Khảo sát triển khai thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở địa phương
A- Mở đầu
Dân chủ luôn luôn là khát khao của mọi người dân Việt Nam, điều đó được thể
hiện rất rõ ràng khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Trong Tuyên ngôn
độc lập 1945 do Bác Hồ viết, đã khẳng định quyền tự do dân chủ của tất cả người
dân Việt Nam.
Như vậy, ngay từ khi thành lập nước, tự do dân chủ đã trở thành ưu tiên hàng
đầu, là mục tiêu phấn đấu. Tất cả các cuộc chiến tranh sau này dành thống nhất đất
nước, cũng là để đảm bảo sự tự do, độc lập của đất nước, đảm bảo quyền dân chủ
của nhân dân.
Để thực hiện mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn
minh” đối với nước ta hiện nay vấn đề đó đã được xây dựng và thảo luận sôi nổi
trong các diễn dàn, đặc biệt là việc áp dụng dân chủ cụ thể ở các địa phương, cơ
quan đơn vị. Muốn hiểu bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa chúng ta cần tìm
hiểu những vấn đề như sau:
B- Nội dung
I.Lý luân chung về dân chủ và dân chủ XHCN
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin về dân chủ nhân dân XHCN
Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, dân chủ được tổ chức dưới hình
thức nhà nước, ở đó nhà nước được nhân dân ủy quyền nắm và thực thi quyền lực.
Trong nhà nước đó thừa nhận sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân vào
công việc quản lý nhà nước. Mức độ phạm vi tham gia thực sự của quần chúng
nhân dân vào công việc quản lý nhà nước, phản ánh được trình độ phát triển của
nền dân chủ.
Ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, khi có ngôn ngữ, chữ viết con người đã biết
diễn đạt nội dung, dân chủ. Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy, con người đã biết
“cử ra và phế bỏ người đứng đầu” là do quyền và sức lực của người dân. Nghĩa là
dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân.
Nhưng trong các thời kỳ khác nhau của xã hội có phân chia giai cấp, dân chủ
không còn giữ nguyên nghĩa ban đầu của nó là quyền lực thuộc về nhân dân, mà bị
chi phối bởi quan điểm lập trường, thái độ chính trị của giai cấp cầm quyền trong
điểm sau:
Chủ nghĩa Mác – Lê Nin kế thừa những nhân tố hợp lý, những hoạt động
thực tiễn và nhận thức của nhân loại về dân chủ. Đặc biệt tán thành quan điểm :
Dân chủ là một nhu cấu khách quan của nhân dân lao động, dân chủ là quyền lực
thuộc về nhân dân.
Khi xã hội có giai cấp và nhà nước – Tức là một chế độ dân chủ thể hiện chủ
yếu qua nhà nước thì khi đó không có dân chủ chung chung, phi gia cấp siêu giai
cấp, “dân chủ thuần túy”. Trái lại, mỗi chế độ dân chủ gắn với nhà nước đều mang
bản chất giai cấp thống trị xã hội. Nên dân chủ trong xã hội có giai cấp nó mang
tính giai cấp, gắn liền với các giai cấp đã thiết lập nên nền dân chủ đó, như : Dân
chủ chủ nô, dân chủ TS, dân chủ vô sản (dân chủ XHCN). Do đó từ khi có chế độ
dân chủ thì dân chủ luôn luôn tồn tại với tư cách một phạm trù lịch sử, phạm trù
chính trị.
Từ khi có nhà nước dân chủ thì dân chủ còn với ý nghĩa là một hình thức
nhà nước, trong đó chế độ bầu cử, bãi miễn các thành viên của nhà nước, có quản
lý xã hội theo pháp luật nhà nước và thừa nhận ở nhà nước đó “quyền lực thuộc về
nhân dân” (còn dân là ai thì do giai cấp thống trị quy định) gắn liền với một hệ
thống chuyên chính của xã hội.
