanh niên,
Hội liên hiệp phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân) hoạt động ngày càng
đi vào chiều sâu và có hiệu quả.
Những đặc điểm trên là điều kiện thuận lợi cho xã Nghi Kim bớc vào sự
nghiệp CNH, HĐH nói chung, cho việc thực hiện QCDCCS nói riêng. Song,
cũng còn một số khó khăn, trở ngại đáng kể.
Vì là một xã ngoại thành mới sát nhập vào thành phố Vinh từ tháng
7/2008, nên nhìn chung, xã Nghi Kim vẫn còn gặp những khó khăn, hạn chế
nh: tốc độ tăng trởng kinh tế còn chậm, tốc độ đô thị hóa có tiến bộ, song kết
cấu hạ tầng cha đồng bộ, công tác quản lý quy hoạch đô thị còn nhiều bất cập,
việc huy động các nguồn lực, nhất là từ nguồn lực đóng góp của nhân dân để
xây dựng cơ sở hạ tầng cha mạnh. Đáng nghiêm trọng là t tởng bảo thủ, trông
chờ, ỷ lại, chậm đợc khắc phục, đảng viên có t tởng trung bình chủ nghĩa,
không phát huy tác dụng chậm đợc sàng lọc. ý thức học tập, nghiên cứu nghị
quyết của một bộ phận đảng viên còn yếu. Hiểu và vận dụng nguyên tắc tập
trung dân chủ cha đầy đủ, thậm chí còn bị vi phạm ở một số cấp ủy Đảng.
Tình trạng mất dân chủ, mất đoàn kết nội bộ ở một số đơn vị khắc phục
chậm và xử lý thiếu dứt điểm. Tính chiến đấu trong công tác t tởng cha cao,
thiếu sắc bén Chất lợng đội ngũ cán bộ chủ trì còn nhiều bất cập. Một bộ
phận cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng cha đợc xử lý nghiêm minh, làm
giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nớc Bộ máy kiểm tra,
thanh tra các cấp cha đồng bộ. Xử lý một số vụ việc còn biểu hiện hữu
khuynh, né tránh, đùn đẩy, giải quyết và xử lý cha kiên quyết.
Công tác cải cách hành chính cha đợc quan tâm đúng mức. Vai trò quản
lý, điều hành của chính quyền các cấp trong việc cụ thể hóa nghị quyết của
Đảng, tổ chức chỉ đạo thực hiện ở một số khâu còn hạn chế; vai trò lãnh đạo
của đảng đối với MTTQ và các đoàn thể quần chúng nhân dân có biểu hiện

17


18


đề quan trọng trong QCDCCS, chủ yếu những vấn đề cần thông báo cho dân,
những vấn đề dân bàn và quyết định trực tiếp, những vấn đề dân bàn trớc lúc
HĐND - UBND quyết định, những vấn đề nhân dân giám sát, kiểm tra cũng
nh xây dựng khối cộng đồng dân c.
Thông qua công tác quán triệt học tập, tuyên truyền nhận thức của nhân
dân về QCDCCS đợc nâng lên một bớc về hiểu biết, nắm chắc, đã vận dụng để
thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đặc biệt là các vấn đề sau:
* Những vấn đề cần thông tin cho nhân dân biết: Trong quá trình hoạt
động của mình, chính quyền xã Nghi Kim đã nắm chắc 14 vấn đề mà chính
quyền cần thông báo cho nhân dân, nh các chính sách pháp luật, các quy định
của Nhà nớc và của địa phơng về thủ tục hành chính giải quyết công việc liên
quan đến dân, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm của xã. Dự toán và
quyết toán ngân sách xã, các khoản đóng góp của dân, chủ trơng kế hoạch về
xoá đói giảm nghèo, công tác văn hoá, phòng chống các tệ nạn xã hội, an ninh
quốc phòng...
* Những vấn đề nhân dân bàn và quyết định trực tiếp: BCĐ căn cứ vào
QCDCCS và đã có những chủ trơng, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội hàng năm. Tổ chức họp nhân dân các xóm để nhân dân bàn bạc, tham gia
cho ý kiến và quyết định trực tiếp nh đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng (Điện - Đờng - Trờng - Trạm...); các loại quỹ nh: Quỹ khuyến học... Thành lập các ban
giám sát thi công các công trình từ các nguồn vốn do nhân dân đóng góp, vận
động ủng hộ đồng bào bị bão lụt, thiên tai trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện,
không áp đặt phân bổ bình quân. Qua quá trình thực hiện đa số nhân dân đều
đồng tình ủng hộ và thấy rõ đợc vai trò của việc ban hành QCDCCS.
* Những vấn đề nhân dân bàn tham gia ý kiến trớc khi HĐND và
UBND quyết định: Trong những năm qua, đặc biệt, sau khi có QCDCCS, các
vấn đề đợc dân bàn, thảo luận, tham gia ý kiến đã phát huy có hiệu quả, chẳng


