3
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
______________
NGUYỄN PHƯƠNG YẾN
NGƯỜI TRÍ THỨC TÌM ĐƯỜNG
TRONG TIỂU THUYẾT
BIẾT ĐÂU ĐỊA NGỤC THIÊN ĐƯỜNG
CỦA NGUYỄN KHẮC PHÊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN – 2012
4
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN PHƯƠNG YẾN
NGƯỜI TRÍ THỨC TÌM ĐƯỜNG
TRONG TIỂU THUYẾT
BIẾT ĐÂU ĐỊA NGỤC THIÊN ĐƯỜNG
CỦA NGUYỄN KHẮC PHÊ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................3
1. Lý do chọn đề tài ..........................................................................................3
2. Lịch sử nghiên cứu …...................................................................................5
2.1. Công trình nghiên cứu về Nguyễn Khắc Phê và các sáng tác của ông .....5
2.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến tiểu thuyết
Biết đâu địa ngục thiên đường .........................................................................8
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................12
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..............................................................12
4.1. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................12
4.2. Phạm vi khảo sát ......................................................................................12
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................13
5.1. Phương pháp phân tích lịch sử .................................................................13
5.2. Phương pháp so sánh ...............................................................................13
5.3. Phương pháp tiếp cận hệ thống ................................................................13
6. Đóng góp của luận văn ...............................................................................13
7. Cấu trúc luận văn ........................................................................................13
Chương 1
TIỂU THUYẾT BIẾT ĐÂU ĐỊA NGỤC THIÊN ĐƯỜNG
TRONG VĂN NGHIỆP CỦA NGUYỄN KHẮC PHÊ
1.1. Hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Khắc Phê ..............14
1.1.1. Cuộc đời của Nguyễn Khắc Phê với con số 9 định mệnh ....................14
1.1.2. Nguyễn Khắc Phê – nhà văn “con nhà quan, tính nhà lính” cả trong
lối sống và cách viết........................................................................................19
1.1.3. Thành tựu của Nguyễn Khắc Phê trong sự nghiệp sáng tác..................22
1.2. Biết đâu địa ngục thiên đường - một “kỷ lục” trong sáng tác của
Nguyễn Khắc Phê ...........................................................................................32
1.2.1. Nội dung cơ bản của tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường..........34
3.2.1. Điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm .................................................. 83
3.2.2. Ngôn ngữ trần thuật............................................................................ 100
3.2.3. Giọng điệu trần thuật ........................................................................ 110
KẾT LUẬN ............................................................................................... 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………… 126
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Vấn đề tìm đường nói chung, tìm đường của người trí thức nói riêng,
luôn là nỗi trăn trở và cũng gặp không ít bi kịch, có tính phổ quát của mọi thời
đại, mọi dân tộc, trong đó có người trí thức Việt Nam từ xưa đến nay. Hành
trình ấy có lúc suôn sẻ, có lúc gặp quá nhiều khó khăn; có người thành công
và cũng có người là nỗi đau đớn. Thực ra, không chỉ ở Việt Nam mà vấn đề
này cũng là vấn đề có “tầm nhân loại”. Chúng ta đã thấy những bi kịch kiểu
ấy trong các tác phẩm Trăm năm cô đơn (G.G. Marquez), Anh em nhà
Karamazov (Dostoyevski), Con đường đau khổ (Aleksy Tolstoi), Gia đình
(Ba Kim),… Trong những cơn biến động dữ dội của lịch sử, vấn đề tìm
đường lại càng trở nên khẩn thiết. Những trí thức tìm đường tiêu biểu của
Việt Nam như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc luôn nung
nấu khát vọng lớn tìm ra con đường đi cho dân tộc Việt Nam giữa thời buổi
mịt mù, đen tối của lịch sử. Trong những thời khắc, sự kiện lịch sử cụ thể,
người trí thức cũng tìm sự lựa chọn lý tưởng cho riêng mình mà Nguyễn Trãi,
Nguyễn Du, Ngô Thời Nhậm,… là những ví dụ. Từ thực tế này, rất nhiều tác
giả văn học đã lấy nó làm đối tượng phản ánh trong tác phẩm và cũng đã có
nhiều tác phẩm thành công. Tố Hữu viết Theo chân Bác, đề cập đến sự thất
bại trong lựa chọn con đường cho dân tộc của hai trí thức ưu tú: “Phan Chu
Trinh lạc lối trời Âu/ Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng/ Vẫn bơ vơ nương
các nhà nghiên cứu, phê bình, hoặc cảm nghĩ của người đọc bình thường tập
trung bàn về tác phẩm này đã cho thấy độ vang và sức hút của nó. Trong đời
viết văn của mình, đây cũng là cuốn tiểu thuyết Nguyễn Khắc Phê dành thời
gian viết lâu nhất (20 năm) và phải chờ đợi phấp phỏng từ lúc “thai nghén”
cho tới lúc nó “ra đời”. Theo tác giả, đây là cuốn tiểu thuyết mà tác giả tâm
đắc nhất. Dù rằng, tác phẩm cũng xoay quanh đề tài tìm đường của người trí
10
thức nhưng ở đây, Nguyễn Khắc Phê đã tiếp cận hiện thực từ một hướng khác
với chính mình và với các tác giả trước đó. Đây lại thêm một căn nguyên thú
vị nữa gây cho chúng tôi hứng thú tìm hiểu.
