BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
---------
KHƯU THANH TUYẾT LÊ
THIẾT KẾ BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
PHÂN TÍCH, TỔNG HỢP CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
PHẦN TIẾN HÓA BẬC THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Sinh học
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Vinh, năm 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
---------
KHƯU THANH TUYẾT LÊ
THIẾT KẾ BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
PHÂN TÍCH, TỔNG HỢP CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
PHẦN TIẾN HÓA BẬC THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Sinh học
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Vinh, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Khưu Thanh Tuyết Lê
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BT
CH
CLTN
: Bài tập
: Câu hỏi
: Chọn lọc tự nhiên
ĐC
GD- ĐT
GV
H
HS
KN
Nxb
NST
PHT
PP
PPDH
PTBB
SGK
SH
Danh mục viết tắt
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
1
1
2
2
3
3
6. Giả thuyết khoa học
7. Phương pháp nghiên cứu
8. Đóng góp mới của đề tài
9. Cấu trúc luận văn
PHẦN 2: NỘI DUNG
3
3
6
6
8
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
13
1.1.2.4. Những yêu cầu khi thiết kế bài tập tình huống.
15
1.1.3. Kỹ năng học tập của HS
15
1.1.3.1. Kỹ năng
1.1.3.2.. Kỹ năng học tập
1.1.3.3. Một số kỹ năng nhận thức của HS
1.1.3.3.1 Kỹ năng phân tích- tổng hợp
15
15
17
17
1.1.3.3.2 Kỹ năng so sánh.
18
1.1.3.3.3 Kỹ năng khái quát hóa
1.1.3.3.4 Kỹ năng suy luận
1.1.4. Vai trò của việc rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp trong dạy
19
19
2.1.2.2. Các bài tập tình huống đã thiết kế trong dạy học phần Tiến
hóa bậc THPT
2.1.2.2.1 Bài tập tình huống ở dạng tranh luận về một vấn đề
2.1.2.2.2 Bài tập ở dạng xử lý tình huống giả định
2.2. Đề xuất sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng phân tíchtổng hợp cho HS trong dạy học phần Tiến hóa bậc THPT
2.2.1. Quy trình sử dụng các bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng
học tập cho HS
2.2.2. Vận dụng quy trình sử dụng các bài tập tình huống để rèn luyện
kỹ năng học tập cho HS
2.2.2.1. Sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng phân tích tổng hợp trong khâu dạy bài mới.
2.2.2.2. Sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng phân tích tổng hợp trong khâu ôn tập- củng cố.
2.2.2.3. Sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng phân tích tổng hợp trong khâu kiểm tra đánh giá.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
3.1. Mục đích thực nghiệm
3.2. Nội dung và phương pháp thực nghiệm
3.2.1. Đối tượng thực nghiệm
3.2.2. Tổ chức thực nghiệm sư phạm
3.2.3. Phương pháp tiến hành.
3.3. Kết quả thực nghiệm
3.3.1. Kết quả thực nghiệm tại trường THPT An Minh
3.3.2. Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Vân Khánh
23
25
26
26
27
31
33
33
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
68
68
68
70
71
71
71
72
P120
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Kết quả điều tra về phương pháp dạy học của GV
Bảng 1.2. Kết quả điều tra thực trạng thiết kế giáo án có sử dụng phương
pháp để rèn luyện kỹ năng phân tích – tổng hợp cho HS khi dạy học phần
Tiến hóa
Bảng 1.3. Kết quả điều tra ý kiến của HS về phương pháp dạy học phần
Tiến hóa của GV Sinh học
Bảng 3.1. Bảng phân phối tần số điểm các lần kiểm tra trường THPT An
Tran
g
24
25
25
63
từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và phương tiện dạy
học….Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là trọng tâm và có ý nghĩa
chiến lược.
Nhằm đào tạo những con người có tri thức, năng lực, tư duy đáp ứng nhanh với
sự phát triển của xã hội ngày nay, nghị quyết TW 2, khóa VIII đã chỉ rõ giáo dục phải
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,
rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học”.