Với một chế độ dân chủ và nhà nước tương ứng đều do một giai cấp thống
trị cầm quyền chi phối tất cả các lĩnh vực của toàn xã hội, do vậy, tính giai cấp
thống trị cũng gắn liền và chi phối tính dân tộc, tính chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội… ở mỗi quốc gia, dân tộc cụ thể.
2.Bản chất của dân chủ XHCN
-2Phú Hải
Trường CT Quảng Nam, Thực hiện: Phạm
Chủ nghĩa Mác- Lê nin cho rằng, chuyên chính vô sản và XHCN về căn bản
là thống nhất. Từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta thống nhất gọi
làm nền tảng tư tưởng, đồng thời kế thừa, phát huy những tinh hoa, văn hóa, tư
tưởng của nhân loại, do đó, đời sống tư tưởng - văn hóa của nền dân chủ CNXH rất
phong phú, đa dạng, toàn diện và ngày càng trở thành một nhân tố hành đầu, thành
mục tiêu và động lực cho quá trình phát xây dựng CNXH. Bởi nó phát huy cao độ
tính tự giác và sức sang tạo to lớn của con người trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ XHCN
Dân chủ là khát vọng muôn đời của con người. Quan niệm về dân chủ được
diễn đạt qua hai mệnh đề: “Dân là chủ” và “Dân làm chủ”.
-3Phú Hải
Trường CT Quảng Nam, Thực hiện: Phạm
Dân là chủ: nói đến vị thế của dân. Dân làm chủ: đề cập đến năng lực và
trách nhiệm của dân. Cả hai đi đôi với nhau, thể hiện vị trí, vai trò, quyền và trách
nhiệm của dân. Người nói :“Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nhà nước do nhân
dân làm chủ”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ”;“Nước ta
là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”.
Phản ánh đúng nội dung bản chất về dân chủ. Quyền hành và lực lượng đều
thuộc về nhân dân. Xã hội đảm bảo điều đó được thực thi thì đó là một xã hội thực
sự dân chủ.
Dân chủ thể hiện ở việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, thể
hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó lĩnh vực
chính trị là quan trọng nhất nổi bật nhất và được biểu hiện tập trung trong hoạt
động của nhà nước.
Dân chủ còn biểu hiện ở phương thức tổ chức xã hội thì phải có cấu tạo
quyền lực xã hội mà ở đó người dân cả trực tiếp, cả gián tiếp qua dân chủ đại diện,
một hệ thống chính trị do “dân cử ra” và “do dân tổ chức nên”.
Hồ Chí Minh chú trọng đảm bảo quyền lực của các giai cấp, tầng lớp, các
cộng đồng dân tộc trong thể chế chính trị nước ta:
tố quyết định tới trình độ dân chủ của toàn xã hội.
+ Nhà nước thể hiện chức năng quản lý xã hội của mình qua việc bảo đảm
thực thi ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đối với sự phát triển
của đất nước. Nhà nước thể chế hóa toàn bộ bản chất dân chủ của chế độ.
+ Các tổ chức mặt trận và đoàn thể nhân dân thể hiện quyền làm chủ và
tham gia quản lý xã hội.
Tất cả các tổ chức đó đều có một mục tiêu chung là đạt tới trình độ dân chủ
cao, dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đó cũng là động lực cơ bản nhất để các giai cấp,
tầng lớp trong xã hội phấn đấu trong sự nghiệp cách mạng. Thực hành dân chủ
rộng rãi là trên nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc nòng cốt là liên minh
công - nông - trí thức.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân là quan điểm tư
tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là kim chỉ nam định hướng cho toàn
bộ quá trình tổ chức, xây dựng và hoạt động của Nhà nước ta. Tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân là bước phát
triển mới và sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lê nin kết hợp chủ nghĩa
yêu nước, truyền thống văn hóa Việt Nam, tinh hoa văn hóa phương Đông và
phương Tây.
Nhà nước của dân, do dân và vì dân theo Hồ Chí Minh là Nhà nước thực
hiện quyền lực của nhân dân, dựa vào sức mạnh của nhân dân, trước hết là nhân
dân lao động. Nhân dân theo quan niệm của Hồ Chí Minh là toàn dân, là tất cả đàn
ông, đàn bà, người già người trẻ , không phân biệt giai cấp, dân tộc, đảng phái, tôn
giáo, Người cho rằng “ trong bầu trời không có gì quí bằng nhân dân. Trong thế
giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”
Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta (1946) do đích thân Chủ tịch Hồ
Chí Minh soạn thảo, ngay từ Điều 1 đã khẳng định: "Tất cả quyền binh trong nước
là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo,
giai cấp, tôn giáo". Xuất phát từ lòng tin sâu sắc vào truyền thống tốt đẹp của nhân
dân ta, cho dù trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn sau khi cách mạng mới thành công
- giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm đang hoành hành; Người đề nghị Chính phủ
phán quyết; tức là nhân dân phải là người thực hiện quyền lực, hoặc trực tiếp, hoặc
gián tiếp thông qua các đại biểu của mình “Chính quyền từ xã đến chính phủ Trung
ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên” . Đó là
những hình thức cơ bản của nền dân chủ; dân chủ vừa là thành quả đấu tranh cách
mạng của dân tộc, vừa là giá trị văn hóa, do đó theo Người: Nhà nước ta phải phát
triển quyền dân chủ sinh hoạt chính trị toàn dân... làm cho mọi người công dân
Việt Nam thực sự tham gia vào công việc của Nhà nước. Như vậy, nền tảng xã hội
sâu rộng, ý thức chính trị và khả năng tham gia vào đời sống chính trị của nhân dân
là yếu tố đảm bảo cho nền dân chủ mới. Người coi yếu tố đầu tiên của dân chủ là:
Có việc gì thì ai cũng được bàn, cũng phải bàn. Khi bàn rồi thì bỏ thăm, ý kiến nào
nhiều người theo hơn thì được, ấy là dân chủ.
Nhà nước do dân bởi vì “ lực lượng bao nhiêu là nhờ dân hết”. Nhà nước
muốn điều hành quản lý xã hội có hiệu quả thì phải dựa vào dân, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nói: “dân như nước mình như cá”; phải “đem tài dân, sức dân, của dân làm
lợi cho dân…Chính phủ chỉ giúp kế hoạch cổ động”. Vì vậy Đảng ta luôn chủ
trương dựa vào dân, tạo điều kiện để nhân dân phát huy cao nhất quyền làm chủ,
tham gia tích cực vào việc quản lý Nhà nước.
Nhà nước vì dân, theo Hồ Chí Minh có nghĩa là mọi hoạt động của Nhà
nước đều phải xuất phát và vì lợi ích của nhân dân; việc gì có lợi cho dân thì phải
làm cho kỳ được; việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh. Người chỉ rõ: chế
độ ta là chế độ dân chủ, nhân dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Cho
nên chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc
gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì tránh. Xây dựng một Nhà nước
vì dân là một nhà nước không đặc quyền, đặc lợi, phục vụ nhân dân tận tụy, một
nhà nước trong sạch, chí công vô tư. Bác đã dạy rằng: Phải xây dựng một nền
-6Phú Hải
Trường CT Quảng Nam, Thực hiện: Phạm
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền
kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt
Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.
-7Phú Hải
Trường CT Quảng Nam, Thực hiện: Phạm
Có thể xem đây là mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Những đặc
trưng trong mô hình vừa phản ánh tính phổ biến theo tinh thần học thuyết Mác-Lê
nin về xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa thể hiện tính đặc thù của dân tộc, có tính
đến các đặc điểm của thời đại. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục
nghiên cứu sâu và cụ thể hoá.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011) xác định dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh và do nhân dân làm chủ là 2 trong 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa
mà nhân dân ta xây dựng.