Bởi những lý do trên khiến chúng tôi chọn vấn đề Người trí thức tìm
đường trong tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc
Phê làm luận văn tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Công trình nghiên cứu về các sáng tác của Nguyễn Khắc Phê
Như đã nói ở trên, Nguyễn Khắc Phê là một trong những tác giả lớn của
nền văn học Việt Nam đương đại. Bởi thế cho nên mỗi tác phẩm của ông đều
nhận được khá nhiều ý kiến đánh giá, nghiên cứu. Có thể kể đến một số công
trình sau:
Tác giả Mai Hương trong Từ điển tác giả - tác phẩm văn học Việt Nam,
sau khi điểm qua những nét cơ bản về cuộc đời của Nguyễn Khắc Phê và
hành trình sáng tạo nghệ thuật của ông, đã nhận xét: “vùng thẩm mỹ ” mà nhà
văn này quan tâm là cảm hứng phản ánh cuộc sống của những con người xây
dựng đường và những con đường, bởi suốt 15 năm Nguyễn Khắc Phê công
tác trong ngành giao thông vận tải, gắn bó với những nơi tiền tuyến, những trí
thức, công nhân luôn đứng nơi mũi nhọn của cuộc sống, vì thế, đây là lĩnh
vực ông gắn bó nhất, thân thuộc nhất, quan tâm nhất, nó “tạo nguồn cảm hứng
thì tác phẩm còn bộc lộ những nhược điểm “Chưa có được tầm khái quát nghệ
thuật cao” (34, tr.442). Đúng là đóng góp và cái hạn chế của người viết tác
phẩm đầu tay! Đến tác phẩm Đường giáp mặt trận thì đã “ghi nhận một bước
tiến quan trọng trong sáng tác của Nguyễn Khắc Phê”. Tiểu thuyết này đã đạt
được những ưu điểm là: “không chỉ ở sức phát hiện vấn đề mang ý nghĩa xã
hội mà còn ở bản lĩnh mạnh dạn, trung thực của người viết, góp phần giải đáp
một vấn đề rất “thời sự” của đời sống văn học khi đó: phản ánh những nhân
vật tiêu cực, những vấn đề tiêu cực của đời sống xã hội như thế nào?” (34, tr.
442). Cũng về cuốn tiểu thuyết này, bài viết của tác giả Hà Vinh (Báo Văn
nghệ, 1976), lại nghiêng về nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật của
Nguyễn Khắc Phê. Sau khi phân tích các nhân vật Sơn, Loan, Ngô, Hiến,
12
Chân, bác Tần, bác Thát, v.v… với các nét tính cách cũng như các mối quan
hệ chằng chịt giữa họ, bài viết đi đến kết luận: “Tất cả những điều ấy là hoàn
toàn có thể hiểu được. Với Nguyễn Khắc Phê, nhân vật được miêu tả bằng
những đường nét vốn có của nó hơn là xuất phát từ khuôn mẫu có sẵn”. Đặc
biệt, trong bài viết này, Hà Vinh tỏ ra rất thích thú các nhân vật nữ được xây
dựng trong cuốn tiểu thuyết như Loan, An, Mai… đến mức cho rằng: “Sẽ cảm
thấy như là còn gì chưa đủ, chưa vừa ý nếu không nói đến các nhân vật nữ
trong cuốn tiểu thuyết này” bởi “ở mỗi nhân vật nữ của Nguyễn Khắc Phê có
nét khỏe đẹp riêng”.
