Quá trình chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã hà tĩnh thời kì 1939 1945 - Pdf 32

A. Phần mở đầu:
1. Lý do chọn đề tài:
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trong những chiến công hiển
hách trong lịch sử 4.000 năm giữ nớc và dựng nớc của dân tộc ta. Nó cũng là
thắng lợi có tính thời đại sâu sắc của phong trào giải phóng dân tộc trên thế
giới từ sau cách mạng tháng 10 Nga vĩ đại. Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở
Việt Nam là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân triệt để ở nớc thuộc địa
do Đảng cộng sản lãnh đạo. Đó là thắng lợi của đờng lối dùng hình thức khởi
nghĩa: Từ khởi nghĩa từng phần ở từng địa phơng tiến lên tổng khởi nghĩa
trong cả nớc. Quá trình diễn biến của cách mạng tháng Tám từ khi chuẩn bị
cho đến khi bùng nổ là một quá trình diễn tiến rất phong phú, đa dạng. Nhờ đờng lối đó mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân các địa phơng khởi nghĩa giành
chính quyền thắng lợi. Tuy nhiên ở từng địa phơng trong cả nớc cuộc cách
mạng đó mang những nét độc đáo riêng biệt, tuỳ theo tình hình lịch sử cụ thể
và đặc điểm riêng của địa phơng mà Thị xã Hà Tĩnh là một điển hình tiêu biểu
về quá trình vận động và khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng
Tám. Trong lịch sử đấu tranh cách mạng và trực tiếp là:
Trong quá trình chuẩn bị và khởi nghĩa giành chính quyền thì Thị xã Hà
Tĩnh không phải là địa phơng có phong trào cách mạng diễn ra mạnh mẽ,
quyết liệt nh các địa phơng khác nhng Thị xã Hà Tĩnh là một trong những Thị
xã giành đợc chính quyền trớc tiên trong cả nớc và giữ đợc chính quyền đến
ngày toàn quốc giành đợc độc lập. Vậy qúa trình khởi nghĩa cũng nh đặc điểm
riêng của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Thị xã Hà Tĩnh diễn ra nh thế
nào ?
Việc đi sâu nghiên cứu phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Thị
xã Hà Tĩnh trong thời kỳ 1939-1945 không chỉ đa lại những đóng góp về mặt
lý luận khoa học, một lần nữa chứng minh cho sự lãnh đạo tài tình, đờng lối
cách mạng sáng tạo của Đảng ta mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Từ đó
giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện, đầy đủ hơn về diện mạo của cuộc cách
mạng tháng Tám trong cả nớc. Những thành tựu và bài học lịch sử quý giá rút
ra từ phong trào cách mạng ở Thị xã Hà Tĩnh trong giai đoạn lịch sử này
không chỉ có ý nghĩa cổ vũ cho phong trào cách mạng trong toàn tỉnh Hà Tĩnh

Viết về phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Hà Tĩnh
trong thời kỳ 1939-1945 cho đến nay đã đợc nhiều công trình lịch sử đề cập tới
với nhiều khía cạnh khác nhau. Đặc biệt phải kể đến những công trình lịch sử
nh:
- Thời kỳ cách mạng thángTám (1939-1945) Ban nghiên cứu lịch sử
Đảng uỷ Hà Tĩnh xuất bản 1966, công trình đã giành những trang nhất định
viết về lịch sử Thị xã Hà Tĩnh từ năm 1939 - 1945 (từ trang 41, 42 và 46, 47)
2


- Chuyện kháng chiến Hà Tĩnh- Tỉnh đội Hà Tĩnh xuất bản tháng 12
năm 1961 cũng giành những dòng miêu tả về cuộc khởi nghĩa giành chính
quyền ở Thị xã Hà Tĩnh ngày 18-8-1945.
Nh các địa phơng khác, Thị xã HàTĩnh cũng có những công trình lịch sử
có chất lợng nh: Lịch sử Đảng bộ Thị xã Hà Tĩnh (1930-2000) Ban Thờng
vụ Thị xã Hà Tĩnh tháng 11 năm 2000, đã đề cập tới cách mạng Thị xã Hà
Tĩnh giai đoạn 1939-1945 (từ trang 72 đến trang 92).
Ngoài ra còn có Hà Tĩnh - Thành Sen 160 năm do nhà xuất bản Thị uỷ
và Uỷ ban nhân dân Thị xã Hà Tĩnh- 1991. Cũng trình bày những sự kiện câu
chuyện về qúa khứ và đặc biệt những sự kiện ở Thị xã Hà Tĩnh thời kỳ (19391945) (từ trang 119 đến trang 122).
Ngoài những công trình nghiên cứu đó còn có những công trình nghiên
cứu nh. Một số hồi kí cách mạng Hà Tĩnh - Ban nghiên cứu lịch sử Đảng
Tỉnh uỷ Hà Tĩnh xuất bản 1965-1967. Lịch sử Nghệ Tĩnh tập I, Nhà xuất
bản Nghệ Tĩnh - Vinh - 1984. Rồi công trình nghiên cứu Nghệ Tĩnh xa và
nay cũng đã nghiên cứu về lịch sử Hà Tĩnh nói chung và lịch sử Thị xã Hà
Tĩnh nói riêng.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về cách mạng Thị xã Hà Tĩnh
thời kỳ (1939-1945) còn rất ít ỏi, nhng dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp
đã đề cập đến nhiều khía cạnh của đề tài do tôi lựa chọn.
Song cha có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, nhiều vấn

sâu vào nghiên cứu hơn nhằm rút ra những nhận xét, đánh giá xác đáng về quá
trình chuẩn bị lực lợng và khởi nghĩa giành chính quyền ở Thị xã Hà Tĩnh
trong thời kỳ 1939-1945. Đây chính là mục đích cuối cùng mà đề tài cần đạt
đến.

4. Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
a. Nguồn t liệu:
Để phục vụ nghiên cứu - biên soạn đề tài, chúng tôi su tầm tìm kiếm các
nguồn t liệu có liên quan tới phong trào cách mạng của nhân dân Thị xã Hà
Tĩnh trong thời kỳ 1939 - 1945.
Nguồn t liệu thứ nhất phải kể đến là các tài liệu đợc Ban nghiên cứu lịch
sử. Đảng uỷ tỉnh Hà Tĩnh tổ chức biên soạn nh :
- Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh tập I, 1930 - 1945.
- Thời kỳ cách mạng tháng Tám (1939 - 1945)
- Lịch sử Hà Tĩnh tập I
Tuy nhiên đây là đề tài lịch sử riêng về Thị xã Hà Tĩnh nên tôi chủ yếu
su tầm các t liệu do chính quyền địa phơng Thị xã Hà Tĩnh biên soạn có liên
quan trực tiếp hay gián tiếp đến đề tài nh:
- Lịch sử Đảng bộ Thị xã Hà Tĩnh (1930-2000)
- Hà Tĩnh - Thành Sen 160 năm.
- Chuyện kháng chiến Hà Tĩnh
- Một số hồi ký cách mạng Hà Tĩnh

4


- Lịch sử Đảng bộ huyện Thạch Hà Tập 1 (1930-1954) Nhà xuất bản
chính trị Quốc Gia 1997.
Các t liệu lịch sử dân tộc có tinh chất tham khảo hoặc liên quan ít nhiều
tới đề tài nh Văn kiện Đảng (1939-1945) BNCLS TW- 1963. Cách mạng


6


B. Phần nội dung
Chơng 1.

Phong trào cách mạng ở thị xã Hà Tĩnh trớc
khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ
1.1: Khái quát về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội và truyền
thống cách mạng:
1.1.1: Điều kiện tự nhiên:
* Vị trí địa lý: Thị xã Hà Tĩnh là mảnh đất gắn bó hữu cơ với Tỉnh Hà
Tĩnh, với Tổ quốc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.
Tính từ km 512, quốc lộ 1A, điểm quy định vị trí thị xã Hà Tĩnh trên
bản đồ, Hà Tĩnh cách Vinh 49km, cách Hà Nội 340 km về phía nam và cách
Huế 314 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1398 km về phía bắc.
Thị xã Hà Tĩnh ở vào quảng 18,3 độ vĩ bắc và 106 độ kinh đông
Từ năm1989, thị xã Hà Tĩnh đợc mở rộng, diện tích tự nhiên tăng lên tới
29,51ki lô mét vuông, bao gồm hai phờng nội thị Bắc Hà, Nam Hà và 6 xã Đại
Nài, Thạch Trung, Thạch Linh, Thạch Phú, Thạch Quý, Thạch Yên. Nh vậy,
địa bàn thị xã Hà Tĩnh hiện giờ là toàn bộ hoặc một phần đất của năm xã thuộc
hai tổng thợng nhất, thợng nhị, Phủ Thạch Hà trớc đây
[9; tr13]
Phía bắc và đông bắc thị xã là các xã Thạch Hạ ( thuộc Hà Hoàng cũ) và
Thạch Hng ( thuộc Trung tiết cũ), phía nam và tây nam là các xã Thạch Tân
( thuộc Đại Nài và phật não cũ) và Thạch Đài (Đông lỗ, Hoàng Cần cũ); phía
tây bắc, thị xã giáp với xã Thạch Thợng (Ngọc lụy, Ngọc Điền cũ) có sông Cày
làm giới hạn tự nhiên; phí đông nam giáp với xã Thạch Bình ( phật não cũ) và
xã Thạch Tợng ( Hoàng Hà cũ ) có sông Nài làm giới hạn tự nhiên.

Thọ, Hà Hoa của Nghệ An lập Tỉnh Hà Tĩnh. Tỉnh Hà Tĩnh có Tuần Vũ, Bố
Chính, án sát, Lĩnh binh cai quản, nhng là tỉnh nhỏ, phải đặt dới quyền của
tổng đốc An - Tĩnh. Tỉnh thành đợc đặt trên xã trung tiết huyện Thạch Hà. Sử
chép: ... Trớc kia, khi cha đặt tỉnh hạt, tổng đốc, Tuần Vũ cùng giám thành
chọn đợc chổ đất xã Trung tiết, huyện Thạch Hà, địa thế cao ráo rộng rãi,
đàng trớc có núi Cảm Sơn, lại có một dãi sông dài chảy quanh phía trớc, vòng
sang bên tả, trên nối với sông Nài Giang, dới chảy ra Cửa Sót. Đó là một khu
đất đẹp họ bèn xin đóng tỉnh thành ở đấy... [ 9 ; 33 ] Thành mở bốn cửa,
Tiền, Hậu, Tả, Hữu mỗi mặt dài 140 trợng
Thành đắp bằng đất, nhà cửa dinh thất trong thành hành cung, các dinh
Tuần phủ, Bố chính, án sát, Lĩnh binh và trại lính, nhà lao, trờng học Tỉnh đều
làm bằng gỗ lợp lá. Các đền, miếu ngoài thành đều làm bằng gỗ, lợp lá.
Tháng sáu năm Quý Sửu, tự Đức thứ 6 (1853) triều đình Nguyễn quyết
định bỏ tỉnh Hà Tĩnh, chuyển phủ Đức Thọ về về Nghệ An, lấy phủ Hà Thành
làm đạo Hà Tĩnh. Đạo Hà Tĩnh làm đơn vị hành chính thuộc tỉnh Nghệ An.
Đạo thành dời về thôn Nài - Thị xã Đại Nài
[9; 36]
Năm ất Hợi, Tự Đức thứ 28 (1875) Tỉnh Hà Tĩnh đợc lập lại nh cũ. Tỉnh
lỵ dời trở về thành cũ ở xã Trung tiết và đợc sửa sang lại.
Đến năm Nhâm Ngọ, Tự Đức thứ 34 (1884) Tỉnh thành mới đợc xây
bằng gạch và đá ong.

