Nghệ thuật trào phúng trong thơ nôm đường luật hồ xuân hương - Pdf 32

Nghệ thuật trào phúng...

trang

Mục

lục

Lời nói đầu
A. Phần mở đầu
B. 1. Lý do chọn đề tài.......................................................................... 3
2. Phạm vi giải quyết.............................................................................. 4
3. Phơng pháp nghiên cứu ................................................................... 5
4. Lịch sử vấn đề.................................................................................... 5
B. Phần nội dung
Chơng 1. Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đờng luật............... 10
1.1. Giới thuyết về nghệ thuật trào phúng.............................................. 10
1.1.1. Khái niệm về Cái hài.................................................................... 10
1.1.2. Đôi nét về trào phúng và đối tợng của trào phúng ...................... 11
1.1.3. Mối quan hệ giữa trào phúng và trữ tình....................................... 13
1.2. Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đờng luật .......................... 14
1.2.1. Tình hình chung về thơ Nôm Đờng luật ..................................... 14
1.2.2. Các tác giả tiêu biểu viết về đề tài trào phúng
trong thơ Nôm Đờng luật.................................................... 16
1.2.3. Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đờng luật....................... 17
Chơng 2. Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm
Đờng luật Hồ Xuân Hơng ................................................. 18
2.1. Những bài thơ trào phúng tiêu biểu của Hồ Xuân Hơng................ 18
2.2. Đặc điểm trào phúng trong thơ Nôm Đờng luật Hồ Xuân Hơng. 20
2.2.1. Đối với tầng lớp Nho sĩ................................................................. 21
2.2.2. Đối với tầng lớp s, vãi (trí thức trong nhà chùa.)........................ 28

trong những vấn đề đợc nghiên cứu nhiều, bởi đây là một phơng diện khá nổi
bật trong thơ Nôm của bà. Ngời thì cho rằng thơ Nôm trào phúng Hồ Xuân
Hơng là vũ khí để đả kích, châm biếm mọi đối tợng trong xã hội; có ngời lại
cho rằng thơ trào phúng của Hồ Xuân Hơng là để tạo ra tiếng cời (u mua) hài
hớc; có ngời lại cho rằng thơ trào phúng của Hồ Xuân Hơng là trào phúng để
trữ tình... Vậy vấn đề này sẽ đợc thống nhất nh thế nào? Luận văn của chúng
tôi sẽ phần nào giải quyết vấn đề trên.
Với mục đích tìm hiểu Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đờng
luật Hồ Xuân Hơng chúng tôi không chỉ thống nhất lại khái niệm cái hài,
trào phúng và trữ tình, ngoài ra còn chỉ ra những giá trị nhân văn cao cả biểu
hiện cụ thể của nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đờng luật Hồ Xuân Hơng. Từ đó, thấy đợc bản chất, mục đích của hiện tợng trào phúng thông qua
các đối tợng cụ thể.
Trong quá trình tìm tòi và suy nghĩ, em đã đợc sự quan tâm giúp đỡ của
các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, của các thầy, cô trong tổ Văn học Việt
Nam Trung đại. Đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hớng dẫn cùng sự
động viên, giúp đỡ của bạn bè.
2


Nghệ thuật trào phúng...
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy, các cô và toàn thể các
bạn.

A. Phần mở đầu.
1. Lý do chọn đề tài.
Thơ Nôm Đờng luật là một trong những thể loại độc đáo vào bậc nhất
của văn học Việt Nam Trung đại. Dù đây là một thể loại Việt hoá một thể thơ
ngoại nhập (có nguồn gốc từ Trung Quốc) nhng trong quá trình phát triển nó
đã trở thành một thể loại ngang hàng với bất cứ thể loại nào của văn học dân
tộc. Có đợc những thành tựu ấy, ta không thể không nhắc tới sự đóng góp to

