Phương thức biểu hiện hành vi từ chối lời thỉnh cầu khiến trong truyện ngắn nguyễn thị thu huệ - Pdf 32

Bộ giáo dục & đào tạo
trờng Đại học Vinh
---------------------

Nguyễn Thị Hơng Giang

Phơng thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến
trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

Luận văn thạc sĩ ngữ văn

Vinh- 2006

mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Giao tiếp là một nhu cầu, là hoạt động không thể thiếu của mỗi thành
viên trong xã hội. Không ai có thể sống mà không quan hệ, không cần giao
tiếp với ngời khác. Qua giao tiếp, con ngời thông tin cho nhau những nhận
thức, t tởng, tình cảm, bộc lộ thái độ đối với nhau và đối với nội dung đợc
truyền đạt. Để giao tiếp, con ngời có thể dùng nhiều phơng tiện, nhng ngôn
ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất. Tuỳ theo từng hoàn cảnh mà mục
đích của hoạt động giao tiếp có thể khác nhau.

1


Trong giao tiếp hàng ngày,từ chối là một hành vi hết sức quen thuộc và
thông dụng, trớc một lời đề nghị ta có thể từ chối hay chấp nhận tuỳ vào ngữ
cảnh, mối quan hệ, tâm trạng,và ta có thể từ chối hay chấp nhận lời đề nghị
với nhiều cách khác nhau. Trong phạm vi của luận văn này chúng tôi chỉ tiến
hành tìm hiểu phơng thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến trong truyện

5. Phơng pháp nghiên cứu
Phơng pháp nghiên cứu chúng tôi sử dụng chủ yếu ở đây là phơng pháp
phân tích hội thoại để tìm ra những nét nghĩa tơng đồng và ổn định nhất, phân
loại và miêu tả các phơng thức và phơng tiện biểu hiện hành vi từ chối lời cầu
khiến trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.
Tiến hành so sánh, đối chiếu các hành vi từ chối của các nhân vật
nam và nữ để tìm ra những đặc điểm chung và riêng trong nghệ thuật từ
chối của họ.
6. Đóng góp của luận văn
Những nghiên cứu về tác giả tác phẩm về Nguyễn Thị Thu Huệ từ trớc
tới nay chỉ tập trung vào lĩnh vực văn chơng.Vì thế , có thể nói đây là công
trình đầu tiên tìm hiểu về hành vi từ chối lời cầu khiến trong văn của chị để từ
đó có một cái nhìn khái quát và sâu sắc hơn về phơng thức từ chối lời cầu
khiến của ngời Việt. Góp phần Nghiên cứu ngôn ngữ tác giả tác phẩm một
lĩnh vực còn ít đợc giới nghiên cứu quan tâm đến .
7. T liệu khảo sát
Trong phạm vi của luận văn chúng tôi khảo sát dựa vào hai tập truyện:
21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ , Nxb Hội nhà văn 2001.
37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ , Nxb văn học 2006.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, t liệu khảo sát, phần
nội dung gồm 3 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý thuyết
Chơng 2: Phơng thức biểu hiện hành vi từ chối trực tiếp trong truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.
Chơng 3: Phơng thức biểu hiện hành vi từ chối gián tiếp trong truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.
Tài liệu tham khảo.
T liệu khảo sát.


thoại. Hội thoại cũng có thể có ba bên hoặc nhiều hơn. Tuy nhiên hội thoại
gồm hai bên là quan trọng nhất. Trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi chỉ
đế cập đến hội thoại hai bên mà theo cách gọi của Wardhaugh là một hoạt
động mang tính điều chỉnh. Hoạt động này kéo theo một thoả hiệp giữa lợi ích
chung và quyền lợi cá nhân. Những ngời tham gia hộithoại buộc phải tuân
theo hoạt động này. Nếu bạn là một trong hai ngời tham gia hội thoại mà
không cung cấp lời đáp, thông tin phản hồi hoặc không bày tỏ thái độ khuyến
khích, động viên,... thì bạn sẽ nhận lại đợc sự đáp lại miễn cỡng. Ngời tham
gia cuộc thoại phải chuẩn bị thật tốt những gì cần thiết để đổi lại điều mà
mình mong muốn nhận đợc. Có nghĩa là bạn biểu lộ sự nhiệt tình đối tác bao
nhiêu thì bạn sẽ nhận đợc sự nhiệt tình tơng ứng. Nhng đôi khi cuộc thoại sẽ

4


trở nên khó chịu bởi ngời tham gia hội thoại cảm thấy mình không nhận đợc
gì khi anh ta cố gắng duy trì và làm tất cả cho cuộc thoại đạt kết quả tốt đẹp.
Khi ấy cuộc thoại với anh ta là một sự lãng phí thời gian, vô ích, khó chịu, bực
mình và nhiều điều tơng tự.
Có rất nhiều yếu tố liên quan đến hội thoại. Theo Đỗ Hữu Châu (2001),
các cuộc thoại có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh nh: thời gian, không gian,
nơi chốn, số lợng ngời tham gia, về cơng vị t cách của ngời tham gia cuộc
thoại, về tính chất cuộc thoại, về vị thế giao tiếp, về tính có đích hay không có
đích, tính hình thức hay không hình thức, về ngữ điệu hay động tác kèm lời,...
Những yếu tố này không tách rời nhau mà liên kết nhau, tạo thành một khối
thống nhất hữu quan trong hội thoại, chi phối và điều hoà cuộc thoại để đạt
đến đích cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định.
1.1.1.2. Các quy tắc hội thoại
Hội thoại diễn ra theo những quy tắc nhất định. Cái bị chi phối bởi quy
tắc của hội thoại có thể là những nghi thức của hội thoại. Bàn về quy tắc của

hành vi ngôn ngữ xuất hiện có thể đợc tiếp nhận tích cực hoặc tiếp nhận tiêu
cực, chấp nhận hoặc từ chối. Tất nhiên ngời tham gia hội thoại cũng có thể lờ
đi mà không có một biểu hiện ngôn ngữ nào. Với những hành vi ngôn ngữ đòi
hỏi thông tin phản hồi, Wardhaugh cho rằng, ngời tham thoại có quyền lựa
chọn cách thức hồi đáp khác nhau: hoặc tuân theo, hoặc từ chối, hoặc đơn giản
là lờ đi những gì ngời ta nói với mình. Nhng dù tuân theo hành vi dẫn nhập từ
chối hay lờ đi, ngời tham thoại vẫn phải có chiến lợc giao tiếp và phơng tiện
biểu đạt trong hành vi hồi đáp của mình. Một số khuôn mẫu về hình thức biểu
hiện các hành vi này đã đợc định sẵn cho ngời tham gia hội thoại lựa chọn.
Nhng, trong hội thoại, sự liên kết các hành vi tại lời chỉ có giá trị trên bề mặt
phát ngôn. Sự liên kết các hiệu lực tại lời của hành vi ngôn ngữ mới có giá trị
đích thực. Có nhiều hình thức biểu đạt ngôn ngữ cũng đem lại một hiệu lực tại
lời là rất quan trọng. Điều này quyết định hiệu quả trong giao tiếp. Ví dụ:
Mẹ: Chiều nay con đi học về nấu cơm cho em ăn trớc con nhé.
Con: TC1: Con không nấu đợc đâu. Chiều nay con phải hoàn thành đồ
án rồi. (TCTT).
TC2: Thôi mà, mẹ. Chiều nay con phải hoàn thành đồ án rồi (TCTT nhng có phần giảm thiểu độ dứt khoát).
TC3: Mẹ giúp con với, chiều nay con phải hoàn thành đồ án rồi (TCGT
bằng đề nghị trở lại).
TC4: Hay mua cái gì ăn tạm, mẹ ạ. Chiều nay con phải hoàn thành đồ
án rồi (TCGT bằng hình thức đa ra một phơng án giải quyết mới)
Trong thực tế, mỗi ngời chúng ta phải lựa chọn một cách nói nào đó
đem lại hiệu quả giao tiếp cao nhất chứ không chỉ yêu cầu bằng một mệnh
lệnh hoặc từ chối thẳng thừng. Nghi thức, thói quen, phong tục, tập quán,...

6


làm thành quy ớc xã hội mà mỗi cá nhân đều tuân theo. Những quy ớc này giữ
gìn và tạo độ cân bằng trong cuộc thoại. Đem lại hiệu quả trong giao tiếp.

hội, giới tính, tuổi tác, Những yếu tố khách quan này tạo vị thế khác nhau

7


tuỳ theo quan niệm truyền thống văn hoá của mỗi cộng đồng ngời. Có nhiều
dấu hiệu thể hiện quan hệ bằng vị thế, nh dấu hiệu bằng lời, bằng cử chỉ điệu
bộ,... Hầu nh mọi yếu tố trong hội thoại đều thể hiện quan hệ vị thế. Những
dấu hiệu bằng lời tơng tự nh ở quan hệ ngang, hệ thống từ xng hô, hệ thống
đại từ nghi thức xng hô, đều thể hiện quan hệ vị thế. Và điều này cũng rất
khác nhau ở từng cộng đồng ngôn ngữ - văn hoá. Cách tổ chức các lợt lời về
phơng diên số lợng và chất lợng, cách tổ chức cuộc thoại (ai mở thoại, ai hồi
đáp hay kết thúc.), các hành vi ngôn ngữ và hành vi hội thoại cũng nh sự thể
hiện phép lịch sự, những từ tình thái từ đi kèm hành vi ngôn ngữ đều thể hiện
quan hệ vị thế. Những vị thế này đã đợc ngôn ngữ hoá thành từ ngữ và cấu
trúc ngôn ngữ.
Ngoài đặc điểm trên, dấu hiệu cử chỉ và dấu hiệu kèm lời trong giao
tiếp cũng phản ánh quan hệ vị thế nh: t thế, âm lực và âm lợng, không gian
giao tiếp, hình thức trang phục, Những ngời tham gia giao tiếp cần hiểu và
nắm bắt những quan niệm về vị thế quan hệ giữa các dân tộc, giữa các nền văn
hoá để tránh những hành vi ứng xử không đáng có. Trong quá trình hội thoại,
các nhân vật luôn tác động qua lại lẫn nhau, nắm bắt thông tin từ mỗi bên giao
tiếp để có những điều chỉnh kịp thời, phù hợp với đích của cuộc thoại và mang
lại hiệu quả giao tiếp thích hợp.
Liên quan đến mối quan hệ giữa những ngời tham thoại, không thể
không nhắc đến quan hệ quyền lực (Power) và quan hệ hoà đồng (Solidarity)
mà thực chất là quan hệ học và quan hệ ngang theo quan niệm của Brown và
Levinson. Theo Tanen, quan hệ quyền lực là quan hệ hoà đồng là vấn đề cơ
bản của hội thoại. Quyền lực và hoà đồng có ảnh hởng nhiều đến lời nói trong
hội thoại, đặc biệt với hành vi từ chối. Quyền lực gắn liền với cách sử dụng từ

khác nhau quy ớc những nghi thức giao tiếp khác nhau. Nói khác đi nguyên
tắc cộng tác thay đổi theo chiều sâu văn hoá của từng cộng đồng ngôn ngữ.
Khi bắt đầu nói chuyện phần lớn những ngời tham thoại đều cho rằng họ đảm
nhận nhiệm vụ chung từ cuộc thoại. Bởi vậy nếu họ không muốn tiếp tục cuộc
thoại, họ sẽ phải tìm cách thực hiện điều đó một cách lịch thiệp. Kết thúc cuộc
thoại là một vấn đề nhạy cảm. Một ngời tham gia hội thoại không thể bị ngời
khác tuỳ tiện áp đặt cắt đứt cuộc thoại mà phải đợc thơng lợng bằng những
hình thức khác nhau, ít nhất là lời xin lỗi. Thái độ trong giao tiếp chỉ ra tinh
thần của ngời tham thoại. Thái độ cộng tác cũng chính là thái độ chia sẻ. Một
ngời không thể độc quyền chiếm giữ cuộc thoại phải cho và tạo cơ hội để ngời
kia cùng tham gia cuộc thoại với mình, thậm chí cả khi ngời kia từ chối cơ hội
đó. Liên tục ngắt lời ngời đối thoại là một cách phủ nhận quyền đợc nói của
anh ta.

9


Những ngời trọng cộng tác trong hội thoại có xu hớng kết hợp với nhau
khi giải quyết các vấn đề. Tốc độ nói, kiểu loại từ sử dụng, cấu trúc ngữ pháp
và những trọng tâm cơ bản mà những ngời tham thoại cùng chọn để giải quyết
đề tài biểu đạt trách nhiệm và sự nhiệt tình cũng nh sự thông cảm, hiểu biết
giữa các thành viên của cuộc thoại. Khi cuộc thoại hoạt động thiếu đồng bộ từ
đó một loạt vấn đề sẽ nảy sinh nh: phơng ngữ khác nhau, cách biểu đạt thông
tin và đề nghị - hồi đáp (chấp nhận/ từ chối) khác nhau, sự thiếu thiện cảm và
cái tôi trong mỗi con ngời quá lớn, sẽ làm cho mỗi thành viên của cuộc
thoại cảm thấy không hài lòng, và mỗi ngời tham thoại đều tin rằng đối tác
gây khó khăn cho mình, không có tinh thần hợp tác. Nguy cơ phá vỡ cuộc
thoại là một điều tất yếu. Tình trạng này thờng xảy ra với những thành viên
tham gia hội thoại có nguồn gốc dân tộc khác nhau, có vốn tri thức nền khác
nhau, sinh sống tiếp nhận chơng trình giáo dục cơ bản trong những xã hội có

11


hợp các hành vi ngôn ngữ đợc chia thành hai nhóm lớn: nhóm có hiệu quả tiêu
cực và nhóm có hiệu quả tích cực. Phép lịch sự tiêu cực về căn bản có tính
chất né tránh hay bù đắp. Phép lịch sự chủ yếu tạo ra những hành vi có tính
chất giảm đe doạ đối với ngời nghe nh biểu thị sự tán thởng, cảm ơn, đề cao
ngời cùng đối thoại trong lời từ chối. Phép lịch sự tích cực thờng dùng
những yếu tố tăng cờng cho FFA nh ví dụ sau:
- Mời bác vào uống chén nớc.
- Cảm ơn chú tôi phải đi đón mẻ khác . Uống đợc chén nớc mất chục bạc.
(3,tr 336.)
Lịch sự là hiện tợng có tính phổ quát với mọi xã hội trong mọi lĩnh vực
tơng tác. Trong quan điểm về lịch sự của P. B.Rown và S.Levinson phép lịch
sự tiêu cực có tính chất bù đắp hay né tránh các FTA hoặc giảm nhẹ một số
biện pháp khi buộc lòng phải dùng một FTA nào đó để từ chối nh:
a. Dùng từ xng hô lịch sự (bác, ngài, ông, bà,... có ngôi thứ hai khi đối
thoại trực tiếp).
b. Sử dụng dạng giả định.
c. Dùng hành vi xin lỗi, thanh minh.
d. Yếu tố giảm nhẹ
e. Yêu cầu thông cảm.
Nhìn chung, mỗi ngời tham gia giao tiếp phải có trách nhiệm thực hiện
nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự. Một bên vi phạm nguyên tắc hội
thoại, hoặc giữa những ngời tham thoại không có sự đồng cảm, đều có thể
là nguyên nhân phá vỡ cuộc thoại.
1.1.1.4. Ngữ cảnh
Hội thoại bao giờ cũng xảy ra trong một ngữ cảnh nhất định. Các nhân
tố tham gia vào hoạt động giao tiếp đợc gọi chung là ngữ cảnh, từ những lời đợc nói ra hoặc viết ra. Cách thức từ chối trong hội thoại thờng xuất hiện trong
những ngữ cảnh đợc xác định. Ngữ cảnh bao gồm tình huống ngôn ngữ và ngữ

dung phục vụ cho sự phát triển vấn đề, hớng tới đích của cuộc thoại. Sự hoà
hợp giữa các lợt lời cùng tính thống nhất nội dung trong cuộc thoại là điều
kiện cho cuộc thoại thành công.
1.1.2. Hành vi ngôn ngữ và các vấn đề liên quan
1.1.2.1. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ
1. Từ Austin đến Searle và vấn đề hành vi ngôn ngữ
Ngời đầu tiên đa ra lý thuyết hành vi ngôn ngữ là Austin (1962) với
công trình nghiên cứu "How to do things with words". Đa ra các tiêu chí phân
biệt sự khác nhau trong cùng một hành vi ngôn ngữ (hành vi ở lời, hành vi tạo
lời và hành vi mợn lời), Austin đã điều chỉnh một cách sâu sắc mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và lời nói mà trớc đây F.D.Saussure đã phân biệt:

13


Hành vi ở lời: Là những hành vi ngời nói thực hiện ngay khi nói năng.
Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc về ngôn ngữ, có nghĩa là chúng
gây ra một phản ứng ngôn ngữ tơng ứng với chúng ở ngời nhận.
Hành vi tạo lời: Là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ nh: ngữ âm,
từ, các kiểu kết hợp thành câu,... để tạo ra một phát ngôn về hình thức và
nội dung.
Hành vi mợn lời: Là những hành vi mợn phơng tiện ngôn ngữ để gây ra
một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở ngời nghe, ngời nhận hoặc chính ngời
nói [ 4,tr 88-89].
Tuy nhiên sau này Searle và Leech đã chỉ ra Austin không thấy đợc sự
khác nhau giữa hành vi ngôn ngữ và động từ biểu hiện ngôn ngữ. Theo
Nguyễn Đức Dân (1998), Searle nêu ra tới 12 phơng diện là các hành vi ngôn
ngữ có thể khác nhau. Trong số này ông chọn ba tiêu chí cơ bản để phân loại
các hành vi tại lời: Đó là đích ở lời, hớng của sự ăn khớp, trạng thái tâm lý đợc
biểu hiện.

nhiệm duy trì cuộc thoại khi thực hiện lợt lời của mình.
1.1.2.2. Các loại hành vi ngôn ngữ
Việc phân loại hành vi ngôn ngữ căn cứ vào phản ứng qua lại của những
ngời tham gia giao tiếp. Đây chính là căn cứ để nhận ra hành vi ở lời.
1. Phân loại của Austin
Austin chia các loại hành vi ngôn ngữ thành 5 phạm trù: Phán xử, hành
xử, cam kết, trình bày, ứng xử. Hành vi từ chối thuộc phạm trù trình bày.
2. Phân loại của Searle
Searle đã liệt kê 12 điểm đợc dùng là tiêu chí phân loại hành vi ngôn
ngữ. Từ đó phân lập đợc 5 loại hành vi ở lời: Tái hiện, điều khiển, cam kết,
biểu cảm, tuyên bố. Hành vi từ chối thuộc nhóm cam kết.
3. Phân loại của Yule
Theo Yule, hành vi ngôn ngữ đợc phân loại thành 5 nhóm: Tuyên bố,
biểu hiện, bộc lộ, điều khiển, ớc kết. Hành vi từ chối đợc xếp vào nhóm ớc
kết.
[17,22]
1.2. Đoạn thoại cầu khiến và hành vi cầu khiến

Trong hội thoại các hành vi ngôn ngữ khởi phát lẫn nhau với các vai trò
dẫn nhập hoặc hồi đáp. Hành vi cầu khiến thuộc về đoạn thoại cầu khiến với
yêu cầu có hành vi phản hồi.
1.2.1. Đoạn thoại cầu khiến
Hành vi cầu khiến truyền đạt ý chí, nguyện vọng của ngời nói tới ngời
nghe và ngời nói mong muốn chấp nhận đợc phản hồi từ phía ngời nghe. Cặp
trao - đáp gồm phát ngôn cầu khiến tiền vị, phát ngôn đáp tạo thành đoạn
thoại cầu khiến. Hành vi cầu khiến trong đoạn thoại cầu khiến sẽ định hớng
cho hành vi lợt lời tiếp theo: chấp nhận hoặc từ chối.

15


tiếp hớng tới một đối tợng giao tiếp nhất định. Giao tiếp trực tiếp nghĩa là ngời
trao và ngời nhận đều xuất hiện, và điều này liên quan đến vấn đề ngôi trong
giao tiếp. Về hình thức giao tiếp: Vì là giao tiếp trực tiếp nên chủ thể cầu
khiến (dù hiện diện, không hiện diện hay tỉnh lợc) luôn ở ngôi thứ nhất. Chủ
thể tiếp nhận bao giờ cũng ở ngôi thứ hai hoặc ngôi chung. Theo Chu Thị

16


Thuỷ An trong công trình "Câu cầu khiến tiếng Việt", Luận án Tiến sỹ khoa
học Ngữ văn, Viện ngôn ngữ học Hà Nội 2002, hệ thống tiêu chí xác định
hành vi cầu khiến bao gồm:
a. Có một ngữ cảnh chứa tình huống hiện thực tác động đến khả năng,
nhu cầu của ngời nói và lợi ích của ngời nói, ngời nghe. Ngữ cảnh là mảng
hiện thực khách quan bao gồm những sự kiện, hiện tợng và cả những phát
ngôn xảy ra trớc phát ngôn cầu khiến. Hay nói cách khác đó là tình huống
hành vi cầu khiến xuất hiện và cũng là tình huống cho phép ngời nghe xác
định ra chúng.
b. Ngời nói trực tiếp truyền đạt nội dung ý chí, sự mong muốn của mình
đến ngời nghe.
c. Nội dung cầu khiến phải có khả năng hiện thực hoá.
d. Có những hình thức đánh dấu tính cầu khiến.
Nội dung cầu khiến là nội dung ý nguyện của ngời nói truyền đạt trực
tiếp cho ngời nghe. Sự mong muốn của ngời nói là thực hiện một hành động,
một tính chất hoặc một quá trình từ ngời nghe. Xu hớng của hành vi cầu khiến
bao giờ cũng biến đổi từ phi hiện thực thành hiện thực trong một thời gian từ
hiện tại đến tơng lai. Bởi vậy, giá trị giao tiếp chân thực của hành vi cầu khiến
đợc quy định bởi khả năng hiện thực hoá nội dung yêu cầu. Ngời nghe tiếp
nhận nội dung cầu khiến và có trách nhiệm phản hồi bằng lời đáp chấp nhận
hoặc từ chối. Một nội dung yêu cầu có khả năng hiện thực hoá tức là hành

thách thức, cổ vũ, cảnh báo có những đặc trng khác biệt so với hành vi cầu
khiến khác. Những hành vi này cũng hớng ngời nghe đến việc thực hiện/
không thực hiện một hành động, nhng ngời nói khi thực hiện những hành vi
này không quan tâm đến khả năng thực hiện hành động mà mình truyền đạt
tới ngời nghe, trong khi một điều kiện tồn tại của hành vi cầu khiến là khả
năng hiện thực hoá hành động. Vì vậy các hành vi cổ vũ, thách thức, cảnh báo
không đợc xếp vào nhóm cầu khiến.
1.3. Hành vi từ chối lời cầu khiến
1.3.1. Khái niệm về hành vi từ chối lời cầu khiến.
Hành vi từ chối lời cầu khiến là loại hành vi ngôn ngữ mang tính xã hội,
ngời nói có thể sử dụng động từ ngôn hành để biểu đạt hành vi từ chối nguyên
cấp hoặc bằng các phơng tiện từ vựng, cấu trúc cú pháp hoặc phát ngôn có
một nội dung chứa hàm ý từ chối. Trớc hết chúng ta điểm qua khái niệm từ
chối và từ chối là cầu khiến.
Theo Từ điển tiếng Việt. Hoàng Phê (chủ biên), Nxb Đà Nẵng Trung
tâm Từ Điển Học Hà Nội - Đà Nẵng , 2005.
Chối: a. Không nhận đã làm, đã gây ra việc gì tuy điều đó có thật.
b. (khởi ngữ) từ chối (nói tất) (Tr 169).
Từ chối: Không chịu nhận cái đợc dành cho hoặc đợc yêu cầu (Tr 1072)
Chối từ: Tơng đơng nh từ chối (Tr 169)

18


Từ: a. bỏ không nhìn nhận, tự coi là không có quan hệ, không có trách
nhiệm gì nữa đối với ngời nào đó.
b. (Kết hợp hạn chế) thôi, không nhận làm một chức vụ nào đó nữa.
c. (Dùng trong câu có ý phủ định kết hợp hạn chế) không chịu nhận lấy
về mình.
d. (Dùng trong câu có ý phủ định kết hợp hạn chế) chừa ra, tránh trọng



chối một cách chung nhất luôn là một sự giữ nguyên hiện trạng của thế
giới. Và theo đó, chúng ta xác định hệ thống tiêu chí nhận diện hành vi từ
chối bào gồm:
a. Có một ngữ cảnh chứa tình huống hiện thực tác động đến nhu cầu,
quyền lợi của một trong hai bên tham thoại làm tiền đề cho hành vi từ chối
xuất hiện.
b. Ngời nói biểu thị nội dung từ chối bằng sự không chấp nhận một
thay đổi nào đó theo hớng cầu khiến đã đợc đề xuất (nh yêu cầu, đề nghị,
mời rủ, gợi ý, khuyên bảo,...) trong quan hệ giao tiếp hội thoại.
c. Có những hình thức đánh dấu ý định từ chối.
Từ chối là một phần nhỏ liên quan đến các hành vi ngôn ngữ và có
thể đợc đặc trng hoá là lời đáp cho một hành vi ngôn ngữ khác - hành vi cầu
khiến (nh hành vi thỉnh cầu, hành vi mời, hành vi gợi ý, hành vi đề nghị,
hành vi khuyên bảo,...) hơn là một hành động đợc ngời nói khởi xớng. Một
hành vi cầu khiến xuất hiện và ngời nghe có hai cách tiếp nhận hồi đáp:
chấp nhận và từ chối. Vì hành vi cầu khiến thờng có chức năng là lợt lời thứ
hai của đoạn thoại cầu khiến dựa vào ngữ cảnh và ý nghĩa biểu đạt đối lập
với chấp nhận nên chúng đợc xác định là hành vi từ chối lời cầu khiến. Do
ý nghĩa biểu đạt đối lập với chấp nhận nên hành vi từ chối ngăn ngừa phần
mở rộng của ngời nói lời từ chối. Và bởi khả năng ngăn ngừa sự mở rộng
đối thoại bị giới hạn, đồng thời khả năng là một lời hồi đáp lớn hơn là một
hành động khởi xớng nên hành vi từ chối có thể bộc lộ sự phức tạp hơn các
loại hành vi ngôn ngữ khác. Hành vi từ chối thờng đóng vai trò trong những
kết quả kéo dài liên quan đến không chỉ là việc thơng lợng để biểu đạt đợc
kết quả nh ý, mà đó còn là sự cứu vãn thể diện đợc thực hiện một cách khéo
léo để điều chỉnh sự không phục tùng đối với hành động yêu cầu.
Do đặc tính đe doạ thể hiện rất tự nhiên nên hành vi từ chối thờng đợc ngời nói điều chỉnh bằng những mối quan hệ và cách thức khác nhau ở
các cộng đồng có nền văn hoá khác nhau. Lời từ chối th ờng xuất hiện rất tế

anh ạ.
Trách cứ: - Bây giờ mà anh còn rủ em đi xem, bận chết đi đợc.
Trì hoãn: - Để em xem lại lịch có xếp việc gì không đã.
Dùng từ phủ định: - Không, em không muốn đi xem phim. Toàn phim
chán thôi.
Hình thức giả định phản thực: - Giá nh anh nói sớm hơn để em sắp xếp
công việc.v.v...
Có thể có một loạt các lời đáp sau lời khởi xớng, cầu khiến và nh vậy sẽ
có một loạt kết quả cuối cùng khác nhau. Khả năng đa ra lời từ chối khi phối
hợp với lời cầu khiến nh yêu cầu, mời rủ, đề nghị, khuyên bảo, gợi ý,... là rất
phong phú. Hoạt động khởi xớng tạo cách thức phát động và ngời đáp có thể
chấp nhận, thoái thác hoặc bày tỏ sự lỡng lự. Lời chấp nhận trong trờng hợp

21


này luôn bày tỏ sự chân thành, đôi khi miễn cỡng, nhng những chấp thuận ấy
đợc coi nh là một sự thoả thuận và đợc ngời cùng đối thoại hiểu, lĩnh hội nh
vậy. Nếu hoạt động khởi xớng không đợc chấp nhận tình huống này sẽ đa ra
nhiều cách chọn lựa đáng kể cho ngời từ chối. Sự không chấp thuận có thể đợc
biểu đạt bằng một lời từ chối (có hình thức là lời từ chối trực tiếp, là một sự trì
hoãn, một lời hứa sẽ thực hiện vào dịp khác, một đề xuất lựa chọn nào đó,...)
một điều rất hay xảy ra là nếu lời đáp là một sự không chấp nhận, thì ngời
khởi xớng có thể bày tỏ sự tán đồng của mình với lời không chấp nhận ấy, và
trong trờng hợp đó, hội thoại có xu hớng đợc giải quyết. Lời đáp đầu tiên đợc
coi là kết quả cuối cùng. Ví dụ:
Khởi xớng: - Tối mai đi ăn cơm em nhé
Đáp: - Sao anh không nói sớm hơn em bận mất rồi.
Khởi xớng: - Tiếc nhỉ, thế cuối tuần đợc không?
Đáp: - Sợ mẹ nhờ đa đi lễ.


22

Kết quả cuối cùng
(Ng.n2)
1. Chấp nhận


Mời

2. Không chấp
nhận gồm:
- Từ chối
- Lựa chọn

Đề nghị

Gợi ý/ yêu cầu

2. Không chấp nhận lời không 2. Từ chối
chấp thuận (của ngời đáp lại)
3. Thoả hiệp với:
- Một hành động lựa
3. Thơng lợng bỏ qua quá trình chọn.
trực tiếp
- Không thực hiện hành
động

Bảng (I.1) : Hoạt động thơng lợng
Bảng này cho thấy nếu ngời khởi xớng không tán thành sự thoái thác


23


thức biểu hiện trên bề mặt ngôn ngữ khác nhau. Labov và Fanshel (1977)
cho rằng, nếu lấy hành vi cầu khiến làm trọng tâm thì lời đáp có thể đ ợc
xếp đặt nh sau:
a. Phục tục tuân theo một lời cầu khiến (thực hiện hành động). Ví dụ:
A: Tối nay, cậu giúp tớ giải bài tập với nhé.
B: Đợc thôi, trớc hết bọn mình phải cùng xem lại cậu hổng kiến thức ở
đâu đã nào.
b. Phục tùng tuân theo một lời cầu khiến (đồng ý thực hiện một hành
động). Ví dụ:
A: Tối nay cậu giúp tớ giải bài tập với nhé.
B: Đợc thôi, mấy giờ bọn mình bắt đầu?
c. Ngời đáp không muốn thực hiện yêu cầu thì lời thoái thác xuất hiện.
Ví dụ:
A: Tối nay cậu giúp tớ giải bài tập với nhé.
B: Cậu đã chẳng nói với tớ là cậu làm xong hết rồi sao?
Trong rất nhiều trờng hợp, lời cầu khiến đợc lặp lại sau một lời từ chối,
nhng đôi khi lời cầu khiến đợc ngời khởi xớng rút lại. Đối với khả năng thứ ba
ngời đáp có thể đa ra phát ngôn từ chối không kèm lời giải thích/ nêu lý do
nào đó hoặc kèm theo lời giải thích / nêu lý do cho lời từ chối của mình. Ví
dụ:
A: Tối nay (anh) giúp em sửa lại đồ án với nhé.
B: - Xin lỗi, anh không thể (không kèm theo lời giải thích).
- Xin lỗi, anh không giúp em đợc, anh phải hoàn thành bài kiẻm tra
để mai nộp cho thầy (kèm theo lời giải thích).
Labov và Fanshel cũng lu ý đến sự trùng lặp giữa những lời thoái thác,
thoái thác ấy có mục đích sử dụng nh một lời từ chối. Thực tế cho thấy, nhiều

ngữ này thờng có cấu trúc phức tạp và chỉ xuất hiện trong những điều kiện
nhất định. Các nguyên nhân gây nên một hành vi từ chối rất đa dạng. Mọi yếu
tố trong ngữ cảnh đều có thể là yếu tố gây nên hành vi từ chối. Khi từ chối
một lời đề nghị, lời mời hay khuyên bảo mà không muốn làm mất lòng, đồng
thời muốn tỏ ra mình có thiện chí, và để ngời nói lời cầu khiến tin đợc điều
này, ngời nói lời từ chối thờng loanh quanh tìm cách giải thích, nói vòng vo,
hoặc dùng cách nói bóng bẩy, ví von, tránh nói thẳng hoặc tránh dùng từ theo
nghĩa đen. Hành vi từ chối - sự tiếp nhận tiêu cực - trớc một lời cầu khiến luôn
cần những lời giải thích dài dòng để tránh gây hiểu lầm mới có thể tạo nên câu
nói mang hàm nghĩa không chấp nhận/ không thực hiện một nội dung cầu
khiến.
Theo tác giả Nguyễn Đức Dân (1998) "Trớc lời yêu cầu, lời đề nghị của
mình mà ngời đối thoại chấp thuận, nhận lời thì liệu bạn sẽ nói gì hơn ngoài
lời cảm ơn hoặc giao hẹn lại: "Thế nhé, ngày mai anh tới nhé. Cảm ơn anh".
Nhng một loạt sự kiện mà lợt lời thứ hai nêu ra để dẫn tới sự từ chối lại là
những khả năng mở ra cuộc thoại mới.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status