8


Tơng truyền, ở hào đạo thành Đại Nài và ao hồ vùng lân cận có rất nhiều
sen. Bổng sau một đêm ma to gió lớn, sen di c về ở cả hào thành Trung tiết.
Tỉnh thần cho đó là điềm lành bèn tâu xin dời tỉnh thành về lại Trung tiết.
Cũng do đó, ngôi thành này ngoài tên chính thức là Tỉnh Thành
(Thành Hà Tĩnh) còn có mỹ danh là Liên thành (Thành Sen)

Hà Tĩnh (Villede Ha Tinh ) lúc này dân số thị xã là 2.998 ngời, trong đó có 71
ngời Pháp, 37 ngời Hoa và một số ngời Nhật.
Cho đến năm 1942 thị xã Hà Tĩnh cũng chỉ là tỉnh lỵ nhỏ bé với diện
tích 247 ha và 4.400 dân
9


Ngoài 4 xóm ( Đông Quế, xã Tắc, Trung Hậu, Tiền Bạt) mới sát nhập
nội thị chia làm 8 khu phố: Tịnh Trung, Hoàn Thị, Tiền Môn, Tả môn, Hữu
Môn, Tân Giang, Nam Ngạn.
Từ lúc thành lập đến tháng 8 -1945, thị xã cha phải là một cấp hành
chính. Việc cai trị cho chính quyền cấp tỉnh trực tiếp đảm trách.
Sau cách mạng tháng tám ( 1945) Thị xã Hà Tĩnh đợc nâng lên thành
đơn vị hành chính ngang huyện, nhng diện tích cũng chỉ có 1,2km 2 và dân số
khoảng dới khoảng 5000 ngời
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội :
Sách Đại Nam thực lục từng viết về vùng tỉnh thành Hà Tĩnh Đó là
một khu đất hẹp, duy có nớc sông hơi mặn, đến đâu cũng phải đào giếng ở
đó... quả là nớc ngọt rất hiếm, hơn 4000 dân thị xã chỉ dùng nớc uống ở 5 cái
hồ đào lúc đắp thành. Đến năm 1915 mới có thêm mấy cái giếng xây gạch
khoảng 1923 - 1924 chính quyền tỉnh mới cho xây dựng đờng máng nớc dài 11
km dẫn nớc khe Xai ở núi Nhật Lệ, xã Xuân Dơng về cung cấp cho thị xã
150m3 mỗi ngày.
Đội quân Pháp đầu tiên đặt chân vào Tỉnh thành Hà Tĩnh tháng
12 -1886. Nhng hơn mời năm phải lo việc bình định nên mãi đến năm 1898,
ngời Pháp mới thật sự bắt tay xây dựng tỉnh lỵ thành một trung tâm Thành thị
đủ điều kiện phục vụ cho chính quyền thực dân.
Trong thời gian mới thành lập, tỉnh lỵ chỉ là các dinh thất, đồn trại trong
thành. Bên ngoài cũng có chợ búa ( chợ tỉnh ở trung tiết, chợ đạo ở Đại Nài) và
một số quán xá nhng chỉ là chợ, quán kiểu nông thôn.

sống. Các hiệu buôn cũng không lớn. Nguồn thu quan trọng là thuế ở chợ
Tỉnh. Chợ lập năm 1915 [1; 11].
Đến năm 1941-1942, số thuế lên đến 15.031 đồng ( ĐD) trong tổng số
thu dự kiến cho năm 1942 của tỉnh là: 122.700 đồng ( ĐD) và chiếm 1/3 tổng
số thuế các chợ trong tỉnh ( 44.900 đồng) (ĐD). Một tài liệu của công sứ Pháp
viết cái thị trấn nhỏ 4.400 dân này có vị trí tơng đối quan trọng nhờ hai yếu
tố cơ bản: Cái chợ và chính quyền [ 9; 65]
Ngoài các nghề truyền thống nh đan lát thủ công, thêu dệt, may mặc đợc
manh nha từ rất sớm và để lại đến nay, hiện tại thị xã còn có nhiều ngành nghề
khác nh nghề Mộc, sơn cửa, điêu khắc, gò hàn làm tăng thu nhập, ổn định đời
sống nhân dân và giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động.
Với địa hình phía bắc và phía nam đợc giới hạn bởi hai con sông Cày và
Sông Phủ, vùng đất trũng ít, lu lợng nớc từ trên cao đổ về từ dới biển dâng lên
đợc thoát ra từ hai con sông này và đợc che chắn bởi hệ thống đê bao nên vùng
trồng cây lơng thực của thị xã không bị ngập úng và nhiễm mặn. Tuy vậy độ
phì nhiêu màu mỡ của đất thấp, chủ yếu là đất thịt. Ngoài trồng lúa là chính,
vùng đất nông nghiệp thị xã còn thích hợp với các loại cây lơng thực khác nh ,
đậu, lạc, vừng, khoai.
Đất đai không phì nhiêu nhng do biết áp dụng kỹ thuật công nghệ vào
quá trình sản xuất nên hàng năm sản lợng lơng thực đều tăng. Đã xuất hiện
nhiều mô hình làm kinh tế VAC, nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả. Một số gia
đình thu nhập hàng năm từ 10 đến 20 triệu đồng, đời sống của nhân dân ngày
càng thay đổi

11


Di chỉ khảo cổ học rú Nài, xã Đại Nài thuộc văn hoá Bàu Tró chứng
minh rằng từ thời tiền sử, trong thời đại đá mới hậu kỳ vùng đất thị xã Hà
Tĩnh ngày nay đã có con ngời sinh sống.