Nhà văn Ma Văn Kháng (Phát biểu trong phim chân dung nhà văn
Nguyễn Khắc Phê công chiếu trên VTV1, HVTV, VTV4, 2010), đã nói: “Tôi
rất có ấn tượng về hai cuốn tiểu thuyết của anh hồi đó là cuốn Đường giáp
mặt trận và nhất là cuốn sau: Chỗ đứng người kỹ sư (…). Tôi cũng rất thích
những cuốn sau này của anh như là cuốn Thập giá giữa rừng sâu; đặc biệt tôi
rất hâm mộ cuốn tiểu thuyết mới xuất bản Biết đâu địa ngục thiên đường (…)
Về các nhận định, đánh giá cuốn tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên
đường chúng tôi sẽ đề cập đến trong mục 2.2 của phần này.
2.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến tiểu thuyết Biết đâu địa
ngục thiên đường
Năm 2010 được xem là “năm của Nguyễn Khắc Phê” bởi từ khi tiểu
thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của ông ra đời, có rất nhiều ý kiến đánh
giá về tác phẩm này cũng như nhìn nhận những đóng góp đáng kể của
Nguyễn Khắc Phê đối với văn học Việt Nam.
Viết về người trí thức trong một giai đoạn lịch sử nhất định nhưng
Nguyễn Khắc Phê như đã “đụng chạm” đến nhiều vấn đề lớn của lịch sử Việt
Nam giai đoạn 1945 – 1975. Tác phẩm đặt ra nhiều vấn đề nhưng vấn đề
người trí thức tìm đường được xem là vấn đề cốt lõi nhất của tác phẩm.
Trong “Một sinh hoạt văn học bổ ích” (71, tr.9), Trần Huyền Sâm ngoài
việc tường thuật lại cuộc tọa đàm về Biết đâu địa ngục thiên đường, còn đánh
giá khá cao giá trị của tác phẩm này, trong đó lưu ý: “thông qua bi kịch cá
nhân – gia đình, người đọc được sống lại và chiêm nghiệm về những năm
tháng đầy biến động của lịch sử Việt Nam. Đó là giai đoạn cải cách và thời
14
hậu chiến – một thời kỳ đầy nhạy cảm, cũng có thể gọi là một “vết thương”
trong lòng của một thế hệ đã qua. Những vấn đề lớn về cá nhân con người và
vận mệnh dân tộc đã được tác giả lý giải khá thấu đáo trong tác phẩm này”
(71, tr.9). Qua đối thoại với độc giả tham dự tọa đàm, Nguyễn Khắc Phê cũng
nhấn mạnh; “chủ đề của tác phẩm không chỉ là vấn đề trong cuộc “Cải cách”
mà nhiều tác phẩm khác đã viết, sâu xa hơn, đó là bản thể con người ở mọi
thời đại”. Do đó “Bạn đọc sẽ chờ đợi một cuốn tiểu thuyết Hậu thiên đường
và địa ngục của nhà văn Nguyễn Khắc Phê” (71, tr.12).
GS. Trần Đình Sử trong “Tâm huyết đối với số phận con người với vận
Quả thật là chưa biết thế giới này rồi sẽ đi đến đâu? Bao giờ mới kết thúc
được những tấn bi kịch đã khiến nhân loại tốn không biết nhường nào là
xương máu…” (71, tr.73).
Phan Tuấn Anh lại đặt vấn đề so sánh văn học bằng một chuyên luận
khá dài: “Bi kịch dòng họ trong Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn
Khắc Phê và Trăm năm cô đơn của G.G. Marquez”, trong đó tác giả tập trung
so sánh hai tác phẩm từ 3 điểm nhấn: 1. Đặc thù cá tính nhân vật, 2. Quan hệ
gia đình, 3. Những đứa con nổi loạn và thủ pháp liên văn bản. Chẳng hạn,
“Xem xét hai tác phẩm của Marquez và Nguyễn Khắc Phê, chúng ta thấy có
một sự trùng hợp khá thú vị. Nếu như dòng họ Buendia có thể chia thành hai
nhánh cá tính cơ bản: nhánh của những Aureliano u sầu, nội tâm nhưng có
chiều sâu về mặt tư tưởng; nhánh còn lại là nhánh của những Jose Arcadio
mạnh mẽ, quyết liệt nhưng đậm tính bản năng (…). Dòng họ Nguyễn cũng có
thể tạm chia thành hai nhánh: nhánh H và nhánh T. Nhánh H gồm những
thành viên mang tên có chữ H làm đầu gồm Hưng, Hải, Huy (…); nhánh còn
lại gồm Tâm, Thanh và cả Thủy – một người cháu họ có vai trò khá quan
trọng trong tác phẩm. Nếu như nhánh H là những nhân vật mang dáng dấp
của những Aureliano với thuộc tính thích yên ổn, bình lặng sống nội tâm, thì
nhánh T là nhánh của những Jose Arcadio với nét tính cách mạnh mẽ, sôi nổi,
sống hiện sinh với tư tưởng của mình” (71, tr.175). Một công trình nghiên cứu
khá công phu và cũng rất sâu sắc.
Nhà nghiên cứu Từ Sơn trong bài viết “Bao nhiêu là trăn trở chưa thể lý
giải được” đã chia sẻ: “Nỗi băn khoăn thánh thiện của bạn thể hiện rất rõ qua
16
từng trang sách. Có thể không phải là quá lời khi tôi cho rằng ngòi bút của
Phê đã rỉ máu, nước mắt và mồ hôi khi nhìn lại thân phận những con người
thông qua sự chiêm nghiệm đầy trách nhiệm và đậm tính nhân văn từ những
địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê” (tr.104); Nguyễn Mạnh Tiến,
“Tiếp nhận tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường từ góc nhìn phân tâm
học” (tr.120), v.v…
Như vậy, từ khi ra đời, Biết đâu địa ngục thiên đường thực sự được độc
giả quan tâm. Mặc dù vậy, theo chúng tôi, những nhận xét trên mới dừng lại ở
một vài ấn tượng, cảm nghĩ; một số nhận xét lại đi vào từng vấn đề cụ thể của
tác giả chiếm lĩnh. Cho tới nay, theo chỗ chúng tôi biết được, chưa có công
trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, dài hơi về cuốn tiểu thuyết này. Bởi
thế, qua tiếp thu những điều cụ thể trong những công trình đi trước, chúng tôi
chọn vấn đề Người trí thức tìm đường trong tiểu thuyết Biết đâu địa ngục
thiên đường của Nguyễn Khắc Phê làm đề tài luận văn như một công trình
chuyên biệt.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài Người trí thức tìm đường trong tiểu thuyết Biết
đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê, mục đích luận văn muốn
đi sâu khảo sát, phân tích, xác định vấn đề tìm đường của người trí thức Việt
Nam trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc. Đồng thời giúp người đọc có cái
nhìn toàn diện hơn khi tìm hiểu, đánh giá tác phẩm Biết đâu địa ngục thiên
đường của Nguyễn Khắc Phê.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hành trình tìm đường của người trí thức
trong tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê
4.2. Phạm vi khảo sát
Tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê, 2010,
NXB Phụ nữ, Hà Nội.
Ngoài ra, luận văn có tham khảo thêm các tác phẩm khác của Nguyễn
Khắc Phê và các nhà văn viết trước đó cùng đề tài, như: Hoàng Minh Tường
19
- Chương 3: Nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Khắc Phê trong Biết đâu
địa ngục thiên đường.
Chương 1
TIỂU THUYẾT BIẾT ĐÂU ĐỊA NGỤC THIÊN ĐƯỜNG
TRONG VĂN NGHIỆP CỦA NGUYỄN KHẮC PHÊ
1.1. Hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Khắc Phê
1.1.1. Cuộc đời của Nguyễn Khắc Phê với con số 9 định mệnh
Khi tìm hiểu về cuộc đời Nguyễn Khắc Phê, điểm thú vị nhất chúng tôi
nhận thấy là sự “tổng kết” đời người, đời văn hết sức độc đáo của ông.