Việc Đại hội XI của Đảng xác định dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của
chế độ ta bắt nguồn từ chỗ ở nước ta tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân
dân, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều
thể hiện lợi ích của nhân dân. Đảng và Nhà nước gắn bó chặt chẽ với nhân dân,
phục vụ nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Mọi cán bộ, công chức đều
phải tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, có trách nhiệm hoàn thành tốt
chức trách và nhiệm vụ được nhân dân giao phó. Mọi hành vi vi phạm quyền làm
nhân dân - từ tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất, kinh doanh đến trao đổi,
phân phối và hưởng thụ kết quả lao động; từ tự do làm ăn đến tự do ngôn luận
ngày càng hiện thực hoá. Các quyền đề cử, ứng cử và lựa chọn của nhân dân trong
các cuộc bầu cử mỗi ngày một đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Nội dung và hình thức, phương pháp và công cụ thực hiện dân chủ ngày
càng sâu sắc và đa dạng. Về nội dung, quá trình thực hiện dân chủ ngày càng mở
rộng và phát triển đến về các lĩnh vực, các ngành, các cấp; cụ thể và chi tiết về tiêu
chí và chuẩn mực. Về hình thức, trong quá trình thực hiện dân chủ ngày càng tìm
kiếm và khẳng định được những quy tắc, quy định và quy trình mới cho dân chủ ở
cả hình thức dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp. Về tính chất, quá trình thực
hiện dân chủ ngày càng toàn diện và triệt để, thiết thực và hiệu quả. Cùng với việc
hoàn thiện các hình thức dân chủ gián tiếp, nhất là đổi mới và hoàn thiện tổ chức
và hoạt động các cơ quan dân cử, là quá trình xúc tiến mạnh mạnh mẽ các hình
thức dân chủ trực tiếp, nhất là ở cơ sở.
Hệ thống các thể chế, cơ chế dân chủ hình thành và phát triển hơn, tạo nền
tảng pháp lý cho quá trình thực hiện dân chủ. Thực hiện dân chủ ngày càng trở
thành quá trình xác định và thực hiện các cơ chế và thể chế về các quyền và lợi ích
của Nhà nước và của nhân dân. Đời sống xã hội ngày càng được tổ chức và vận
hành trên cơ sở các thể chế; tính ổn định của hệ thống ngày càng cao; tính chủ
quan, duy ý chí của các tổ chức và người lãnh đạo, quản lý được giảm thiểu. Trong
chủ trương và đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nội
dung và chương trình hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã
hội, vấn đề thể chế và xây dựng thể chế ngày càng được chú trọng. Thể chế, cơ chế
quy định tổ chức và hoạt động của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội,
các tổ chức xã hội, nghề nghiệp ngày càng hiện hữu và phát huy tác dụng. Thể chế,
quy chế quy định quyền hạn và trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân trong các
mối quan hệ chính trị và xã hội làm cho dân chủ ngày càng được xác định, ngày
càng được lượng hoá, ngày càng được trở nên hiện thực.