Phần lớn dân c đến đây vào đời lê và đầu đời Nguyễn (Thế kỷ XVXIX). Họ là dân phiêu tán tìm đến sinh sống, dân buôn bán, dân thợ thủ công
đến làm ăn là những ngời làm quan, làm lính hoặc bị tội...đến dây rồi ở lại lập
nghiệp, mở ra những dòng họ mới, khai khẩn đất đai, lập nên làng xóm đông
đúc.
ở thị xã Hà Tĩnh có các cơ sở thờ tự thuộc tỉnh hạt đàn xã tắc, miếu Hội
đồng, Miếu Quan Thánh, (Võ Miếu) ở Trung tiết; Văn miếu ở Đông lỗ, Miếu
Tứ trung ở Đại Nài sau dời về Trung Tiết... đều xây dựng dới triều Nguyễn, từ
12


đời Minh Mệnh đến đời Tự Đức, nhà thờ đạo thiên chúa họ Tỉnh Giang thuộc
xứ Tỉnh Giang lập năm 1922. Còn các chùa Cô Lam, Phật học (trụ sở Hội Phật
học ) và nhà thờ đạo tin lành đều đợc xây dựng trớc sau năm 1940. Trong vùng
phụ cận ngày nay thuộc thị xã cũng có nhiều cơ sở đáng chú ý nh Chùa Cảm
Sơn ( Đại Nài), Miếu Tam Toà và Tô Đại Liêu, Miếu Diên Quận Công
(Trung tiết) Miếu Trung Quận Công (Đông Lỗ) các nhà thờ thiên chúa giáo họ
Vạn Hạnh (Xứ Vạn Hạnh) họ Giáp Hạ (Xứ Giáp Hạ ) Yên Định, Họ Văn Yên
(Xứ Tịnh Giang) đều thuộc giáo phận Văn Hạnh.
Tuy nhiên, dân thị xã nói chung không mấy mộ đạo, số ngời theo đạo
phật, đạo thiên chúa không nhiều hầu hết lại tin theo thần thánh, thờ cúng theo
lối cổ truyền
Dới các triều Lê, Nguyễn đây cha phải là đất có truyền thống học hành,
khoa cử. Trên đất Thạch Hà, xa có 26 vị Đại khoa (đời Lê: 16, đời Nguyễn :
10 ) thì ở đây không có ai cả, ngời đỗ thi hơng (Hơng cống, Sinh đồ Triều Lê:
cử nhân, tú tài triều Nguyễn) cũng chẳng có bao nhiêu.
Lúc mới lập tỉnh (1831) trờng hán học tỉnh đặt ở xã Trung Tiết (khi là
đạo thì trờng của đạo đặt ở Đại Nài) Văn Miếu Đông Lỗ là nơi mở các cuộc
bình văn hoặc khảo hạch chọn thí sinh đi thi hong trờng Nghệ. Nữa thế kỷ dới
chế độ thuộc địa, thị xã chỉ có một trờng tiểu học và một trờng sơ học nữ, cùng
vài trờng lớp t thục ( Tiểu học, sơ học).

Nhân dân xã Đại Nài còn kể: Một đội voi chiến của Tây Sơn và cả đội
quân tợng đã từng tập trung ở đây. Một số vị lão thành ở Phật não trớc đây lệnh
cho dân địa phơng đa thuyền bè chở quân sí Tây Sơn qua Sông Nài:
ở trung tiết trớc đây còn giữ đợc đạo bằng thời Quang Trung khen thởng dân xã đã đón tiếp chu đáo và cung ứng lơng thực cho quân sĩ qua đây.
Sau khi chiếm giữ Nghệ An, nhà Tây Sơn đặt một đồn quân ở Đại Nài,
nối liền hệ thống đồn trại với Hà Trung và Vĩnh Dinh.
Sử sách cũng chép về việc Trần Phơng Bính ở Ngọc Điền (Thạch Thợng)
anh em Nguyễn Tiến Lâm ở Hà Hoàng (Thạch Trung) tổ chức lực lợng chống
Tây Sơn, việc Dơng Bá Học 17 tuổi, gia nhập Nghĩa quân Tây Sơn năm Mậu
Thân (1788) và về các đô đốc Tây Sơn Dơng Văn Tào (Mỹ Duệ) Hồ Phi Chấn
(Trung Thuỷ)..vv
Nguyễn Tiến Lam và em là Tân, phục kích ma sát vua Tây Sơn Nguyễn
Nhạc ở vùng Cầu Họ bây giờ không thành chạy lên Hơng Sơn , sau bị đô đốc
Tào giết (9 ; 29)
Sau một thời gian dòm ngó và chuẩn bị, ngày 1/9/1858 thực dân Pháp
nổ súng xâm lợc nớc ta, triều đình Nguyễn dần dần thoả hiệp đầu hàng giặc
nhng văn thân sĩ phu Hà Tĩnh cùng với nhân dân cả nớc ngày từ đầu đã đứng
lên chống lại kẻ thù. Ngay khi thực dân Pháp đánh thành Hà Nội năm 1874
triều đình Huế ký Thoả ớc Giáp Tuất (1874) nhờng hẳn sáu tỉnh Nam kỳ cho
Pháp, châm ngòi cho kho thuốc súng nổ bùng
Trần Tấn (Tú Tấn ) Đặng Nh Mai (Tú Mai) ở Nghệ An Nguyễn Huy
Điển ( Tú Khanh hay Mệ Điền) Trần Quang Cán (Đội Lựu) Nguyễn Tiến Đớc,
Cù Biểu (Lân Biểu) ở Hà Tĩnh, Trơng Quang Thủ (Đội thụ ) ở Quảng Bình
phối hợp khởi nghĩa ba tỉnh dới khẩu hiệu Đánh cả tây lẫn triều. Nghĩa quân
dùng cơ hiệu màu vàng nên thờng gọi là quân cờ vàng ( 1 ;20)
Từ vùng Sông Con, Quân cơ vàng ra chiếm Phố Châu huyện lỵ Hơng
Sơn, xuống đánh huyện lỵ Đức Thọ rồi kéo thẳng vào hạ đạo thành Hà Tĩnh ở
Đại Nài. Khâm Phái Đình Văn Khoa và phó lĩnh binh Lê Văn Nhất đều chết
tại trận. Thị Đạo Mạnh Tuyên bị bắt cũng cắt lỡi tự tử. Triều đình Huế vội vã
14