Nguyễn Khắc Phê đã gắn cuộc đời mình với con số 9 định mệnh. Bài viết
Những “nút” số 9 trong cuộc đời của tôi (71, tr.203) đã nói rõ hơn điều này.
Nguyễn Khắc Phê sinh ngày 26.4.1939 ở xã Sơn Hòa, huyện Hương
Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Hà Tĩnh nói riêng, miền Trung nói chung, là vùng đất khô
cằn sỏi đá, khí hậu khắc nghiệt với “đặc sản” gió Lào. Nguyễn Bùi Vợi từng
thở than: “Gió Lào thổi rạc bờ tre/ Chỉ qua giọng nói đã nghe nhọc nhằn”.
Nữ sĩ Xuân Quỳnh cũng đã từng nói: “Em mới về, em chưa biết gì đâu/ Chỉ
thấy cát và gió Lào quạt lửa”. Tuy vậy, đây cũng là vùng “địa linh nhân
kiệt”. Và con người nơi đây cũng rất cực đoan, xét cả từ hai phía dữ dội và ân
tình, nói như Chế Lan Viên là “Yêu và căm hai đợt sóng ào ào”.
Xuất thân trong gia đình có 9 người con (chưa kể thân phụ ông đã có 5
người con với người vợ trước), thân sinh của nhà văn Nguyễn Khắc Phê là cụ
Nguyễn Khắc Niêm từng đỗ Hoàng giáp Tiến sĩ năm 19 tuổi. Dòng họ
Nguyễn Khắc cũng là dòng họ có từ lâu đời (từ thế kỷ XIV) và là một dòng
họ khá lớn với nhiều người đỗ đạt cao: người đầu tiên của dòng họ là Tiến sĩ
Nguyễn Khắc Thiệu như trong Gia phả họ Nguyễn Khắc có ghi (dịch): “Thần
tổ ta xưa quán Bắc Hà/ Đỗ đại khoa năm Vĩnh Tộ triều Lê/ Làm quan suốt
(Quảng Bình). Nguyễn Khắc Phê học “Trường bồi dưỡng viết văn trẻ” khóa 3
trong thời gian 9 tháng và tốt nghiệp trường này năm 1969. Đời viết văn của
ông có nhiều tác phẩm, riêng sách có 15 cuốn, nhưng mới “chỉ” có 9 cuốn
21
tiểu thuyết, có điều, chừng ấy cũng đủ để ông nhận được 9 giải thưởng văn
học ở địa phương và Trung ương!
Con số 9 định mệnh còn theo đuổi Nguyễn Khắc Phê ở các lĩnh vực khác
nữa: ông công tác ở Tạp chí Sông Hương từ năm 1983 đến năm 1991, vừa
tròn 9 năm và được giữ chức Tổng biên tập vỏn vẹn…9 tháng! Ông là “đối
tượng Đảng” được tròn 19 năm (1963 - 1982) thì kết nạp vào tháng 9 năm
1982 (xin nói thêm một thông tin thú vị: người anh ruột của ông, GS Nguyễn
Khắc Phi còn có “thâm niên” đối tượng Đảng lâu hơn ông nhiều: thầy là đối
tượng Đảng từ 1963 ở trường ĐHSP Vinh, kết nạp Đảng năm 1990 ở NXB
Giáo dục, tròn 27 năm, bội số của 9!). Hiện nay nhà văn Nguyễn Khắc Phê
đang có dự định tập hợp từ hàng trăm bài báo của mình để ra tập “99 bài báo
chọn lọc”. Ngoài ra cũng phải kể thêm: ông sinh Kỷ Mão (1939) lấy vợ sinh
Kỷ Sửu (1949) và “hình như” người yêu (nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ) cũng sinh
Kỷ Sửu! Nhà văn Nguyễn Quang Lập từng viết về chuyện này: “Chuyện NKP
đòi cưới Lâm Thị Mỹ Dạ dân văn nghệ Bình Trị Thiên ai cũng biết. Ngày đó
chị Dạ 19 tuổi đẹp mê tơi, mấy ông Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khắc Phê tất
nhiên là mê tít. Anh Phê thậm chí còn đòi cưới cho được chị Dạ, kẹt vì mạ chị
Dạ không cho, nói con Dạ cũng con địa chủ, anh cũng con địa chủ ai cho lấy,
mà lấy rồi sống mần răng nổi” (Tuần san Thanh niên, 2010).
Quả là một nhà văn có số phận lạ kỳ nhưng hết sức thú vị.
Được sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn hóa, văn học như
thế, Nguyễn Khắc Phê thừa hưởng được cái vốn văn học từ người cha giỏi
văn cũng như rất đáng kính về lối sống giản dị, thanh bạch. Nguyễn Khắc Phê
- Giai đoạn thứ 2 (1969 - 1989): Nhờ có tập ký sự trên, Nguyễn Khắc
Phê được gọi ra học ở “Trường bồi dưỡng viết văn trẻ” khóa 3 với các thầy
Nguyên Hồng, Kim Lân, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Xuân Sanh, …
Vào nghề văn, với Nguyễn Khắc Phê, cũng giống như vào chiến trường vậy.
Mỗi vùng đã đi qua ông để lại dấu ấn bằng những đứa “con cưng” của mình.
Khi tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khắc Phê, hẳn người đọc một
thời không thể không háo hức với những tác phẩm của ông. Hết Đường qua
làng Hạ (1976) đến Đường giáp mặt trận (1976, tái bản lần 2 năm 2011 được
tác giả đổi tên là Đường đỏ đá xanh, đúng như tên cũ lúc gửi in lần đầu). Đọc
23
qua Chỗ đứng người kỹ sư (tiểu thuyết, 1980) người đọc sẽ tới Miền xa kêu
gọi (tiểu thuyết, 1985), Những cánh cửa đã mở (tiểu thuyết, 1986), Nếu được
chết thay em (tiểu thuyết, 1989), cùng với rất nhiều bài báo, tản văn, ký. Hàng
loạt tác phẩm ra đời đã khẳng định tên tuổi của Nguyễn Khắc Phê.
- Giai đoạn thứ 3 (1990 đến nay): Ông vừa chuyên tâm sáng tác, vừa giữ
cương vị Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương (9 tháng), sau chuyển sang làm
Phó Chủ tịch Hội văn nghệ Thừa Thiên - Huế. Bên cạnh những bài báo,
những công trình khảo cứu, trong đó có chuyên luận Hiện thực sáng tạo và
tác phẩm văn nghệ, NXB Hội nhà văn, 2006 rất bổ ích cho công tác nghiên
cứu là các tác phẩm: Những ngọn lửa xanh, (tiểu thuyết, NXB Phụ nữ, 2008),
Nguyễn Khắc Phê - Tản văn chọn lọc (NXB Văn nghệ 2009), Thập giá giữa
rừng sâu (2002), và hiện nay đang chuẩn bị ra tập 99 bài báo chọn lọc. Mỗi
tác phẩm là một điểm tựa để nhà văn có thể vững bước hơn trên con đường đi
vào làng văn chương. Đặc biệt, cuốn tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên
đường, cuốn tiểu thuyết thứ 9 trong sự nghiệp sáng tác của mình, đồng thời
cũng là cuốn sách lập nhiều kỷ lục (chúng tôi sẽ đề cập đến ở mục sau) thì
Nguyễn Khắc Phê đã “định vị” vững chắc trong làng văn Việt Nam.
sát rồi Bố chánh Nghệ An; Thị lang, Tham tri bộ Hình,…Nói cách khác,
Nguyễn Khắc Phê không đơn thuần chỉ là “con nhà quan” mà là con quan
lớn. Tuy sinh trưởng trong một gia đình như thế, là “con nhà quan” nhưng
tính tình Nguyễn Khắc Phê lại rất cởi mở, hòa đồng, giản dị. Chưa gặp ông, ít
ai nghĩ một con người sinh trưởng trong một gia đình như thế, lại là một nhà
văn có “chỗ đứng” như thế mà lại có “tính nhà lính” đến như thế, như chính
ông đã có lúc thừa nhận về mình: “Chúng ta thường nghe câu “con nhà lính,
tính nhà quan”, nhưng tôi thì “con nhà quan, tính nhà lính”. Chất “lính” đã
thể hiện từ khi còn chiến đấu trên đường Trường Sơn cho đến ngòi bút bây
giờ vẫn luôn luôn như một người lính chiến đấu vì sự thật, vì cuộc sống tốt
đẹp của Tổ Quốc và nhân dân” (Bích Phượng: “Tự bạch” và đối thoại, báo
Văn nghệ, 2009).
25
Với mọi người, Nguyễn Khắc Phê để lại trong họ nhiều ấn tượng đẹp.
Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng “Tôi rất quý mến anh, bởi cái tính tính giản dị
và rất là chí tình đối với bạn bè” (71, tr.67). Có lẽ cái tính tình giản dị và rất
chí tình ở Nguyễn Khắc Phê chính là một phần chất “lính” ở ông.
Lối sống cởi mở, hòa đồng, giản dị là điều ta dễ bắt gặp trong cách sinh
hoạt của nhà văn. Bích Phượng, một phóng viên của Đài truyền hình VCTV1,
khi phỏng vấn nhà văn (năm 2009), đã nhận xét về ông, rằng ông là người
“cởi mở và thẳng thắn”. Có lẽ vì tính tình ấy mà khi gặp những gương người
tốt việc tốt, những anh hùng trong sản xuất và chiến đấu,… ông không thể
không cầm ngòi bút, sử dụng “khiếu” văn chương của mình mà miêu tả về họ.
Ấn tượng của nhà văn Nguyễn Quang Lập về Nguyễn Khắc Phê lại là sự
giản dị, dễ gần: “anh mặc cái áo đại cán đã sờn, đội cái mũ lá, đi đôi dép cao
su y chang mấy ông cán bộ xã, bụng tấm tắc khen sao nhà văn giản dị thế. Té
ra anh ăn mặc “giản dị” như thế cho đến già, bất kể lúc nào, ở quê hay ra phố,
chữ “lạ”, một ít sex,... Nhưng ông không làm như thế bởi ông quan niệm sức
hấp dẫn của văn chương không chỉ có vậy mà còn muôn nẻo khác, miễn là
nhà văn có tài năng. Sách không hấp dẫn bạn đọc trước hết phải là do tài năng
của nhà văn chứ không phải mấy cái “kỹ thuật” câu khách ấy. Nguyễn Khắc
Phê viết một cách rất giản dị, không màu mè, tiểu xảo, không cần tạo yếu tố
giật gân... Cách viết của ông tưởng là “cũ cũ” vậy mà cuốn nào ra cũng tạo
nên sự chú ý nơi bạn đọc. Chỉ riêng tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường
vừa xuất bản 2010, đến năm 2011 đã phải tái bản, thế mà vừa ra đã bán hết.
Hai cuốn khác của ông, cuốn Đường giáp mặt trận (Đường đỏ đá xanh) và
Chỗ đứng người kỹ sư không còn bán trên thị trường trong khi nhu cầu bạn
đọc vẫn đòi hỏi nên cuối năm 2011 cũng đã tái bản,...
Chất “lính” trước hết thể hiện ở việc tác giả dù trong lửa đạn gian khổ
của đường Trường Sơn nhưng vẫn bám trụ đường và cổ vũ cho đồng chí của
mình bằng những bài báo, bài văn để họ vững tin bám trụ, mở đường Trường
Sơn và mở lối cho các chiến sĩ vào Nam chiến đấu trong cuộc chiến tranh
gian khổ, quyết liệt với đế quốc Mỹ. Bài bút ký Vì sự sống con đường (1968)
đã cổ xúy cho khá nhiều chiến sĩ trong cuộc hành quân mở đường. Ở tác
phẩm này, tác giả không viết về một cá nhân hay một đơn vị mà về hàng loạt
27
anh chị em Thanh niên xung phong và công nhân giao thông với nhiều con
người được khắc họa khá rõ nét. Dưới ngòi bút của tác giả, làm nên những
chuyện tưởng như “thần thoại” để góp công vào chiến thắng trong “cuộc
chiến thần thánh” với Mỹ lại không phải do thánh thần mà do chính ý chí
mạnh mẽ, sắt đá của những người thanh niên yêu nước. Tuy nhiên, tác giả
không sa vào kể lể thành tích của từng cá nhân hay tập thể mà cố gắng tập
trung ngòi bút trình bày thật trung thực, thật chính xác hành động của họ.
Chính những hành động ấy đã nói lên những con người với chiến công hiển