chính xác và thống nhất. Điều này làm cho chúng tôi băn khoăn, trăn trở và
quyết định đi sâu vào tìm hiểu, lý giải vấn đề này.
2. Phạm vi giải quyết.
Cho đến nay, về mặt văn bản thơ ca của Hồ Xuân Hơng gồm hai bộ
phận: Văn bản chữ Nôm và văn bản chữ Hán. Trong bộ phận văn bản chữ
Nôm có hai loại: Thơ Nôm truyền tụng và thơ Nôm trong tập thơ chữ Hán (Lu Hơng ký - tập thơ này đợc Trần Thanh Mại phát hiện giới thiệu vào tháng
10/1964. Theo từ điển thuật ngữ văn học tập 1, Nxb KHXH, HN.1983)
Theo Hoàng Xuân Hãn, cùng một số nhà nghiên cứu khác cho rằng:
Loại thơ Nôm truyền tụng là thơ viết thời gian khi thi sĩ còn trẻ, do đó nội
dung phản ánh mang đậm yếu tố đùa nghịch, trào lộng, chế giễu rất rõ. Còn
đối với thơ Nôm trong tập Lu Hơng ký đợc tác giả viết lúc đã luống tuổi,
từng trải nên giọng thơ không còn bông đùa nh trớc, mà rất nghiêm trang. Vì
vậy, chúng tôi chỉ tìm hiểu thơ Nôm Đờng luật đợc truyền tụng (lu truyền) hồi
nhà thơ còn trẻ trong phạm vi đề tài này.
Nội dung phản ánh trong thơ Nôm Đờng luật Hồ Xuân Hơng đa giọng
điệu, nhng chủ yếu là thơ trữ tình, còn thơ trào phúng thì số lợng không nhiều
lắm. Tuy vậy, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu thông qua những bài thơ trào
phúng - đây là đối tợng tìm hiểu chính của đề tài, nhng vẫn có thể tham chiếu,
đối sánh với những bài thơ trữ tình khi cần thiết.

1

Lại Nguyên ân, Tinh thần phục hng trong thơ Hồ Xuân Hơng, tạp chí văn học số 3-1991 (Bút danh Tam Vị)

4


Nghệ thuật trào phúng...

3. Phơng pháp nghiên cứu.

Nghệ thuật trào phúng...
vấn đề khác, nhng vẫn cha tìm đợc tiếng nói chung thật sự. Do thực tế nghiên
cứu cũng nh do phạm vi giới hạn là một khoá luận nên chúng tôi chỉ giới thiệu
một số bài viết tiêu biêủ đề cập đến nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đờng luật đợc truyền tụng của Hồ Xuân Hơng .
Trong giáo trình Văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế
kỷ XIX (Nxb GD, 1999) của tác giả Nguyễn Lộc; trong cuốn Hồ Xuân Hơng tác gia và tác phẩm (Nxb GD, HN, 2001) của Nguyễn Hữu Sơn, Vũ
Thanh, tuyển chọn và giới thiệu một số bài viết có liên quan đến nghệ thuật
trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng...
Trớc hết là tác giả Phạm Thế Ngũ trong Đặc sắc Hồ Xuân Hơng đã
nói: Một tính chất phổ biến và biểu hiện nữa của Hồ Xuân Hơng là tính chất
trào phúng. Mỗi khi và cầm bút để giễu cợt, phúng thích. Đi vào phân tích thi
tập của bà, ta thấy bà đã bắn mũi tên trào phúng vào đủ mọi hạng ngời trong
xã hội và từ đó tác giả đi đến kết luận thơ Nôm Hồ Xuân Hơng có cái cời
trào phúng.
Hoa Bằng cho in Hồ Xuân Hơng nhà thơ cách mạng. Ông đã nhiệt
liệt ca ngợi nữ sĩ Bà chẳng những là nhà đại thi hào, mà là nhà đại t tởng, đại
cách mạng và đề cao tinh thần phản kháng chống nam quyền (chơng VII),
chống phong kiến (chơng VIII), chống quan niệm kính trời của nhà Nho (chơng XI), chống thành kiến trọng nam khinh nữ của xã hội đơng thời (chơng
X), chống tăng lữ (chơng XI), chống những cái bấy lâu nay ngợc đãi ngời
chửa hoang (chơng XII) - Điều này cho thấy tác giả thừa nhận sự cách mạng
trong thơ của Hồ Xuân Hơng và đa ra những đối tợng trào phúng của bà thông
qua những thói h tật xấu trong xã hội phong kiến.
Cùng một ý kiến đó, Nguyễn Hồng Phong trong bài Nữ sĩ bình dân Hồ
Xuân Hơng đã khẳng định: Hồ Xuân Hơng là một thi sĩ châm biếm, trào
lộng và trữ tình mà châm biếm trào lộng là chủ yếu. Ngay trong lúc trữ tình
tha thiết nhất vẫn cời cợt mỉa mai.
Nguyễn Sĩ Tế trong Khảo và luận thơ Hồ Xuân Hơng lại có ý kiến
khác khi bàn về nghệ thuật trào phúng thơ Hồ Xuân Hơng: Chúng ta đã nói
khía cạnh tình cảm mới nhiều khía cạnh bao quát thơ bà. Chính vì đó mà cái
cời châm biếm của bà không mấy khi thuần chất. Mặc dù đả phá ngời đời bà