Việc đổi mới PP dạy học một mặt nhằm tăng tính tích cực, chủ động, sáng tạo
trong học tập cho người học, mặt khác, các phương pháp dạy học cần phải nhấn mạnh
vào việc rèn luyện các kỹ năng (KN) cho người học. Các KN cần rèn luyện cho người
học bao gồm các KN tư duy logic (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu
tượng hóa), các KN học tập (KN tự học, KN hoạt động nhóm, KN làm việc với sách,
….) và một số KN khác như KN giao tiếp, KN trình diễn….Một trong những phương
pháp dạy học có khả năng phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động của học sinh trong
học tập và rèn luyện cho HS một số KN tư duy logic đó là phương pháp nghiên cứu
tình huống. Đây là PP dạy học yêu cầu người học phải đặt mình vào trong một hoàn
cảnh, nhập vai người ra quyết định cụ thể để giải quyết vấn đề nên có khả năng khiêu
khích người học phân tích, bình luận, đánh giá, suy xét và trình bày ý tưởng của mình
để qua đó, từng bước chiếm lĩnh tri thức hay vận dụng những kiến thức đã học vào
những trường hợp thực tế. Thông qua các hoạt động để chiếm lĩnh tri thức sẽ rèn luyện
KN học tập và KN tư duy cho người học.
Trong chương trình sinh học THPT, phần Tiến hóa – SH 12 là nội dung kiến
thức tương đối khó và trừu tượng đối với cả GV và HS. Trên thực tế, rất nhiều giáo
viên THPT khi dạy học phần này chủ yếu là sử dụng phương pháp dạy học thuyết trình
theo sách giáo khoa, coi trọng việc truyền thụ nội dung kiến thức hơn rèn luyện kỹ
năng nhận thức. Chính vì vậy khi dạy học phần tiến hóa, về phía GV rất khó lôi cuốn
HS tham gia tư duy tích cực, phát huy tính chủ động vào bài giảng. Về phía HS cũng
gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu nhận kiến thức bài giảng, các em thường ghi nhớ
kiến thức một cách máy móc nên việc học phần tiến hóa gặp rất nhiều khó khăn.
Việc sử dụng PP nghiên cứu tình huống để dạy học phần Tiến hóa sẽ đặt HS vào
- Xây dựng quy trình thiết kế một bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng phân
tích, tổng hợp cho HS và vận dụng quy trình để thiết kế các bài tập tình huống để rèn
luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp cho HS trong dạy - học phần Tiến hoá bậc THPT.
- Đề xuất quy trình sử dụng các bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng học tập
cho HS và vận dụng quy trình sử dụng các bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng
phân tích, tổng hợp cho HS.
- Thiết kế một số giáo án thực nghiệm có sử dụng các bài tập tình huống rèn
luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp để dạy - học các bài thuộc phần Tiến hoá- SH12.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra đánh giá tính khả thi của đề tài.
- Xử lý kết quả và viết báo cáo.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Giới hạn đề tài: Thiết kế và sử dung các bài tập tình huống để rèn luyện kỹ
năng phân tích, tổng hợp cho HS khi dạy học phần Tiến Hóa- SH12 THPT.
4.2 Thời gian nghiên cứu.
- Từ tháng 12 năm 2011 đến tháng 9 năm 2012
5. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Quy trình thiết kế và sử dụng các bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng phân
tích, tổng hợp trong dạy- học phần Tiến hoá bậc THPT.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Sinh học 12 THPT.
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được các bài tập tình huống phù hợp với mục tiêu, nội dung dạy
học và sử dụng các tình huống hợp lý sẽ rèn luyện được kỹ năng phân tích, tổng hợp
cho HS và góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi thảo luận với GV bộ môn ở các trường
để thống nhất nội dung và phương pháp giảng dạy.
- Qua thực nghiệm nhằm kiểm tra tính hiệu quả và thực thi của việc sử dụng các
bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp trong dạy-học phần Tiến
hoá bậc THPT.
- Thu thập và xử lý các số liệu để xác định các kết quả về định tính, định lượng
của kết quả thực nghiệm sư phạm.
7.4.2. Đối tượng thực nghiệm
- HS lớp 12 năm học 2011 – 2012, 2 trường THPT ở tỉnh Kiên Giang.