sai, đồng thời cũng khích lệ mạnh mẽ tinh thần yêu nớc của dân chúng.
Cuộc khởi nghĩa của Lê Ninh, ngòi nổ đầu tiên của phong trào chống
Pháp ở Nghệ Tĩnh, không những chỉ giữ một vị trí xứng đáng trong phong trào
chống Pháp xâm lợc của địa phơng mà còn của chung cả nớc (16 ; 235).
Cùng với phong trào chung trong hai tỉnh Nghệ Tĩnh các đội cần vơng ở
Thạch Hà sát Tỉnh thành cũng nổi lên rầm rộ, do các nhà khoa bảng (nh phó
bảng Bùi Thố ở Phong Phú, cử nhân Nguyễn Cao Đôn ở phất não) hoặc các võ
quan, phú hào ( nh đội cu- Nguyễn Tất Cu, Đề Quynh- Trần Danh Lập đều ở
Hoàng Hà, Bá hộ Nguyễn Huy Thuận ở Xuân Dơng...) chỉ huy các đội quân
này về sau thống thuộc vào thạch thứ, một trong 15 quân thứ.. của nghĩa quân
Cần Vơng do Phan Đình Phùng, Cao Thắng lãnh đạo.

15


Ngay sau khi quân Pháp chiếm Tỉnh thành Hà Tĩnh (2-1886) các toán
nghĩa quân nhỏ bé đã bám sát đánh lại chúng quyết liệt. Mở đầu là trận đánh
ở chợ Cồ Yên Nhiệm. Trận chiều hôm trớc nghĩa quân thua to, chủ tớng Bùi
Thố hy sinh. Sáng sớm hôm sau, nghĩa quân do Đội Cu và Đội Long (Con trai
Bùi Thố) chỉ huy đã xông vào tiêu diệt địch, cớp lại thi hài Bùi Thố làm cho
địch khiếp đảm ( 1 ; 21)
Từ đó nghĩa quân liên tục hoạt động ở Đại Tiết, Đại Nài... đánh nhiều
trận lớn ở Truông Bát, Đức Lâm, Hơng Bộc. Tháng 8 năm 1892, giám binh
Lam - Be (Lambert) dốc toàn lực mở trận càn lớn lên chiến khu Vũ Quang
(Hơng Khê) thì nghĩa quân Thạch Thứ lại một lần nữa đánh chiếm Tỉnh Thành,
phá nhà lao, giải thoát cho 70 nghĩa binh, rồi rút lui an toàn. Lam Be buộc
phải bỏ dỡ trận càn đa quân về giữ tỉnh lỵ. Đây là trận đánh chiếm tỉnh thành
lần thứ hai (trớc là trận đánh của ấm Ninh 1885) và là trận đánh lớn cuối cùng
của quân Thạch Thứ.
Năm 1895, sau mời năm khởi nghĩa Cần Vơng, Phan Đình Phùng mất,