phúng trong thơ Nôm của bà. Nhà Việt Nam học ngời Nga N.I.Niculin trong
lời giới thiệu cuốn Thơ Hồ Xuân Hơng (Nxb, Matxcơva, 1968) đã vận dụng
phơng pháp luận mà M.Bakhtin đã sử dụng trong cuốn Sáng tác của F.Rabơle
và nền văn hoá phục hng châu âu để đi đến lý giải hiện tợng thơ Hồ Xuân Hơng, ông khởi xớng: Rõ ràng ở đây cần áp dụng một thuật ngữ do M.Bakhtin
đa ra tiếng cời lỡng trị - trong đó, có sự chửi mắng và khen ngợi, sự phủ
7


Nghệ thuật trào phúng...
định và khẳng định, sự chết đi và sự sinh thành đều hoà nhập vào nhau nh hai
mặt của một quá trình tái sinh thông qua sự hạ thấp [32;168].
ở hớng tiếp cận khác theo Xã hội học, Phân tâm học, Từ nguyên
lý hoá trang (Carnava les que). Đỗ Lai Thuý trong cuốn Hồ Xuân Hơng hoài
niệm phồn thực (Nxb, VHTT. 1999) đã tiếp cận theo hớng Văn hóa học với
lý luận thơ Hồ Xuân Hơng là thơ của triết lý phồn thực đồng thời khẳng
định Trào phúng của Hồ Xuân Hơng là trào phúng hoà đồng tiếng cời đa con
ngời trở lại cội nguồn soi sáng ý thức con ngời [32;185]...
Nhìn lại các hớng tiếp cận này, đặc biệt là ý kiến của học giả Niculin,
nghệ thuật trào phúng của Hồ Xuân Hơng đã đợc nhìn nhận ở một khía cạnh
mới mẻ, phản ánh đợc những giá trị nhân văn to lớn. Tuy nhiên, bản chất nghệ
thuật trào phúng này là gì thì vẫn cha khái quát lên đợc.
Tóm lại, trên đây là một số ý kiến về nghệ thuật trào phúng trong thơ
Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng mà trong điều kiện hạn chế của mình
chúng tôi đợc tiếp cận. Tựu trung lại, bàn về nghệ thuật trào phúng, các nhà
nghiên cứu đã chỉ ra biểu hiện cụ thể của nó. Song về bản chất của hiện tợng
này thì cha có đợc một ý kiến thống nhất.
Xác định đợc nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng là
điều rất cần thiết. Từ việc xác định đúng bài nào thuộc thơ trào phúng, đâu là
đối tợng, mục đích chính của trào phúng. Ta có thể thấy; việc cha xác định
thống nhất nghệ thuật trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hơng bắt nguồn từ lý do

Chơng 1. Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đờng luật
1.1. Giới thuyết về nghệ thuật trào phúng.
1.1.1. Khái niệm về Cái hài.
Xã hội loài ngời vơng quốc của cái hài. ở đâu có cuộc đấu tranh giữa
cái đẹp và cái xấu thì ở đó có cái hài xuất hiện. Mâu thuẫn xã hội, sự tan rã
của kỷ cơng, sự thống trị của quyền lực kinh tế là những nguyên nhân sâu xa
làm xuất hiện cái hài trong cuộc sống.
ở nớc ta vào khoảng thế kỷ XVIII đến hết thể kỷ XIX cái hài nảy nở rất
đa dạng. Nó vạch trần bọn quan lại tham lam, bọn Nho sĩ dốt nát thích khoe
chữ và hám danh, nó tố cáo mọi bất công của xã hội chiết toả cuộc sống con
ngời, nó chỉ ra sự suy vi rờng cột của chế độ phong kiến phản dân hại nớc.
ở mỗi hình thái xã hội Cái hài thờng nở rộ để giã từ quá khứ một cách
vui vẻ [8;21]. Vào đầu mỗi thời kỳ đang lên, mọi sự vụng về bỡ ngỡ cũng tạo
nên cái hài. Tuy vậy, tính chất hài hớc của hiện tợng cũ và mới, tiến bộ và lạc
hậu có các cấp độ khác nhau. Không một chế độ nào là hoàn hảo, không một
ngời nào là không có chỗ yếu, mọi cái đều đợc nổi bạt lên tiếng cời. Vì vậy,
trong cuộc sống ngời ta xác định sáu cấp độ khác nhau của cái hài.
- Hài hớc: Bông đùa, bông lơn.
- Sự cời nhạo: Chỉ bảo, gợi mở.
- Trào lộng: Hình thức sắc sảo của cái hài.
- Trào phúng: Khoan trúng, đánh sâu vào điểm yếu.
- Châm biếm: Kết án cái xấu, phủ định trên mọi cơng lĩnh lý tởng.
- Đả kích: Đánh mạnh và trực diện.
Vậy cái hài là một phạm trù mỹ học phản ánh một hiện tợng phổ biến
của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cời ở những cung bậc sắc
thái khác nhau. Đó là sự mâu thuẫn, sự không tơng xứng mà ngời ta có thể
cảm nhận đợc về phơng diện xã hội - thẩm mỹ. Trong đó, hoặc là chính bản
thân mâu thuẫn là một trong những mặt của nó đối lập với thế giới thẩm mỹ
cao đẹp [23;35].
10