Với việc xây dựng các quy chế và pháp lệnh dân chủ cơ sở, dân chủ không
còn dừng lại ở những nguyên tắc chung, trừu tượng, mà được cụ thể hóa ở từng
huy sáng tạo của tập thể và cá nhân để nâng cao hiệu quả hoạt động, bảo toàn và
phát triển vốn nhà nước, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham
nhũng,chống vi phạm dân chủ, vi phạm kỷ luật, gây rối nội bộ, phát huy vai trò chủ
đạo của kinh tế nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Tạo động lực mạnh mẽ để phát triển doanh nghiệp nhà nước bền vững trên
cơ sở gắn bó chặt chẽ trách nhiệm giữa Giám đốc và công nhân, viên chức trong
chăm lo đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, tăng thu cho ngân sách nhà
nước, cải thiện đời sống, tạo thêm việc làm cho người lao động; phân định rõ ràng
vềquyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của Giám đốc và công nhân, viên
chức đối với kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; tạo môi
trường thuận lợi để tăng cường đoàn kết, thực hiện tự phê bình và phê bình, kiểm
tra, giám sát lẫn nhau giữa Giám đốc và công nhân, viên chức cũng như trong nội
bộ công nhân, viên chức, giữa cán bộ lãnh đạo quản lý với nhau; bảo đảm hài hòa
lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp, của Giám đốc và của ngườilao động tương
ứng với kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Nội dung thực hiện
Thực hiện Nghị định số 07/1999/NĐ-CP ngày 13/2/1999 của Chính phủ về
Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước và Nghị định số
87/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 về việc ban hành Qui chế thực hiện dân chủ ở
công ty cổ phần, công ty TNHH cơ quan tôi đã thực hiện đối với từng nội dung
như sau:
+Đối với Chi ủy chi bộ:
Khi tổ chức đại hội Chi bộ thực hiện theo đúng Điều 11, 12, 13 Điều lệ Đảng
cộng sản Việt Nam. Thông qua đại hội ban hành Nghị quyết để thực hiện trong
-10Phú Hải
Trường CT Quảng Nam, Thực hiện: Phạm
suốt nhiệm kỳ, sau khi đại hội, xây dựng và ban hành Qui chế làm việc của Chi bộ
sản suất.
3. Phương hướng, đề nghị
- Tăng cường hơn nữa vai trò trách nhiệm cửa Ban chấp hành Công đoàn
trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
- Tiếp tục triển khai việc thực hiên Qui chế dân chủ trong cơ quan, để Ban
thanh tra nhân dân, CBCNV cùng tham gia vào công tác kiểm tra, giám sát tại đơn
vị.
-11Phú Hải
Trường CT Quảng Nam, Thực hiện: Phạm
- Ban thanh tra nhân dân tại cơ quan là những đồng chí làm việc kiêm
nhiệm, chưa được qua các lớp tập huấn về nghiệp vụ, trong thời gian đến đề nghị
cấp trên tổ chức tập huấn về chuyên môn để vận dụng thực hiên tại đơn vị.
- Tổ chức cho CBCNV học tập nắm nội dung văn bản liên quan đến việc
thực hiện qui chế dân chủ trong cơ quan.
C- Kết luận chung
Dân chủ XHCN ở nước vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất
nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy đòi hỏi tất cả quyền lực nhà nước phải thuộc
về nhân dân. Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ một trong
những nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo đổi mới là xây dựng nền dân chủ XHCN, phát
huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Sau khi thực hiện qui chế dân chủ tại đơn vị đã tác động sâu sắc đến các lĩnh
vực tư tưởng tại đơn vị, CBCNV an tâm công tác, thấy rõ được quyền lợi và trách
nhiệm trong lĩnh vực được giao nhiệm vụ, khơi dậy tinh thần và khí thế thi đua sôi
nổi trong các tổ sản xuất. Mặc dù vẫn còn những hạn chế cần phải được khắc phục
trong thời gian tới, nhưng đơn vị xác định việc thực hiện qui chế dân chủ có một
vai trò quan trọng để khơi dậy sức mạnh của tập thể CBCNV, phát huy nội lực,
Trong quá trình thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở cho thấy cán bộ và nhân
dân tin tưởng, phấn khởi là được tự do bàn bạc, tham gia góp ý một cách cởi mở
dân chủ về một số vấn đề có liên quan như xây dựng kết cấu hạ tầng, công khai
kinh tế tài chính, nghĩa vụ và quyền lợi công dân đồng thời nhận thức tốt hơn
quyền làm chủ của mình trong việc tham gia xây dựng phát triển kinh tế xã hội ở
địa phương, đơn vị mình.Thực hiện qui chế dân chủ, nhân dân được tham gia góp ý
xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tham gia ý kiến nhận xét về cán bộ đảng
viên qua đó ý thức tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân trong cán bộ đảng viên
được nâng cao, phương thức lãnh đạo điều hành của các cấp uỷ, chính quyền có sự
đổi mới tích cực hơn. Mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân ngày
càng mật thiết với nhiều biện pháp cụ thể gắn với lợi ích của nhân dân, gần dân, sát
dân hơn.