20


40.000 - 45.000 con, đàn trâu bò sinh sản bình quân từ 800-900 con/năm. Chơng trình lai hóa đàn bò lai sin phát triển có trên 150 con bê lai.
Tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng khá, năm 2008 đã xây dựng đợc 35,5km
đờng nhựa và bê tông, hệ thống trục đờng ngang hoàn chỉnh. Xây dựng hai
trạm điện, đảm bảo cho 100% hộ gia đình sử dụng điện sinh hoạt và làm dịch
vụ sản xuất. Tổng số vốn đầu t xây dựng trong 5 năm (2001 - 2005) là 7 tỷ
500 triệu đồng.
Tốc độ phát triển kinh tế Nghi Kim năm 2008 là 13%, thu nhập bình
quân đầu ngời là 517.000đ/ngời/ tháng. Hiện nay, tỷ lệ số hộ khá giàu chiếm
63%, 30% hộ trung bình, 7% hộ nghèo (theo tiêu chí mới). Theo tiêu chí cũ,
có trên 20% hộ giàu, 41% hộ khá, 36% hộ nghèo, không có hộ đói. Số hộ có
nhà bằng kiên cố 1.230 hộ, số hộ có nhà bằng bán kiên cố 930 hộ, gần 100%
hộ có hệ thống nghe nhìn, 100% hộ có điện thắp sáng, 37 ô tô tải, 11 máy xay
xát, 3.077 xe gắn máy.
Thứ ba, trên lĩnh vực chính trị.
Trong quá trình đổi mới, cùng với việc thực hiện dân chủ về kinh tế, xã
hội là việc thực hiện dân chủ về chính trị. Để thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng ta rất quan tâm đến việc
động viên nhân dân tham gia vào quá trình đổi mới, tạo điều kiện để nhân dân
trực tiếp tham gia quản lý xã hội, thực hiện quyền làm chủ của mình trên các
lĩnh vực.
Dân chủ về chính trị trớc hết là quyền đợc thông tin. Chính quyền ở xã
Nghi Kim đã tổ chức chỉ đạo nhiều kênh thông tin, nâng dần tỷ lệ ngời nông
dân hiểu biết pháp luật, nắm các chủ trơng, chính sách của tỉnh và của huyện.
Từ chỗ nắm đợc thông tin, nhân dân đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp ý kiến của
mình vào chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc nh tham gia vào các
cuộc bầu cử, đóng góp ý kiến cho các dự luật... Nhân dân đã cung cấp cho tổ

* Về giáo dục: Đã đạt đợc nhiều tiến bộ ở cả 3 cấp học; năm học 2007 2008 tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học đạt 100%, trung học cơ sở đạt 100%,

22


trung học phổ thông đạt 98%. Trờng Tiểu học và Trung học giữ vững danh
hiệu trờng chuẩn quốc gia nhiều năm liền. Xã đã vận động nhân dân đầu t xây
dựng quỹ khuyến học, khuyến tài. Tập trung đầu t xây dựng cơ sở vật chất trờng Mầm non, Tiểu học, Trung học đạt hàng tỷ đồng. Tỷ lệ huy động học sinh
đạt 100%. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ về công tác giáo dục thực sự đi vào
cuộc sống trên địa bàn toàn xã.
* Về công tác y tế - chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân: Cơ sở vật chất
của trạm đợc quan tâm đầu t mua sắm và xây dựng khang trang. Các chơng
trình y tế quốc gia đợc triển khai đầy đủ, tiêm chủng mở rộng đạt tỷ lệ cao.
Phong trào vệ sinh, phòng bệnh, phòng trừ dịch đã đợc chú ý ngăn ngừa bao
vây dập tắt. Đến nay xã đã có bác sỹ, 16/16 xóm đã có y tá chăm sóc sức
khỏe. Đã có bác sỹ t nhân khám chữa bệnh trên địa bàn xã. Ngành y tế của xã
hàng năm đều đợc xếp vào loại xuất sắc. Trạm y tế xã đã đạt chuẩn quốc gia.
* Về công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình và văn hoá văn nghệ,
thông tin, thể dục thể thao: Thực hiện chơng trình dân số kế hoạch hóa gia
đình đã có chuyển biến mới. Trong 5 năm (2001-2005) tỷ suất sinh còn
13,4%. Năm 2008, có 9 xóm không có ngời sinh con thứ 3. Các hoạt động văn
hóa - văn nghệ đã bám sát nhiệm vụ chính trị, tạo ra không khí thi đua, phấn
khởi trong nhân dân, tham gia đầy đủ các phong trào do huyện tổ chức. Hoạt
động thông tin, tuyên truyền đợc đầu t củng cố, ngoài hệ thống đài truyền
thanh của xã, đến nay 16/16 xóm mua sắm trang thiết bị thêm, nh hệ thống
tăng âm, loa máy nhằm phục vụ tốt hơn công tác chỉ đạo và thông tin cho
nhân dân.
Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình đợc xác định giữ vai trò hết sức
quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, từ đó thực hiện chủ trơng của tỉnh,
xã Nghi Kim đã có những quyết định đúng đắn và phù hợp với địa bàn của

Do vậy, đó là yếu tố quyết định đến việc thực hiện có hiệu quả
QCDCCS ở xã Nghi Kim trong thời gian qua.

24


Thứ hai, do có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các tổ chức, đoàn thể
trong hệ thống chính trị ở xã Nghi Kim.
Thứ ba, phát huy đợc tinh thần dân chủ, đoàn kết trong nhân dân.
Thứ t, có đội ngũ cán bộ, Đảng viên thực sự đã trở thành những hạt
nhân tích cực, đầu tàu gơng mẫu của quá trình triển khai, thực hiện QCDCCS.
Đặc biệt là BCĐ thực hiện QCDCCS.
Ngoài ra, còn phải kể đến các nguyên nhân nh:
- Chủ trơng xây dựng và thực hiện QCDCCS đợc thực tế khẳng định là
hoàn toàn đúng đắn. Nó không những đáp ứng đợc những đòi hỏi bức xúc của
cuộc sống hàng ngày, mà còn nhằm mục đích phát huy quyền làm chủ của
nhân dân một cách sâu, rộng trong cả quá trình cách mạnh. Do vậy, đợc đa số
nhân dân đồng tình, ủng hộ và hởng ứng cao.
- Quá trình triển khai, thực hiện quy chế, đợc sự quan tâm, theo dõi, và
chỉ đạo sát sao của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phơng. Sự tham gia
nhiệt tình, đầy trách nhiệm của MTTQ, của các đoàn thể quần chúng. Đặc biệt
là vai trò của Đảng bộ, chi bộ.
Trong 300 ý kiến đợc hỏi, kết quả:
+ Đã phát huy vai trò: có 227 ý kiến trả lời, chiếm tỷ lệ 75,67%.
+ Cha phát huy vai trò: có 73 ý liến trả lời, chiếm tỷ lệ 24,33%.
- Công tác tổ chức, tuyên truyền đợc chuẩn bị khá chu đáo, cẩn trọng,
đúng quy trình.
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.
2.2.2.1. Những tồn tại, hạn chế.
Thứ nhất, trên lĩnh vực nhận thức.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status