thù của nó, việc nhận thức đối tợng trào phúng trong văn học có ý nghĩa quan
trọng đặc biệt. Nhà văn châm biếm Nga Xatcốp-Sêdrin nói: Muốn cho văn
học châm biếm thực sự trở thành văn học châm biếm và đạt đợc mục đích của
11


Nghệ thuật trào phúng...
nó... thì nó phải nhận thức đợc một cách rõ ràng đối tợng mà chính mình chĩa
mũi nhọn vào [22;199].
Không xác định đợc chính xác đối tợng trào phúng tiếng cời rất dễ trở
nên lạc điệu, thậm chí độc ác. Điều này thuộc về t tởng của nhà văn. Bởi một
nhà văn chân chính bao giờ cũng là một nhà nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc, bao
giờ cũng có cái nhìn chính xác trớc hiện tợng cuộc sống, phân biệt rõ ràng
chính và tà, biết nâng niu trân trọng cái chân - thiện - mỹ và căm giận trớc
những cái giả dối rỗng tuếch những xấu xa độc ác huỷ hoại nhân tính. Gôgôn
từng nói: Nghệ thuật chân chính không dạy ngời ta cời cái mũi bị vẹo mà dạy
ngời ta cời một tâm hồn lệch lạc [6;144].
Nghệ thuật trào phúng thực hiện sự phê phán bằng một cảm xúc thẩm
mỹ đặc biệt, tấn công vào cái xấu, nhng không phải bất cứ cái xấu nào cũng là
đối tợng của văn học trào phúng. Đó là những cái xấu tiêu cực về đạo đức, về
nhân cách, về lối sống, về những cái không phù hợp với hoàn cảnh tự nhiên
bình thờng xung quanh, lại đợc che đậy bởi một vỏ bọc tởng là tốt đẹp, có ý
nghĩa. Cái hài bao giờ cũng là kết quả của sự mâu thuẫn, đối lập, sự không tơng xứng, hài hoà giữa thực chất bên trong và vẻ bề ngoài mà hiện tợng ấy
muốn có hoặc giả vờ. Tiếng cời bong ra khi bất ngờ chủ thể nhận thức đợc
mâu thuẫn chứa đựng trong đối tợng, nói cách khác là nhận thức đợc bản chất
của đối tợng.
Văn học trào phúng có thể hớng tiếng cời vào nhiều đối tợng khác nhau.
Mọi hiện tợng của đời sống đều trở thành đối tợng của văn học trào phúng khi
bản thân nó chứa đựng mâu thuẫn nh đã nêu. Ta thấy trong văn học trào phúng
có hai đối tợng đó là: Đối tợng trào phúng khách thể - tức là đối tợng trào

Ghềnh đá long lanh ngấn chửa mòn.
(Vịnh núi An Lão)
Qua hai bài thơ này, ta dễ dàng nhận thấy nguồn cảm hứng trào phúng
chẳng qua cũng là nguồn cảm hứng trữ tình. Vì nếu nh thơ trào phúng: Dùng
tiếng cời để xác định t tởng, tình cảm cho con ngời chống lại cái xấu xa lạc
hậu, thoái hoá rởm đời hoặc để vạch mặt kẻ thù, đánh vào những t tởng, hành
động mang bản chất thù địch với con ngời [23;269]. Thì trữ tình là một trong
ba phơng thức thể hiện đời sống làm cơ sở cho việc phân chia loại hình tác
phẩm văn học (...) Trữ tình phản ánh cuộc sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý
thức của con ngời, nghĩa là con ngời tự cảm thấy mình qua những ấn tợng ý
nghĩa, cảm xúc chủ quan của mình đối thế giới và nhân sinh. Thơ trữ tình thuộc
13


Nghệ thuật trào phúng...
loại hình trữ tình trong đó những cảm xúc và suy t của nhà thơ hoặc nhân vật
trữ tình trớc các hiện tợng đời sống đợc thể hiện trực tiếp [23;369].
Vì thế có thể khẳng định trào phúng là một dạng trữ tình, một cách bộc
lộ tình cảm đặc biệt. ở trào phúng tình cảm mà tác giả thể hiện là tình cảm phê
phán phủ nhận cái xấu để hớng tới khẳng định cái đẹp thống qua tiếng cời.
Tiếng cời đó bao giờ cũng đợc xuất phát từ một lý tởng tiến bộ. Trào phúng và
trữ tình luôn có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung và tác động lẫn nhau, cái
này là nền tảng của cái kia. Nh vậy, có thể khẳng định trào phúng chỉ là cái vỏ
che đậy bên ngoài còn hạt nhân bên trong của nó lại là trữ tình.
1.2. Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đờng luật.
1.2.1. Tình hình chung về thơ Nôm Đờng luật.
Lịch sử hình thành và phát triển của văn học dân tộc Việt Nam, thơ
Nôm Đờng luật có vị trí quan trọng. Vì nó có đóng góp hết sức to lớn, làm
phong phú thêm cho thể loại văn học ở cả hai phơng diện đó là: Thực tiễn sáng
tác và ý nghĩa lý luận. Vì thế, thơ Nôm Đờng luật đợc xem nh là một hiện tợng

chỉ tự khẳng định mình một cách rất hạn chế. Đến nửa cuối thế kỷ XVIII trở về
sau ta thấy nhu cầu của con ngời đợc khẳng định. Chữ thân, chữ tài đặc biệt
là chữ tình đã trở thành một khái niệm để con ngời tự ý thức về mình. Đặc
biệt với Hồ Xuân Hơng thơ Nôm Đờng luật phát triển với đỉnh cao và vợt qua
vòng cơng toả có ý thức hệ phong kiến. Thơ Hồ Xuân Hơng xuất hiện nh một
hiện tợng lạ, độc đáo và hết sức mới mẻ. Thơ của bà đã giải toả hoàn toàn giáo
điều phong kiến, là sự đoạn tuyệt khá triệt để với tinh thần đẳng cấp Nho giáo.
Với Hồ Xuân Hơng, thơ Nôm Đờng luật không còn ở địa vị đẳng cấp trên
trong hệ thống thể loại văn học Trung đại. Tác giả Đặng Thanh Lê trong cuốn
Hồ Xuân Hơng và dòng thơ Nôm Đờng luật (Tài liệu bồi dỡng Giáo viên,
theo sách giáo khoa văn 10 mới. ĐHSP Hà Nội. 1996) nhận xét: Với nhà thơ,
thể thơ Đờng luật đã xa phong cách trữ tình trang nghiêm cao quý để đi thẳng
vào cuộc sống đích thực không chỉ là dân tộc mà còn hết sức dân dã.
Thật vậy, với thơ Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng ta thấy thơ bà đã
chuyển sang con đờng dân chủ hoá đánh dấu một bớc phát triển vợt bậc, độc
đáo và riêng có của Hồ Xuân Hơng. Trong thơ Nữ sĩ đã có một sự cách tân,
sáng tạo đó là sự rút ngắn khoảng cách giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ
đời sống.

15


Nghệ thuật trào phúng...
1.2.2. Các tác giả tiêu biểu viết về đề tài trào phúng trong thơ Nôm
Đờng luật.
Nh chúng ta đã biết, Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông
chính là sự tìm tòi mở hớng cho nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đờng
luật. Và đợc khẳng định rõ nét hơn ở thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm - một nhà Nho,
một nhà đạo đức mực thớc, nhng đứng trớc thế thái nhân tình đào lộn, đạo đức
suy vi ông đã có những vần thơ phản ánh sự xuống cấp của xã hội.

Những sáng tác của tác giả kể trên chủ yếu dựa trên ba quan điểm sau:
- Họ đứng trên lập trờng đạo đức phong kiến để trào phúng đả kích.
- Họ vạch ra cái xấu cần phê phán (đây đợc xem là một kiểu trào
phúng).
- Thể hiện sự khủng hoảng, bất lực, bế tắc của ý thức hệ phong kiến trớc
sự đổi thay của lịch sử (đôi khi ta thấy các nhà thơ này xuất hiện hiện tợng tự
trào trong văn chơng. Điều này nói lên bi kịch uất ức, bế tắc của các nhà Nho
lúc bấy giờ trớc xã hội nh Tú Xơng, Nguyễn Khuyến).
Nghệ thuật trào phúng không chỉ là đặc điểm của thơ Nôm Đờng luật
mà ở thời nào cũng có, cũng bộc lộ khi muốn vạch mâu thuẫn của sự vật, mâu
thuẫn giữa cái bên ngoài và cái bên trong để đa ngời đọc nhận thấy ý nghĩa
mỉa mai, trào lộng [23;269]. Nếu nh nghệ thuật trào phúng của văn học dân
gian thờng hay dựa vào các quy luật của tự nhiên để vạch ra cái trái tự nhiên
của đối tợng trào phúng. Ngợc lại trong văn học viết, hiện tợng trào phúng
trong các nhà Nho thờng dựa vào cơng thờng đạo lý của xã hội phong kiến để
vạch trần ra cái phi đạo lý - tiếng cời này thờng hết sức thâm thuý, hóm hỉnh.
Còn tiếng cời trong văn học dân gian là tiếng cời tự do thoải mái mang đậm
tính chất bình dân, trần tục đời thờng. Hồ Xuân Hơng cũng nằm trong mạch
nguồn tạo nên bởi sự hợp lu hai dòng chảy lớn: dòng chảy của văn học dân
gian và dòng chảy của văn chơng bác học.

Chơng 2. Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm
Đờng luật Hồ Xuân Hơng.
17


Nghệ thuật trào phúng...
2.1. Những bài thơ trào phúng tiêu biểu của Hồ Xuân Hơng.
Nh chúng ta đã biết, thơ thơ Nôm trào phúng là dùng tiếng cời để xây
dựng t tởng, tình cảm cho con ngời, chống lại cái xấu xa, lạc hậu, thoái hoá,


Nghệ thuật trào phúng...
là sự kết hợp nhuần nhuỵ cả ba yếu tố ấy để tạo nên một thứ thơ - Thơ Hồ
Xuân Hơng.
Tác giả Nguyễn Lộc trong cuốn Thơ Hồ Xuân Hơng (Nxb Vh,
H.1982) lại lấy tiêu chí phong cách để phân chia, lựa chọn thơ bà. Tuy nhiên
tác giả mới chỉ đa ra những ý kiến xác đáng về phong cách chứ cha thật sự áp
dụng phơng pháp này vào thơ Hồ Xuân Hơng môt cach hợp lý đợc.
Đỗ Lai Thuý, Hồ Xuân Hơng - hoài niệm phồn thực (Nxb,vhtt. 1999)
đã đa ra một số cách tiếp cận thơ Hồ Xuân Hơng nh tiếp cận xã hội học,
tâm lý học hay từ nguyên lý hội hoá trang (Carnavalesque), tiếp cận
phân tâm học và bằng cả con đờng đờng đến nhân học văn hoá để tìm
hiểu thơ Hồ Xuân Hơng và ông đã có rất nhiều khám phá mới mẻ độc đáo.
Ông đã tôn vinh Hồ Xuân Hơng là nhà thơ Hoài niệm phồn thực.
Biết bao thế hệ yêu thích và tìm hiểu thơ bà. Con đờng của những kẻ
hậu sinh chúng tôi hành trình thì bắt gặp hai câu thơ của Tam Nguyên Yên
Đổ viết về bà Thơ thánh thơ tiên đời vẫn có/Tung hoành thơ quỷ hiếm hoi
thay - Một lời khen tặng và nể phục! Còn Tản Đà cho rằng Thi trung hữu
quỷ nghĩa là trong thơ có ma, quỷ! Nếu chiết lọc bỏ qua mất cái đáng sợ
ấy, cái ma quỷ ấy thì sẽ mất luôn cả cái đẹp, cái riêng có trong thơ Hồ Xuân
Hơng.
Từ những ý kiến đó chúng tôi đi đến tìm hiểu khảo sát gàn 50 bài thơ
Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng xem bài thơ nào là đối tợng chính cần
quan tâm của chúng tôi. Ngoài việc dựa vào kinh nghiệm của những ngời đi
trớc; cùng các cấp độ của cái hài, xác định khái niệm trào phúng; thông qua sự
tìm hiểu và phân tích cụ thể để đa ra một số bài thơ đợc xem là trào phúng, bài
nào chỉ mức độ trào lộng, bông đùa. Dới đây là một số bài thơ trào phúng tiêu
biểu của Hồ Xuân Hơng:
- Mắng học trò dốt bài (1), (2).
- Trách Chiêu Hổ (Xớng hoạ với Chiêu Hổ) bài (1), (2), (3).

bên ngoài và cái thực chất bên trong để cho ngời đọc thấy ý nghĩa mỉa mai,
trào lộng, do vậy ngời ta chia thơ trào phúng ra làm hai loại: Thơ châm biếm
và thơ đả kích.
- Thơ châm biếm nhằm mục đích giáo dục xã hội, giáo dục con ngời
bằng nụ cời nhẹ nhàng mà kín đáo, dí dỏm mà sâu sắc. Nụ cời đó bao hàm cả
việc phê phán lẫn tinh thần xây dựng.
- Thơ đả kích nhằm lột mặt nạ của kẻ thù bằng một nụ cời có sức công
phá quyết liệt. [23; 269].
20


Nghệ thuật trào phúng...
Nếu chỉ đem các cấp độ của cái hài trong mỹ học hoặc khái niệm về thơ
trào phúng để tìm hiểu về nghệ thuật trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hơng thì
cha thật thoả đáng khi cha chọn một trong hai cách trên. Do vậy, khi tìm hiểu
thơ trào phúng của Hồ Xuân Hơng chúng tôi sẽ cố gắng kết hợp hài hoà giữa
hai khái niệm cái hài và thơ trào phúng để phân loại các đối tợng trong thơ
trào phúng của nữ sĩ.
2.2.1. Đối với tầng lớp Nho sĩ (trí thức Nho học).
Xã hội Nho giáo thờng đề cao cơng thờng đạo lý cùng tôn giáo nh thờ
vua chúa, tôn trọng kẻ sĩ. Bởi Kẻ sĩ là trụ cột của xã hội phong kiến, họ phải là
những ngời có t tởng Trung quân ái quốc, họ phải là những ngời thấm nhuần
đạo thánh hiền, là những ngời thanh cao chỉ nghĩ đến sự nghiệp duy nhất là đợc học hành thành tài để giúp đời. Nếu không đợc phụng sự cái lý tởng ấy thì
lui về hái rau, uống nớc suối để ngâm thơ vịnh nguyệt qua ngày. Đấy
chính là kẻ sĩ mẫu mực và xã hội phong kiến cũng yêu cầu nh vậy đối với từng
lớp Nho sĩ.
Bản thân Hồ Xuân Hơng là một trí thức (đợc ăn học) chứ không phải là
một Nho sĩ (vì xã hội phong kiến không cho con gái theo học chữ Nho) - Nhng Hồ Xuân Hơng lại là một ngời trí thức của nhân dân, sống trong thời đại
của ý thức hệ phong kiến bị rạn nứt và đổ vỡ, vua, quan, hiền nhân, quân tử,
Nho sĩ... không còn là đối tng tôn thờ.

và làm quan, để có địa vị trong xã hội.
Từ cuối đời Trần trở đi, Nho học trở thành độc tôn. Lý trí với giáo điều
nghiêm khắc ngự trị xã hội. Nhng cũng từ giai đoạn này, bản năng thô lỗ
của đa số bình dân nớc Việt đã đợc rèn dũa rất nhiều. Sau buổi thịnh Lê, kỉ
luật mất dần, xã hội loạn lạc, không những dân chúng trở lại nếp xa mà ngay
cả Nho sĩ cũng bị xáo trộn. Hồ Xuân Hơng nhận thấy học trò lúc này thì dốt
nát, thầy đồ thì tha hoá biến chất, đạo đức giả. Tình hình học hành thi cử nh
vậy, chất lợng không đảm bảo nh trớc. Một số kẻ sĩ giàu có nhờ tiền mà đậu
đạt. Với kiểu học hành, thi cử nh vậy, Hồ Xuân Hơng đã vạch ra điểm yếu của
học trò qua hai bài thơ Mắng học trò dốt
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ?
Lại đây cho chị dạy làm thơ,
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu tha.
Trong cuốn Hồ Xuân Hơng thơ và đời (Nxb Vh H. 1996) đặt tiêu đề
cho bài thơ là Lũ ngẩn ngơ. ý muốn nói, Hồ Xuân Hơng chê bọn học trò
ngốc nghếch, học thì dốt lại rủ nhau đi ghẹo gái còn tập tọng đua đòi vần vè,
ví von nên Hồ Xuân Hơng thấy khó chịu và viết bài này. Một số sách khác nh
của tác giả Đỗ Lai Thuý, của Xuân Diệu thì lấy tiêu đề là Mắng học trò
22


Nghệ thuật trào phúng...
dốt. Theo chúng tôi, các tiêu đề trên đều có thể chấp nhận đợc mà không ảnh
hởng gì đến nội dung trào phúng trong thơ Xuân Hơng.
Trong xã hội phong kiến, luôn luôn có thành kiến. Quan niệm trọng
nam khinh nữ Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô hay cho rằng đàn bà là
loại khó dạy bảo. Xã hội phân chia giai cấp, sự xuất hiện của đẳng cấp trên và
đẳng cấp dới, kẻ thống trị và ngời bị trị. Cho nên xã hội phongkiến ở phơng
đông nói chung xã hội Việt Nam nói riêng Nho giáo buộc ngời phụ nữ phải

về tài sử dụng ngôn ngữ của bà. Bà không những nói lên sự ngu dốt của học
trò mà còn chỉ ra cái lối sống bừa bãi, chỉ vì buồn sừng mà húc bừa,
châm bậy. Nhng cái sừng non mới nhú ấy chỉ húc vào dậu tha, châm vào
hoa rữa mà thôi.
ở bài hai, không còn là sự dạy bảo mà là sự chê trách. Bà không chịu đợc những chàng Nho sĩ không chịu lợng tài sức non nớt của mình, hễ đi đâu là
vẽ vời thơ phú đến đó. Phải chăng họ thích học đòi các thi nhân xa để lại dấu
ấn mỗi nơi mình tới? Xuân Hơng viết:
Dắt díu đa nhau đến cửa chiền,
Cũng đòi học nói, nói không nên!
Ai về nhắn bảo phờng lòi tói
Muốn sống đem vôi quét trả đền.
Trớc hết, xin đợc giải thích về hai chữ Lòi tói mà Xuân Hơng dùng
(Nghĩa đen là dây sắt gồm nhiều vòng mắc vào nhau). Trong cách chấm thơ
văn xa thờng có khuyên và sổ. Song trong lúc đùa nghịch khuyên nhiều vòng
móc xích vào nhau. Vì thế mà gọi là khuyên lòi tói khi gặp những đoạn văn
viết bạt mạng, lăng nhăng. Sau này, nghĩa bóng để chỉ những kẻ viết chữ xấu.
Bài thơ này, Xuân Hơng muốn chê bọn học trò học chữ thánh hiền mà
viết chữ xấu. Ngời xa có câu nét chữ là nét ngời. Vì vậy mới có nghệ thuật
th pháp (nghệ thuật viết chữ đẹp). Cho nên khi nhìn những chữ loằng ngoằng
nh chi dây xích, chữ nọ ngoắt ngoéo, quàng xiên vào chữ kia Xuân Hơng có ý
chê sự kém cỏi, dốt nát của học trò.
Ngoài ra, Xuân Hơng còn trách đây là những kẻ vô văn hoá, nơi chùa
chiền thâm nghiêm lại đề thơ lung tung lên tờng của nhà chùa. Ca dao có câu
Xấu hay nói tốt, dốt hay khoe chữ là thế! Hồ Xuân Hơng phê phán và gọi
đích danh là phờng lòi tói và buộc họ khắc phục sửa chữa khuyết điểm của
mình bằng cách đem vôi quét trả đền.
Có thể nói, Hồ Xuân Hơng sống vào thời đại các nhà Nho chân chính.
Họ đều ý thức đợc tài năng hơn đời, hơn ngời của mình. Phan Ngọc nhận xét:
Đây là thời đại mà mọi ngời đều khoe tài, Nguyễn Du khoe tài, Hồ Xuân Hơng khoe tài, Nguyễn Công Trứ khoe tài và tìm chỗ dựa cho mình bằng tài
24

bản lĩnh, rất vững vàng nhng không kém phần đanh đá, đối chọi với Chiêu
Hổ từng vần thơ đã đành mà còn chế diễu ngầm ẩn sâu xa thâm thuý. Điều
này cho thấy lần đầu tiên trong văn học Trung đại có một ngời phụ nữ giám b25


Trích đoạn Các biện pháp tu từ trong thơ Nôm trào phúng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status