Với điều kiện kinh tế còn thấp, kết cấu hạ tầng kém phát triển, thiên tai hạn
hán luôn luôn rình rập, đe doạ cho nên khi thực hiện qui chế dân chủ các xã, thị
trấn trong huyện đã lựa chọn những nội dung cụ thể bức xúc nhất, có liên quan đến
-13Phú Hải
Trường CT Quảng Nam, Thực hiện: Phạm
lợi ích thiết thực của người dân để công khai cho nhân dân biết chủ truơng chính
sách của Đảng và Nhà nước,cùng nhân dân bàn bạc và tổ chức thực hiện. Theo
lãnh đạo UBND huyện Thăng Bình : “ Khâu cốt lõi của việc thực hiện qui chế dân
chủ ở cơ sở đó là Chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chủ trương của
địa phương dân phải biết – còn nếu dân mà không biết thì coi như không thể thực
hiện qui chế dân chủ”.
Những vấn đề cụ thể nhân dân được bàn bạc như xây dựng đường giao
thông nông thôn, bê tông hoá kênh mương nội đồng, xây dựng nhà sinh hoạt thôn,
xây dựng nhà tình nghĩa, giúp đỡ người nghèo, gia đình bị thiên tai, v.v…Với
phương châm “Nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ”, từ năm 1998 đến nay Huyện
hải sản hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Việc nuôi trồng thuỷ sản phát
triển, đáng chú ý là các mô hình nuôi ếch, baba, cá đã mang lại hiệu quả kinh tế
-14Phú Hải
Trường CT Quảng Nam, Thực hiện: Phạm
cao cho một số địa phương có điều kiện. Phong trào “tầng hoá” trường học được
đẩy mạnh, hầu hết các trường học trong huyện có cơ ngơi khang trang kiên cố,
đảm bảo cho việc dạy và học khi mùa mưa bão, tiến tới xây dựng trường đạt
“chuẩn quốc gia”. Đến nay cả huyện đã có 6 xã thực hiện việc dồn điền đổi thửa,
trong đó Bình Tú là địa phương thực hiện tốt việc chia đát và hướng dẫn chuyển
đổi cơ cấu cây trồng được nhân dân đồng tình ủng hộ.
Tại các xã thị trấn, nhân dân đã tham gia giám, kiểm tra các hoạt động của
chính quyền, nghị quyết của HĐND, tham gia nghiệm thu các công trình do nhân
dân đóng góp, giám sát việc sử dụng đất đai tại địa phương, giám sát cán bộ đảng
viên sinh hoạt nơi cư trú. Phương thức hoạt động của chính quyền đã đáp ứng được
nhu cầu của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy tinh thần làm chủ của
mình tham gia thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Thực hiện qui chế
dân chủ, tất cả 22 xã thị trấn trong huyện đã thực hiện cải cách thủ tục hành chính
theo cơ chế một cửa, công khai niêm yết các thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh
vực; Thực hiện tốt công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại tố cáo của dân, giải
quyết theo thẩm quyền, tình trạng đơn thư khiếu kiện ngày càng giảm dần. Đối với
các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn huyện việc triển khai qui chế dân chủ gắn
liền với việc thực hiện pháp lệnh công chức và cải cách thủ tục hành chính. Hầu
hết các cơ quan, doanh nghiệp đều xây dựng qui chế hoạt động gắn với qui chế chi
tiêu nội bộ, công khai nhiệm vụ chính trị, sản xuất kinh doanh, chế độ chính sách
có liên quan đến người lao động, công nhân viên chức.
Kết luận chung
Hơn mười năm thực hiện qui chế dân chủ ở Thăng Bình đã tác động sâu sắc