- Chúng tôi tiến hành tìm hiểu chất lượng học tập bộ môn Sinh học của lớp 12
qua việc thống kê kết quả học tập ở sổ điểm trong học kì I. Chúng tôi đã chọn ở 2
trường 4 lớp có số lượng, chất lượng tương đương nhau.
Mỗi trường chúng tôi chọn 2 lớp, 1 lớp TN và 1 lớp ĐC.
7.4.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm
Đối tượng nghiên cứu được chia làm 2 đối tượng: ĐC và TN.
- Lớp TN được dạy theo giáo án có sử dụng các BT tình huống để rèn luyện kỹ
năng phân tích, tổng hợp trình bày trong luận văn.
- Lớp ĐC dạy theo giáo án do giáo viên phụ trách lớp học đã chuẩn bị (sử dung
phương pháp thuyết trình, giải thích minh họa).
- Lớp ĐC và lớp TN được tiến hành song song, cùng thời gian và do cùng một
GV giảng dạy.
- Trong quá trình TN chúng tôi kết hợp với các GV bộ môn các trường thảo
luận thống nhất nội dung, phương pháp dạy.
- Chúng tôi tiến hành chọn dạy 3 bài lý thuyết ở mỗi lớp.
- Trong 3 bài này chúng tôi sử dụng các BT tình huống đã thiết kế nhằm phát huy
tính tích cực học tập và rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp của HS.
- Trong TN, sau mỗi tiết dạy lí thuyết chúng tôi tiến hành KT 1 bài 15 phút ở cả
lớp TN và lớp ĐC, tiến hành cùng 1 đề kiểm tra, một thời điểm đánh giá và cùng thời
= ∑ (x
n 1 i
2
− x) .n
i
- Độ lệch tiêu chuẩn: Biểu thị mức độ phân tán của các số liệu quanh giá trị
trung bình cộng.
s = s2
- Hệ số biến thiên: để so sánh hai tập hợp có X khác nhau
Cv % =
s
.100
x
Trong đó:
Cv = 0 - 10%: Độ dao động nhỏ, độ tin cậy cao.
Cv = 10% - 30%: Dao động trung bình.
Cv = 30% - 100%: Dao động lớn, độ tin cậy nhỏ.
- Độ tin cậy (td): Kiểm định độ tin cậy về sự chênh lệch của 2 giá trị trung bình
cộng của TN và ĐC bằng đại lượng kiểm định td theo công thức:
t
Giá trị tới hạn của td là tα tra trong bảng phân phối student với α= 0.05 và bậc tự
do f = n1+n2-2. Nếu |td| ≥ tα thì sự sai khác của các giá trị trung bình TN và ĐC là có ý
nghĩa.
-Biểu diễn kết quả thực nghiệm về tần suất điểm ở lớp đối chứng và lớp thực nghiệm
trên cùng một đồ thị của từng trường.
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về dạy học bằng tình huống, sử dụng bài tập
tình huống để rèn luyện các KN học tập
- Đề xuất được quy trình thiết kế bài tập tình huống trong dạy học
- Vận dụng quy trình, chúng tôi thiết kế được 36 BT tình huống trong dạy học
phần Tiến hóa- SH 12 góp phần nâng cao khả năng rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng
hợp cho học sinh THPT.
- Đề xuất được quy trình sử dụng BT tình huống để rèn luyện kỹ năng phân tích,
tổng hợp và vận dụng quy trình để tổ chức dạy học
- Thiết kế một số giáo án mẫu có sử dụng BT tình huống để rèn luyện kỹ năng
phân tích, tổng hợp cho học sinh.
9. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Gồm 3 phần:
PHẦN I: MỞ ĐẦU
PHẦN II: NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Thiết kế các BT tình huống để rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp
cho HS trong dạy - học phần Tiến hoá bậc THPT.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
PHẦN III: KẾT LUẬN
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
giao tiếp hàng ngày, đến những tình huống phức tạp trong hoạt động nghề nghiệp,
trong nghiên cứu khoa học,…Đó có thể là tình huống ở các cấp độ vật lí, sinh lí, tâm lí
hay xã hội.