Mạnh mẽ nhất là các cuộc chống thuế (xin su) và vận động binh biến
(1908 -1909) do các yếu nhân của Hội Duy Tân tổ chức, cầm đầu cuộc xin su) là Nguyễn Hàng Chi (Quê làng Đông thợng Can Lộc) và Trịnh Khắc Lập
(quê làng Đông hội Nghi Xuân ) sau chuyến đi Nam - Ngãi (1907) chịu ảnh hởng của phong trào Xin su ở đây và đợc các hội viên hội Duy Tân nh Phạm
Văn Thân ủng hộ, cổ vũ Nguyễn Hàng Chi đã phát lời kêu gọi, tổ chức dân
chúng và cả nhiều Lý Hào nhiệt liệt hởng ứng.
Vào cuối tháng 5 -1908, Nguyễn Hàng Chi cùng Trần Ty, Phan Hiệp,
Nguyễn Lơng Nhân... dẫn 600 ngời nón cời tơi rách kéo lên vây huyện lỵ Can
Lộc. Tri huyện bỏ trốn. Đoàn ngời kéo thẳng vào Tỉnh lỵ ( 1 ; 22). Vừa tới nơi
thì đoàn xin su đã bị toán quân của viên trung uý Pháp Gaya chặn lại, khủng
bố, bị đánh đạp dã man, dân chúng vẫn ào lên hò hét, đòi yêu sách. Nhng cuối
cùng đoàn ngời bị giải tán. Nguyễn Hàng Chi và những ngời cầm đầu đều bị
bắt.
ở Nghi Xuân, Trịnh Khắp Lập cũng kéo lên vây huyện bắt tri huyện đa
về tỉnh xin su nhng giữa đờng bị viên đội tây Ba - buýt lừa về huyện hứa sẽ
nhận yêu sách, rồi bắt giam. Các đoàn xin su của Cẩm Xuyên, Hơng Khê do
cử nhân Võ Phơng Trứ và Tú tài Nguyễn Duy Phơng cầm đầu trên đờng kéo về
tỉnh đợc tin đoàn Can Lộc bị giải tán bèn rút lui. Những ngời lãnh đạo cuộc
xin su bị an sát Cao Ngọc Lễ dùng mọi cực hình tra tấn Cái quần lụa trắng
của Nguyễn Hàng Chi mặc đã nhuộn máu mất hai phần mà ông vẫn cha nhận.
Song sau đó, ông lại nhận tất cả trách nhiệm về mình và không khai báo cho ai
khác...
Công sứ Pháp dựa vào Cao Ngọc Lệ đã kết án tử hình Trịnh Khắc Lập,
Nguyễn Hàng Chi, Trịnh Khắc Lập bị đa về chém ở chợ Giang Đình, Nghi
Xuân, Nguyễn Hàng Chi thì bị hành quyết sau thành Hà Tĩnh.
Cuộc xin su ở Hà Tĩnh (và Nghệ An) nằm trong chuỗi sự kiện của
phong trào chống thuế ở trung kỳ năm 1908 đã gay một tiếng vang lớn và d âm
của nó còn kéo dài mãi về sau.
Cuộc xin su là màn bên ngoài đúng hơn là cuộc phối hợp hành động
chính trị với một kế hoạch tấn công vũ trang, đánh chiếm tỉnh thành Nghệ An
và Hà Tĩnh do Hội Duy Tân tổ chức, lãnh đạo. Nhng do tình hình không thuận

giành lại nền độc lập cho dân tộc nhận thấy rằng dù hoàn cảnh khó khăn ,
ngọn lửa yêu nớc chống xâm lợc vẫn âm ỷ cháy và kẻ thù không thể nào dập
tắt đợc ngọn lửa ấy bằng súng đạn.
Những hoạt động đó là tiếng súng báo hiệu nhiều loạt súng cùng nổ
mạnh mẽ hơn, quyếta liệt hơn trong thời gian sau.
Tinh thần yêu nớc của các vị tiền bối đã để lại một di sản thiêng liêng
cho các thế hệ con cháu hà Tĩnh nói chung và Thị xã Hà Tĩnh nói riêng nối
tiếp, kế tục truyền thống vẻ vang đó, các tầng lớp thanh niên, trí thức ở thị xã
sau này nối tiếp cho ông tiến bớc trên con đờng cứu nớc mới thích hợp với dân
tộc và thời đại.
Năm 1925 - 1926, luồng gió cách mạng mới thổi vào hà Tĩnh, các đồng
chí Nguyễn Sỹ Sách, Nguyễn Trí Từ, Hoàng Đức Phi, Lê Bá Cảnh, Nguyễn
Hữu Lung là những thanh niên yêu nớc tiêu biểu của Hà Tĩnh sớm tiếp thu t tởng cách mạng vô sản .
18


Từ sự tiếp thu cùng với một số đồng chí ở tỉnh ngoài về hoạt động ở Hà
Tĩnh đã sớm đa đến sự ra ddời của các tổ chức cách mạng tiền thân của đảng.
Ngày 14-7-1925 Hội phục việt đợc thành lập ở Vinh - Bến Thuỷ. Hội
này sau đổi thành Hng Nam (1926) Việt Nam cách mạng Đảng ( 7-1926) rồi
Tân việt Cách mạng đảng gọi tắt là Tân Việt (7-1928). Tổ chức cách mạng này
đã lôi kéo đợc khá đông ngời trong viên chức, giáo viên, học sinh và nhiều trí
thức cựu học, ở huyện Thạch Hà hay quanh tỉnh lỵ, cũng đã thành lập đợc một
đội tổ gồm 54 hội ( Đảng viên) ( 1;
25).
Năm 1924, thầy giáo trẻ Nguyễn Sỹ Sách. Quê làng Tú Viên, huyện Yên
Thành ( Nghệ An), đợc bổ về dạy ở trờng tiểu học Pháp - Việt (Hà Tĩnh). Giữa
năm 1925 ông tham gia hội Phục Việt và đợc giao trách nhiệm xây dựng cơ sở
yêu nớc ở thị xã Hà Tĩnh. Trờng tiểu học đợc chọn làm vờn ơm đầu tiên, t tởng
yêu nớc chống Pháp đợc truyền bá trong giáo viên, học sinh và nhóm hội viên