1.1.1.2. Tình huống dạy học/Bài tập tình huống
Tình huống trong dạy học có phổ rất rộng: có thể là một bài tập toán học, bài tập
làm văn, bài học đạo đức, một thí nghiệm, thực hành, một ví dụ trong bài giảng của
giảng viên…Trong phổ rộng lớn các tình huống như vậy, có tình huống sẽ trở thành có
vấn đề khi nó được thiết lập trong mối quan hệ với chủ thể hành động.
Xét về mặt khách quan, tình huống dạy học là tổ hợp những mối quan hệ xã hội
cụ thể được hình thành trong quá trình dạy học, khi mà HS đã trở thành chủ thể hoạt
động với đối tượng nhận thức trong một trường dạy học nhằm một mục đích dạy học
cụ thể. Xét về mặt chủ quan, tình huống dạy học chính là trạng thái bên trong được
sinh ra do sự tương tác giữa chủ thể với đối tượng nhận thức.
Theo lý luận dạy học Xô Viết, tình huống dạy học là đơn vị cấu trúc, là tế bào
của bài lên lớp, bao gồm tổ hợp những điều kiện cần thiết, đó là mục đích dạy học, nội
dung dạy học và phương pháp dạy học để thu được những kết quả hạn chế, riêng biệt.
Bài tập tình huống là những tình huống xảy ra trong quá trình dạy học được cấu
trúc dưới dạng bài tập. Trong dạy học các môn học, những tình huống được đưa ra là
tình huống giả định hay tình huống thực đó xảy ra trong thực tiễn dạy học môn học ở
phổ thông. HS giải quyết được những tình huống trên, một mặt vừa giúp HS hình thành
kiến thức mới, vừa củng cố và khắc sâu kiến thức. Trong rèn luyện kỹ năng dạy học,
bài tập tình huống vừa là phương tiện, vừa là công cụ, vừa là cầu nối giao tiếp giữa GV
và HS.
Nguyễn Ngọc Quang còn đưa ra một cách tiếp cận mới của tình huống dạy học
đó là tình huống mô phỏng hành vi. Mô phỏng hành vi là bắt chước, sao chép, phỏng
theo quá trình hành vi của con người, sự tương tác riêng cá nhân của người đó, nhằm
đạt mục đích nào đó. Quá trình hành vi của con người trong tình huống thực, cụ thể
được xử lý sư phạm bằng mô hình hóa tạo nên tổ hợp các tình huống mô phỏng, là
vấn đề và những thông tin cần thiết để giải quyết được vấn đề ấy. Những dữ liệu ở đây
có thể chỉ đơn giản là những chi tiết, dữ kiện được diễn đạt bằng lời, một bảng biểu,
những tài liệu tham khảo, hình ảnh minh họa, một đoạn băng… hay bất cứ một tư liệu
nào khác có thể trợ giúp người học trong quá trình giải quyết vấn đề.
c) Một kết thúc mở chứa đựng vấn đề: Vấn đề là trung tâm, là hạt nhân của tình
huống. Vấn đề gợi ra, khiêu khích, đòi hỏi người học phải tìm tòi, suy nghĩ, phân tích,
so sánh, đánh giá để giải quyết tình huống. Chính vì thế, hầu hết các tình huống đều có
một kết thúc mở dưới dạng một câu hỏi nhằm hướng người học đến vấn đề cần giải
quyết cũng như nhằm tạo điều kiện cho người học có thể tiếp cận và giải quyết vấn đề
theo nhiều phương hướng khác nhau chứ không bị gò bó, ép buộc đi theo một phương
hướng cụ thể nào cả.
1.1.1.4. Phân loại tình huống dạy học
Theo Nguyễn Cương (2008), có thể phân ra nhiều loại tình huống dạy học, nhưng
tựu chung có những loại tình huống vấn đề sau:
- Tình huống nghịch lý là tình huống vấn đề mới thoạt nhìn dường như vô lý,
không phù hợp với lý thuyết, qui luật đã được thừa nhận.
- Tình huống tranh luận vấn đề bao gồm tình huống lựa chọn và tình huống bác bỏ.
+ Tình huống lựa chọn: là tình huống vấn đề xuất hiện khi HS phải đứng trước
một sự lựa chọn rất khó khăn giữa hai hay nhiều phương án giải quyết. Để có kết luận
chính xác đề đặt ra đòi hỏi HS phải phân tích vấn đề và tìm ra phương án chính xác
nhất.
+ Tình huống bác bỏ: là tình huống đòi hỏi phải bác bỏ một luận điểm, kết luận
sai lầm. Để đạt được điều đó, HS phải tìm ra được chỗ sai, chỗ thiếu chính xác của
luận điểm hoặc kết luận đó và chứng minh tính chất sai lầm của chúng.
Ví dụ: tình huống dạy học phần nguồn biến dị di truyền của quần thể - Bài:
Thuyết tiến hóa tổng hợp hiện đại.
Khi tranh luận về nguồn biến dị di truyền của quần thể trong quá trình tiến hóa.
Bạn Đạt cho rằng: “ nguồn nguyên liệu chủ yếu của quần thể là đột biến gen vì nó có
theo quan điểm của Đacuyn và phân tích được trong 3 nhóm bọ nói trên, nhóm bọ có
màu nâu phù hợp nhất với màu đất nên khả năng sống sót nhiều hơn, hai nhóm còn lại
có màu nổi bật so với màu đất nên rất dễ bị kẻ thù phát hiện tiêu diệt nhất là nhóm bọ
màu vàng…Từ sự phân tích trên HS thấy kết quả 1 là phù hợp nhất.
Theo A.A. Budarnưi (2002), các tình huống dạy học có thể phân chia làm 3 dạng:
- Dạng thứ nhất: Trong những tình huống dạy học thuộc dạng này GV diễn
giảng, giải thích, kể chuyện hay biểu diễn các thí nghiệm, HS chỉ thụ động tiếp thu.
- Dạng thứ hai: Chính bản thân HS trực tiếp kiểm tra nội dung của tài liệu giáo
khoa và không có tương tác bên ngoài giữa các em và GV trên cơ sở của tài liệu giáo
khoa. Trong những tình huống dạng này HS tự chủ tiếp thu kiến thức, không cần sự
giúp đỡ của GV.
- Dạng thứ ba: Dạng này bao gồm sự phối hợp của các tình huống, trong đó có
cả thầy lẫn trò đều tham gia vào quá trình xây dựng tri thức.
Tóm lại, bản chất của tình huống dạy học là đơn vị cấu trúc của bài lên lớp,
chứa đựng mối liên hệ mục đích - nội dung - phương pháp theo chiều ngang tại một
thời điểm nào đó với nội dung là một đơn vị kiến thức[19].
1.1.2. Dạy học bằng tình huống
1.1.2.1. Phương pháp dạy học bằng tình huống (phương pháp tình
huống/phương pháp sử dụng bài tập tình huống trong dạy học)
Theo Nguyễn Hữu Lam (2003), “Phương pháp tình huống là một kỹ thuật dạy
học trong đó các thành tố chủ yếu của nghiên cứu tình huống được trình bày với những
người học với các mục đích minh họa hoặc các kinh nghiệm giải quyết vấn đề” [14].
Dạy học bằng tình huống là một phương pháp mà GV tổ chức cho HS xem xét,
phân tích, nghiên cứu, thảo luận để tìm ra các phương án giải quyết cho các tình
huống, qua đó mà đạt được các mục tiêu bài học đặt ra.
Một bài tập nghiên cứu tình huống tốt, theo như Boehrer and Linsky cần phải
trình bày được những vấn đề có tính khiêu khích và tạo được sự thấu cảm với nhân vật
chính. Có học giả thậm chí đã minh hoạ điều này bằng một hình ảnh sinh động như
- Bản thân tình huống mang tính chất gợi vấn đề, không phải HS làm theo ý
thích của thầy giáo; HS là người giải quyết tùy vấn đề theo phương thức thích nghi,
điều tiết với môi trường; có hay không sự hỗ trợ của thầy giáo tùy thuộc vào tình
huống.