trị Pháp lần đầu tiên đợc thiết lập một cách lâu dài. Tháng 10 -1897 viên công
sứ Pháp đầu tiên là Đuy Mát (Dumacle) đến Hà Tĩnh mở đầu thời kỳ cai trị
bằng chính quyền dân sự Pháp song song và trùm lên chính quyền bù nhìn
Nam triều, qua từng bớc phát triển, đến trớc 9/3/1945 bộ máy chính quyền cấp
tỉnh đã hoàn chỉnh. Vua tôi nhà Nguyễn chỉ hoàn toàn chỉ là bù nhìn, quyền
hành thực tế đều nằm trong tay viên khâm sứ Pháp.
Dới chế độ phong kiến thực dân đời sống của nhân dân nhất là dân
nghèo thành thị hết sức khổ cực. Để bình định và khai thác nớc ta thực dân
Pháp càng tăng cờng đàn áp và bóc lột bằng su thuế, phu phen, tạp dịch, tô tức
hết sức nặng nề. Đàn ông từ 18 tuổi trở lên phải nộp thuế thân, năm 1898 mỗi
ngời nộp 0,3 đồng, đến năm 1927 nộp 3,2 đồng, năm 1928 tăng lên 3,5 tỷ
đồng (tơng đơng với 150 kg thóc) nếu ai không có nạp hoặc chậm đều bị phạt
nặng. Ngày 20 - 10 - 1929 toàn quyền Đông Dơng còn ra quyết định tăng thuế
thân ở Hà Tĩnh lên 14%. Năm 1915 chúng thu 147.709 đồng, năm 1925 lên
đến 326.568 đồng. Đó là cha kể các khoản khống thu, phù thu, lạm bổ do bọn
nha lại và hào lý đặt ra ngày càng đè nặng lên đầu, lên cổ ngời dân lao động.
{1;
28 }
Thời thuộc Pháp, Hà Tĩnh không có một cơ sở công nghiệp nào. T bản
Pháp chỉ chú ý đến khai thác lâm thổ sản ở hai huyện Hơng Sơn, Hơng Khê
đem về chế biến ở Vinh. Chúng chỉ lập các văn phòng đại diện của các Công
ty t bản đặt ở Vinh (Nghệ An) với tay bóc lột nhân dân Hà Tĩnh. Thị xã Hà
Tĩnh chỉ là một trung tâm hành chính với các cơ quan cai trị của chính quyền.
Thực dân và phong kiến Nam triều, một số hiệu buôn, hiện nay, hiệu cắt tóc.
Sở lục lộ có một máy phát điện nhỏ chỉ đủ cung cấp điện thắp sáng cho vài cơ
quan đầu não, còn lại ban đêm đợc thắp sáng bằng đèn dầu hoả. Dân các xã
Thạch Kim, Thạch Đỉnh cách Thị xã chừng 7 - 10 km gánh nớc ngọt đến cho
các công sở và đợc trả công với giá rẻ mạt. Mỗi ngày mỗi nhà đợc mua 3 - 5
gánh nớc, giá mỗi gánh ba đồng tiền ăn mời (gần nửa xu). Mãi đến 1941, Thị
xã Hà Tĩnh mới có một nhà máy điện t nhân của Nguyễn Thành Thống công

tự dạy, tự học.
Ngời dân Thị xã khi khó khăn đã biết lấy thực tế xã hội làm trờng học tự
rèn luyện, lấy lòng tự hào và truyền thống yêu nớc chống giặc của dân tộc và
quê hơng để khích lệ động viên vơn lên phấn đấu đi đến mục tiêu. Giải phóng
dân tộc và quê hơng khỏi ách nô dịch của thực dân.
Đi đôi với chính sách ngu dân, bọn thực dân cũng ra sức duy trì những
thủ tục do chế độ cũ để lại, nh đình đám, hội hè, bói toán... vì các tệ nạn xã hội
đó có lợi cho chúng trong việc bòn rút, bóc lột thêm của cải đồng thời trói
buộc nhân dân trong vòng ngu dốt để dễ bề cai trị. Thâm độc hơn là ngày 20
tháng 12 năm 1902 toàn quyền Đông Dơng ra Nghị định cho Công ty Bắc kỳ
và miền Bắc Trung kỳ độc quyền kinh doanh về rợu, muối, thuốc phiện từ Hà
Tĩnh trở ra, chúng lập hãng phân phối rợu phông ten ở Thị xã Hà Tĩnh (ngay
cầu Sở rợu bây giờ) và hàng chục đại lý bán rợu trong tỉnh; giữ độc quyền về
nấu và bán rợu, buộc từng hàng, từng phố phải tiêu thụ hết số rợu cho chúng
phân phối theo đầu ngời { 1 ; 30}
Mặt khác tuyên truyền lối ăn chơi trác táng, trụy lạc và đa nhân dân Thị
xã vào con đờng h hỏng, lãng quên đấu tranh giải phóng dân tộc.
Chính sách khai thác độc quyền về kinh tế, chuyênchế về chính trị, đầu
độc về văn hóa của thực dân Pháp đã làm thay đổi cơ cấu giai cấp ở Thị xã Hà
Tĩnh.

21


Giai cấp địa chủ ở Thị xã không đáng kể, số ruộng đất cũng không
nhiều song sự cai trị của chúng không vì thế mà kém phần hà khắc. Tầng lớp
phú nông, địa chủ công thơng, địa chủ thờng không có thế lực, tuy mâu thuẩn
với nông dân nhng vì bị thực dân Pháp và chính quyền phong kiến tay sai chèn
ép nên căm ghét đế quốc phong kiến. Bộ phận quan lại nhỏ trong bộ máy
chính quyền cũng bị phân hoá, một số nghiêng về cách mạng, không ít ngời

tỉnh nhà từ khuynh hớng Cần vơng sang khuynh hớng dân chủ t sản, từ chỗ lực
lợng tham gia chủ yếu là văn thân, sỹ phu lan sang nhiều tầng lớp khác; thế
nhng do tính chất của phong trào, do thực lực cha đủ mạnh, mặt khác lại bị
thực dân Pháp và chính quyền tay sai tập trung đàn áp nên cuối cùng bị thất
22


bại. Song, mọi hoạt động của quần chúng không vì thế mà lắng xuống. Liên
tiếp từ năm 1911 đến năm 1930 phong trào yêu nớc ở Thị xã Hà Tĩnh nói riêng
và cả tỉnh nói chung diễn ra ngày càng sôi nổi. { 1 ; 33}
Là trung tâm đô thị các tầng lớp nhân dân Thị xã, nhất là trí thức đã biết
kế thừa và phát huy truyền thống yêu nớc từ bao đời nay với việc tiếp thu
những cái mới mẽ, tốt đẹp, quyết không cam chịu kiếp sống tôi đòi đã hình
thành các nhóm yêu nớc hoạt động bí mật, nửa công khai trong suốt một thời
gian dài, đó chính là tiền đề thuận lợi để chủ nghĩa Mác -Lênin bám rễ và phát
triển vững chắc, sản sinh ra biết bao chiến sỹ cách mạng kiên trung sau này.
1.2.2: Chi bộ đảng cộng sản việt nam Thị xã Hà Tĩnh ra đời và lãnh
đạo phong trào 1930-1939:
Cùng với sự phát triển của phong trào yêu nớc và dân chủ theo khuynh
hớng t sản và tiểu t sản, phong trào công nhân chống lại chế độ bóc lột của bọn
chủ thực dân lần lợt diễn ra với nhiều hình thức khác nhau. Song cha có một tổ
chức cách mạng với đờng lối đúng đắn, cơng lĩnh rõ ràng lãnh đạo nên các
phong trào đều thất bại. Giữa lúc đờng lối cứu nớc đang khủng hoảng bế tắc
thì năm 1920 tại Đại hội Đảng xã hội Pháp họp ở Tua (Tours) Nguyễn ái Quốc
(tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) đứng về phía đa số của đại hội bỏ phiếu tán thành
việc gia nhập Quốc tế cộng sản và thành lập Đảng cộng sản Pháp. Sự kiện đó
đánh dấu bớc ngoặt trong cuộc đời hoạt động của Ngời và mở đờng thắng lợi
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt nam sau này. Dới sự lãnh đạo trực tiếp
của Ngời, các tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội đợc thành
lập ở Quảng Châu (Trung Quốc) tiếp đó tháng 7 năm 1925 Hội Phục Việt (về

Cảnh đợc cử làm Bí th. Chi bộ đề ra nhiệm vụ: Tuyên truyền tôn chỉ, mục đích
của Đảng cộng sản Việt Nam sâu rộng trong quần chúng, công nhân, nông
dân, học sinh. Tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh, qua đó tuyển chọn
những ngời u tú kết nạp vào Đảng. Tăng cờng giáo dục đảng viên về phơng
pháp công tác cách mạng, giữ mối liên hệ chặt chẽ với các Đảng bộ trong toàn
tỉnh.
Sự ra đời Đảng cộng sản Việt Nam và việc thành lập Chi bộ Đảng Thị xã
Hà Tĩnh tạo nên dấu ấn không mờ phai trong tiến trình lịch sử phong trào yêu
nớc và cách mạng của nhân dân Thị xã. Từ đây, dới sự lãnh đạo trực tiếp của
Chi bộ, phong trào cách mạng của nhân dân Thị xã phát triển mạnh mẽ và có
bớc tiến mới về chất.
Từ ngày Đảng ra đời, phong trào cách mạng đấu tranh chống áp bức,
bóc lột, đòi quyền lợi về kinh tế, chính trị trong công nhân nông dân, học sinh
và các tầng lớp khác dấy lên trong cả nớc. Hoà trong khí thế đó phong trào
cách mạng ở Hà Tĩnh phát triển ngày càng sâu rộng.
Để tăng cờng sức chiến đấu, sau khi đợc cũng cố, các tổ chức quần
chúng đợc xây dựng, dới sự chỉ đạo trực tiếp của tỉnh uỷ lâm thời Hà Tĩnh,
Đảng bộ Thị xã Hà Tĩnh đã lãnh đạo nhân dân phát động cao trào cách mạng
30-31 quyết liệt trong toàn Thị.
Đợc sự cổ vũ của cuộc đấu tranh của công nhân Phú Riềng, hởng ứng
chủ trơng của Tỉnh uỷ, nhân dân Thị xã tham gia kỷ niệm ngày quốc tế lao
động 1-5, nhân dân đã treo cờ đỏ, rải truyền đơn, mít tinh diễn thuyết tạo thành
khối liên minh công nông đoàn kết đấu tranh chống lại sự hà khắc, những bất
công mà bọn đế quốc gây ra. Những hành động đó là cuộc dập dợt có tổ chức
đầu tiên dới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng.
Sau ngày 1-5-1930 các cấp bộ Đảng tiếp tục đẩy mạnh việc sử dụng
hình thức cổ động, tuyên truyền để khơi dậy tinh thần cách mạng.
Từ tháng 7 đến đầu tháng 8 các phong trào đấu tranh chống lối dạy học
nhồi sọ t tởng văn minh mẫu quốc chống chế độ hà khắc của nhà tù không
24

xã Hà Tĩnh. Điều kiện hoạt động đang khó khăn, phong trào cách mạng thu
hẹp dần, Đảng bộ bị tổn thất nghiêm trọng, đến cuối tháng 9 năm 1931 cơ sở
hoạt động cách mạng bị địch phá vở, phong trào tạm thời lắng xuống. Đến đầu
năm 1932 nhìn chung phong trào cách mạng đã đi vào thoái trào.
Phong trào cách mạng năm 1930 - 1931 ở Thị xã Hà Tĩnh là sự kết hợp
chặt chẽ giữa hình thức bạo lực cách mạng với hình thức đấu tranh chính trị,
trong đó hình thức đấu tranh chính trị là chủ yếu, thể hiện mối liên kết gắn bó
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status