- HS chỉ được hướng dẫn cách tiếp cận với tình huống chứ không có công thức
nào giúp HS tiếp cận với tình huống.
- Việc đánh giá dựa trên hành động và thực tiễn.
1.1.2.3. Ưu, nhược điểm của dạy học bằng tình huống[5]
a) Ưu điểm
- Nâng cao tính thực tiễn của môn học.
- Nâng cao tính chủ động, sáng tạo và hứng thú của HS trong quá trình học.
- Nâng cao kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phân tích, tổng hợp, giải quyết vấn
đề, kỹ năng trình bày, bảo vệ và phản biện ý kiến trước đám đông.
- Người dạy trong vai trò người dẫn dắt cũng sẽ tiếp thu được nhiều kinh
nghiệm và những cách nhìn, giải pháp mới từ phía người học để làm phong phú bài
giảng và điều chỉnh nội dung tình huống nghiên cứu.
- Các tình huống tốt có tính chất liên kết lý thuyết rất cao.
- Dạy học tình huống còn được ví như là kiểu dạy học chẳng tốn kém gì nhưng
có ý nghĩa sư phạm rất lớn vì nó sinh động, cụ thể, thực tế.
Đây là phương pháp có thể kích thích ở mức cao nhất sự tham gia tích cực của
HS vào quá trình học tập; phát triển các kỹ năng học tập như: kỹ năng tư duy logic, đặc
biệt là kỹ năng phân tích, so sánh, tổng hợp; kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng đánh
giá; kỹ năng giao tiếp như nghe, nói, trình bày;....của HS; tăng cường khả năng suy
nghĩ độc lập, tính sáng tạo, tiếp cận tình huống dưới nhiều góc độ; cho phép phát hiện
ra những giải pháp cho những tình huống phức tạp; chủ động điều chỉnh được các nhận
thức, hành vi, kỹ năng của HS. Phương pháp này có thế mạnh trong đào tạo nhận thức
bậc cao.
Như vậy, phương pháp sư phạm này có thể phát huy được tính dân chủ, năng
1.1.3. Kỹ năng học tập của HS
1.1.3.1. Kỹ năng
Xét về nguồn gốc từ ngữ, kỹ năng có nguồn gốc từ Hán – Việt, “kỹ” là sự khéo
léo, “năng” là có thể.
Theo Trần Bá Hoành: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận
được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn. Kỹ năng đạt tới mức hết sức thành thạo,
khéo léo trở thành kỹ xảo” [5].
Theo Nguyễn Đình Chỉnh: “Kỹ năng là một thao tác đơn giản hoặc phức tạp
mang tính nhận thức hoặc mang tính hoạt động chân tay, nhằm thu được một kết quả
[3].....”
Có nhiều quan điểm khác nhau về kỹ năng, nhưng tựu trung lại bất kì kỹ năng
nào cũng dựa trên cơ sở lý thuyết - đó là kiến thức. Sở dĩ như vậy là vì xuất phát từ cấu
trúc kỹ năng (phải hiểu mục đích, biết cách thức đi đến kết quả và hiểu được những
điều kiện cần thiết để triển khai các cách thức đó).
Mỗi kỹ năng chỉ được biểu hiện thông qua một nội dung, tác động của kỹ năng
lên nội dung chúng ta sẽ đạt được mục tiêu đặt ra.
Mục tiêu = Kỹ năng x Nội dung
Kỹ năng là yếu tố quyết định đến kết quả hành động, nó biểu thị năng lực cá
nhân. Bất kì một kỹ năng nào cũng có hai thuộc tính cơ bản là:
- Hoạt động thực tiễn
- Dựa trên cơ sở kiến thức đã có
1.1.3.2. Kỹ năng học tập
Học tập là loại hình hoạt động cơ bản, một loại hoạt động phức tạp của con
người. Muốn học tập có kết quả, con người cần phải có một hệ thống kỹ năng chuyên
biệt gọi là kỹ năng học tập. Theo các nhà tâm lý học, kỹ năng học tập là khả năng của
con người thực hiện có kết quả các hành động học tập phù hợp với điều kiện và hoàn
cảnh nhất định, nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ đề ra.
Kỹ năng học tập có các đặc trưng: