Nho sĩ hà tĩnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc thế kỉ XIX - Pdf 32

Mục lục

Phần A:

Mở đầu.

1. Lý do chọn đề tài

3

2. Lịch sử vấn đề

5

3. Đối tợng phạm vi nghiên cứu

7

ơng pháp 4.Phơng pháp nghiên cứu

7

5. Đóng góp của đế tài

7

6. Bố cục của đề tài

8

Phần B:


22

2.2. Đóng góp nho sỹ Hà Tĩnh trong các lĩnh vực khác

33

2.2.1. Một số nho sỹ trong lĩnh vực văn hoá.

33

2.2.2. Một số nho sỹ tiêu biểu trong lĩnh vực kinh tế.

49

2.2.3. Một số nho sỹ tiêu biểu trong lĩnh vực ngoại giao.

53

Chơng 3:

Nho sỹ Hà Tĩnh trong phong trào Cần Vơng
cuối thế ký XIX

55

3.1. Bối cảnh Hà Tĩnh trớc phong trào Cần Vơng.

55



Suốt hàng ngàn năm dựng nớc và giữ nớc, Nhân dân ta đã đổ biết bao xơng
máu, công sức để gìn giữ giá trị, tinh hoa văn hoá dân tộc.
Cùng với cả nớc Hà Tĩnh luôn phấn đấu, rèn luyện trong cuộc đấu tranh xây dựng và
bảo vệ quê hơng đất nớc, ngời dân Hà Tĩnh luôn nhận thấy đợc trách nhiệm của mình trớc
thời cuộc, trớc mọi yêu cầu lịch sử, đóng góp công sức của mình trong suốt chiều dài đầy
gian khổ nhng cũng rất đỗi kiên cờng anh dũng của dân tộc.
Để xây dựng nên một đất nớc hùng mạnh không thể thiếu những ngời cầm cân nẩy
mực, không thể thiếu những nhân tài. Để đa đất nớc vợt qua những vợt qua những thử thách
hiểm nghèo, có những ngời đợc dân tộc trao cho nhiệm vụ thiêng liêng, gắn với sự sinh tồn
dân tộc.
Do nhu cầu thời đại, các triều đại phong kiến luôn luôn đề cao việc giáo dục đào tạo,
tuyển lựa nhân tài. Muốn thành ngời có ích cho xã hội, các sĩ tử dùi mài kinh sử, ban ngày
lam lũ ngoài đồng ruộng, đêm về bên chiếc đèn dầu leo lét, thế mà họ làm nên những
điều kỳ diệu, họ khiến cho chúng ta phải ngỡ ngàng trớc kiến thức uyên bác, tài trí hơn ngời
hay chúng ta thờng gọi họ là những bậc kiệt xuất.

Hà Tĩnh có một lực lợng lớn nhân tài, những ông nghè, ông cống mà không
ai có thể phủ nhận, cùng Nghệ An - Xứ Nghệ cứ ra ngõ là gặp anh hùng đã nói
lên tất cả, thể hiện ý chí, siêng năng cần cù của con ngời xứ Nghệ trong học hành.
Họ không màng làm quan hởng lợi, mà giúp vua cứu nớc, cứu dân, họ trở thành
chỗ dựa vững chắc cho nhân dân, một lực lợng nòng cốt trong triều đình phong
kiến suốt bao thế kỷ, họ đã đóng góp công sức của mình mọi lúc mọi nơi, trong
tất cả các lĩnh vực.
Nguyễn Du với tác phẩm Truyện Kiều bất hủ làm rạng danh đất Tiên Điền,
một dòng họ nhiều đời đời làm quan. Rồi Nguyễn Công Trứ đã để lại trong tâm trí
ngời Việt Nam một chân dung ự tại, một nhà thơ đa tình phong lu, song là một vị
tớng quân sự tài ba, một nhà kinh tế. Nhắc đến đây ta càng không thể quên một
nho sĩ của của phong trào Cần Vơng (1985- 1986): cụ Phan Đình Phùng. Còn rất
nhiều, rất nhiều nữa. Mỗi con ngời có một hoàn cảnh xuất thân riêng, danh phận

những bậc tìên bối tiêu biểu của quê hơng, đó là dịp để tởng nhớ đến họ, thể hiện
lòng ngỡng mộ, sự biết ơn đến cha anh, các vị tiền bối của quê hơng mình, nhờ có
họ mà chúng tôi có đợc cuộc sống nh ngày hôm nayĩpuất phát từ những lý do
trên, Tôi mạnh dạn chọn đề tài Nho sỹ Hà Tĩnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc thế kỷ XIX làm khoá luận tốt nghiệp của mình.. Tôi mong rằng tôi sẽ
đợc củng cố thêm kiến thức về lịch sử địa phơng cũng nh lịch sử dân tộc. Qua tấm
gơng sáng của cha ông, trởng thành hơn trong nhận thức t duy của mình sau này.
25


2. Lịch sử vấn đề:
Trải qua thăng thăng trầm dân tộc Việt Nam đã có biết bao trang sử vẻ vang. Thời
thế sinh anh hùng. Lịch sử đi qua không thể thiếu hình bóng các anh hùng, hào kiệt dù thời
đại nào họ cũng đợc xem là những ngời sáng tạo văn hoá dân tộc, xây dựng nền độc lập quốc
gia.

Trong suốt chiều dài lịch sử, nhân dân Hà Tĩnh không ngừng nỗ lực học
tập, rèn luyện, lao động sáng tạo trong sản xuất, đạt nhiều thành tựu trong sự
nghiệp xây dựng quê hơng, đất nớc mình.
Có rất nhiều công trình viết về nho sĩ Hà Tĩnh thế kỷ XIX nói riêng và nhân Hà
Tĩnh nói chung trên nhiều khía cạnh. Có công trình nghiên cứu viết về từng nhân vật, từng
dòng họ, từng trận đánh, từng địa phơng tạo nên nét đặc sắc cho truyền thống của vùng quê
Hà Tĩnh. Bao gồn một số tác phẩm tiêu biểu nh:
Tài liệu viết về các danh nhân có các cuốn: Những ông Nghè ông Công Triều
Nguyễn của nhóm tác giả Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Lan Phơng, NXB VHTT_ HN,1995; Lợc
truyện các tác gia Viêt Nam do Trần Văn Giáp chủ biên, NXB Văn hoá. Tài liệu thông sử có
các cuốn Giáo trình lịch sử Việt Nam hiện đai, của tập thể cán bộ giảng dạy trờng ĐH
tổng hợp HN; Nớc ta một chặng đờng, Nxb, giáo dục năm, 1989 ; Lịch sử Tám mơi năm
chống Pháp tập 2, của Trần Huy Liệu, NXB Sử học, KHXH, HN1961; Chống xâm lăng
của Trần Văn Giàu, NXB KHXH, H 1975.

thế kỷ XIX, hy vọng có thể đóng góp một phần nào đó bổ sung vào khoảng
trống nói trên, đóng góp làm phong phú hơn tài liệu cho thế hệ sau nghiên cứu
và bổ sung.
Song tài liệu nghiên cứu trên là nền tảng, cơ sở ban đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho
các tác giả nghiên cứu vấn đề liên quan, từ đó có thể đi sâu phân tích, đối chiếu so sánh
với một số tài liệu địa phơng giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
3. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu:
Suốt thời gian dài Hà Tĩnh - Nghệ An hợp nhất lại gọi là Nghệ Tĩnh.Mặc dù vậy
từng địa phơng đợc cụ thể hoá riêng. Đối tợng nghiên cứu đề tài là nhằm tìm hiểu vai trò
nho sỹ trong phong ỷào đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thế kỷ XIX. Pham vi
nghiên cứu của đè tài ,dựa vào khả năng của mình chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu trong
pham vi giới han sau: Nhằm tìm hiểu một số nho sĩ têu biểu ở Hà Tĩnh. Không gian nghiên
cứu là ở Hà Tĩnh là trọng tâm, ngoài ra tác giả tìm hiểu các ở địa phơng khác nhằm làm
sáng tỏ vấn.
.4. Phơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu:
Khi thực hiện đề tài này tác giả đã sử dụng những tài liệu nghiên cứu liên quan: Tài
liệu chuyên khảo sát viết về các phong trào yêu nớc địa phơng, những đề tài liên quan đến
27


thế kỷ XIX trên tất cả các bình diện, để thấy đợc bối cảnh chung cả nớc tác động đến
phong trào từng địa phơng, các tạp chí, tài liệu lu trữ, địa phơng, nh Th viện tỉnh Nghệ
an, Hà Tĩnh., th viện Trờng Đại học Vinh, các nhà thờ họ, các di tích, miếu đền...
Để hoàn thành tốt đề tài nàytác giả sử dụng các phơng pháp chuyên ngành: đối chứng,
so sánh, phân tích, thống kê, sử dụng tài liệu từ đó đánh giá vấn đề, đồng thời sử dụng hai
phơng pháp lịch sử, phơng pháp logic để xâu chuổi, mở rộng các nguồn tài liệu, các sự
kiện, khôi phục lại diện mạo quá khứ, chân dung vai trò nhân vật trong bối cảnh lịch sử từ
đó có đợc đánh giá hoàn chỉnh hơn.
5. Đóng góp đề tài
Khoá luận này đợc trình bày một cách có hệ thống vai trò của tầng lớp nho sĩ Hà

hậu đầy khắc nghiệt. Hà Tĩnh vùng đất có một vị trí chiến lợc quan trọng, nên chịu
nhiều. Đặc điểm này tác động mạnh mẽ đến tính cách ngời Hà Tĩnh, rèn đúc cho họ ý
chí kiên cờng, chịu thơng chịu khó, chung thuỷ, đoàn kết thơng yêu đùm bọc lẫn nhau.
Hà Tĩnh đợc xem là vùng đất có truyền thống khoa cử. Nhắc đến Hà Tĩnh chúng ta
không thể không nhắc đến vùng xứ Nghệ bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh, bởi xa kia
vùng đất này là chung một địa danh Châu Hoan trấn Nghệ An. Mảnh đấi này đợc xem là
địa linh nhân kiệt. Nghệ Tĩnh là vùng đất cứ ra ngõ là gặp anh hùng. họ đã làm rạng
danh quê hơng mình, xứng đáng là những vì sao của đất nớc.
1.1. Điều kiện địa lý:

29


Hà Tĩnh có hình thể nh một hình thang lệch, bề rộng phía Bắc 85km, phía Nam
90km, chiều dài theo bờ biển 137km. Hà Tĩnh là tỉnh thuộc phía Bắc Trung Bộ 17 o50
vĩ độ Bắc, 106o35 kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh
Quảng Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp hai tỉnh nớc bạn Lào là Khăm muộn,
Bô ly khăm xây. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 60,55km 2, với diện nhỏ lại có dân c đông
1.270.409 ngời, cả tỉnh có hai thị xã là thị xã Hồng Lĩnh và thị xã Hà Tĩnh, cả tỉnh có 9
huyện: Nghi Xuân, Đức Thọ, Hơng Sơn, Hơng Khê, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Can Lộc, Vũ
Quang, Thạch Hà.
Đây là vùng đất luôn gắn bó với cội nguồn lịch sử đất nớc và dân tộc.Trớc đây Hà
Tĩnh nằm trong vùng đất có tên Việt Thờng, đây là mảnh đất nằm trong khu vực phía
Nam của nớc Văn Lang -Âu Lạc mà theo Đại Việt sử ký toàn th có ghi phía Nam của Giao
Chỉ có họ Việt Thờng. Rồi đất nớc rơi vào thời kỳ đen tối khi Triệu Đà xâm chiếm Âu
Lạc. Hà Tĩnh nằm trong bộ Cửu Chân, suốt

bốn đời nhà Triệu. Khi nhà Hán xâm lợc Nam Việt, đất nớc bị chia năm xẻ bảy để
chúng dễ dàng cai trị thay , do đó mảnh đất Hà Tĩnh luôn biến đổi trải qua các
triều đại.

Lu Hạnh với danh thắng tự nhiên mang đậm chất huyền thoại nh dãy núi Hồng Lĩnh với
truyền thuyết 99 con chim Hồng, khiến vùng đất này càng mang dáng vẻ huyền thoại thần
kỳ.
Thiên nhiên đẹp thơ mộng là vậy, song khí hậu lại hoàn toàn trái ngợc, với một miền
đất khá khô hạn nghèo nàn bởi vị trí địa lý, cộng thêm thời tiết quá khắc nghiệt làm cho
cuộc sống nơi đây đã khó lại càng khó hơn.
Mùa hè gió nóng thổi hoài.
Qua thu ma vẫn dằng dai không ngừng
Tháng mời nớc lũ còn dâng
Tết Trùng dơng cúc cha từng nở hoa
Ngất trời những núi nguy nga

Khắp nơi cát đọng toàn là bãi không
Gạo ăn rắn tựa đá nung
Nớc triều reo tựa quạ đồng kêu van
Bài thơ của cụ Bùi Huy Bích viết về miền đất khắc nghiệt Hoan Châu đã diễn tả
phần nào thời tiết nơi đây. Nằm ở phía Đông Bắc của núi Nam Giới, nhiệt độ mùa hè 40 oc,
31


mùa lạnh 20oc. Có lúc đột ngột tụt xuống 6 - 7 oc. Ngoài mùa Đông Bác còn có gió lào Tây nam
làm khí hậu khô nóng và khó chịu, cây cối khô héo, ruộng vờn nứt nẻ, thờng xuyên có bão
tố, lũ lụt, gió xoáy, cho con ngời cũng nh thiên nhiên nơi đây.
1.2.- Điều kiện lịch sử:

Đất đai cằn cỗi, thiên tai liên miên, ngời Nghệ Tĩnh đợc hun đúc tinh thần kiên cờng, dũng cảm, nhẫn nại có nhiều táo bạo, đổi mới trong t tởng cải tạo cuộc sống,
căn cơ giản dị, trung thành.Chính những phẩm chất tốt đẹp đó đã giúp họ vợt qua
mọi khó khăn trong cuộc sống, sáng tạo, chiến đấu từ đó họ nhận thức đợc rằng:
muốn làm cách mạng trớc hết họ phải ý thức đợc cái chết luôn nằm kề cạnh họ,
xem cái chết nhẹ tựa hồng mao. Ngời xa thờng nói : Ngời Nghệ Tĩnh ở góc

mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân xứ Nghệ, giáng cho kẻ thù những đòn
chí mạng.
Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV cả nớc bớc sang thời kỳ độc lập, tự chủ, nhân
dân Hà Tĩnh ra sức xây dựng phát triển kinh tế, dới sự trị vì của các triều đại Ngô
- Đinh Tiền Lê. Trong chiều dài lịch sử đó nhân dân Hà Tĩnh một lần nữa thể
hiện tinh thần lao động sáng tạo, cùng nhân dân cả nớc gây dựng, củng cố chính
quyền, con em họ ngày đêm dùi mài kinh sử, phò vua giúp nớc, họ đã chứng tỏ
cho nhân dân cả nớc thấy đợc sức mạnh tiềm tàng, bản chất kiên cờng, đã hy sinh
bản thân mình cho cuộc sống thanh bình của dân tộc.
Nhng cuộc sống thanh bình đã qua khi quân Minh sang xâm lợc nớc ta,
bằng chính sách chiêu dụ, bành trớng các nớc thần phục (lịch sử Hà Tĩnh) nhà
Minh từ chỗ dụ dỗ, uy hiếp, đe doạ vũ lực đã làm cho nhân dân ta phải nằm trong
hoạ diệt vong, trớc sự bất lực của nhà Hồ, nhân dân Đại Ngu không còn đợc sống
trong niềm vui suốt 20 năm, họ luôn nằm trong những ngày tháng ác mộng, cơ
cực đau thơng. Khổ quá, đau quá, cùng quá thì không có con đờng nào khác
ngoài đấu tranh để thoát khỏi cảnh sống hiện tại.
Khi cả nớc đang dấy lên cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi, nhân dân Hà Tĩnh
cũng đóng góp công sức xơng máu cùng hợp sức vào cuộc khởi nghĩa, họ cống
hiến cho độc lập quốc gia những ngời con u tú, những vị tớng xuất sắc tài ba.
Cuộc khởi nghĩa Đặng Tất ngời Can Lộc năm 1407 giết chết bọn quan lại nhà
Minh ở Hoá Châu, hợp sức với lực lợng Trần Ngỗi. Cuộc khởi nghĩa Đặng Tất đã
khẳng định ý chí đấu tranh của quê hơng này, làm nức lòng nhân dân địa phơng
và cả nớc. Noi gơng sáng của Đặng Tất các tớng sỹ nh Đặng Dung, Nguyễn Biểu
tôn Trần Quang Cán làm minh chủ đem quân về Hà Tĩnh tiếp tục cuộc cuộc
kháng chiến .
Đặng Dung kể cũng anh hùng
Nửa đêm truyền hịch đùng đùng tiến binh
Lên thuyền toan bắt tớng Minh
Đốt thiêu thuyền chích tan tành nh không.



34


thành tớng soái cao cấp của nghĩa quân Lam Sơn, là ngời con anh dũng của quê hơng Hà
Tĩnh.
Các thế kỷ sau khi đất nớc trải qua nhiều biến động lịch sử, nhân dân Hà Tĩnh luôn
bền gan, sắt đá gắn bó chặt chẽ cùng nhân dân cả nớc cần cù lao động sản xuất, họ trở
thành chổ dựa vững chắc cho những ngời lãnh đạo khi có biến động xẩy ra.
Thoát khỏi ách thống trị của giặc Minh, gần một trăm năm xây dựng, ngời dân nơi
đây lại phải gánh chịu đau thơng, khốn khổ của các cuộc chiến tranh huynh đệ tơng tàn,
cuộc chiến tranh - Trịnh Mạc, Trịnh - Nguyễn. Mảnh đất Hà Tĩnh nh một bãi chiến trờng.
Giặc ra thuyền chúa lại vào
Cửa nhà lại đổ hầm hào lại xây.
Rồi phong trào Tây Sơn của ba anh em Nguyễn Nhạc bùng nổ, mặc dù xứ Hà Tĩnh
không giữ vị trí quan trọng trong cuộc khởi nghĩa, song mảnh đất này đã chứng kiến bốn
lần quân Tây Sơn ra Bắc vào Nam, nhân dân Hà Tĩnh có nhiều đóng góp không nhỏ cho
cuộc khởi nghĩa nh: Nguyễn Nệ, Hồ Phi Chấn , Dơng Văn Tào , Đặng Quốc Công..

Bớc sang thời kỳ đầy biến loạn của thời cuộc, khi một triều đại phong kiến
đang trên đờng suy tàn, bên trong đã mục nát lại dựa trên hệ t tởng nho giáo
không còn hợp với trào lu xu hớng thời đại mới. Triều đình phong kiến Nguyễn
đành bất lực trớc sự xâm nhập của T bản phơng Tây. Nhân dân không thể trông
chờ vào giai cấp này, họ chỉ dựa vào sức mạnh tập thể của quần chúng nhân dân
để cứu lấy chính mình. Phong trào Văn thân, CầnVơng của nhân dân Hà Tĩnh,
tiêu biểu là khởi nghĩa của Lê Ninh, Phan Đình Phùng đã làm cho Pháp
gặp nhiều khó khăn khi bình định đợc nớc ta.
Đó là thời điểm mà trào lu t tởng mới đang trở thành một làn sóng du nhập vào nớc ta, tác động mạnh mẽ đến tầng lớp tri thức trong cả nớc, làm cho phong trào
đấu tranh chống Pháp trong thời kỳ này của các sĩ phu diễn ra dới
nhiều hình thức, tạo tiền đề cho sự ra đời của chính Đảng cộng sản ở nớc ta mà

Con ngời nơi đây hàng ngày phải đối mặt với cái khổ, nên tính cách của họ không
mấy mĩ miều, uyển chuyển nh các vùng khác, họ có chút ơng bớng, cộc cằn song cũng tạo
nên tính cách cơng nghị, dũng cảm của ngời xứ Nghệ. Họ thẳng thắn trong cuộc sống hàng
ngày đối đáp c xử, song trong họ ẩn chứa tình yêu ngời, lòng thơng cảm đối với con ngời,
đoàn kết gắn bó trong mọi hoàn cảnh, họ thấm thía đợc sự khổ của chính quê hơng mình.
Do đất đai cằn cỗi, giặc giã, thiên tai liên miên, nên họ đã hun đúc tính kiên cờng, nhẫn nại
nhng không nhẫn nhục, cách sống của họ rất táo bạo để phù hợp với điều kiện cuộc sống nơi
đâ. Phải chăng tính cách đó đã tạo ra khí chất anh hùng, họ biết chắt chiu tiết kiệm, cần
cù, giản dị khiêm nhờng. Chỉ điểm qua và suy nghĩ qua thôi cũng đủ để ta hiểu đợc vì
36


sao con ngời nơi đây kiên cờng đến thế, dũng cảm đến thế, tạo nên truyền thống anh hùng
bất khuất cho dân tộc ta trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc.
1.3.1 Ngời Hà Tĩnh
Miền Nghệ Tĩnh gắn với lịch sử dân tộc từ thuở khai thiên lập địa, từ thời Văn
Lang Âu Lạc, Giáo s Nguyễn Tài Cẩn có nói trong các vùng phơng ngữ Việt Nam thì vùng
phơng ngữ Nghệ An, Hà Tĩnh-Quảng Bình có vị trí đặc biệt.
Đờng vô xứ nghệ quanh co, phong cảnh đó đã lôi cuốn biết bao du khách đến thăm.
Nằm ở vị trí đầu sóng ngọn gió của tổ quốc, miền quê nghèo nàn, cuộc sống cơ cực, bởi bao
đời nay họ đóng vai trò phên dậu che súng, chắn đạn của kẻ thù, đất đai khô cằn sỏi đá.
Song phải thấy rằng phong cách của miền Xứ Nghệ rất đẹp, thơ mộng, nó không lung linh
huyền ảo nh vùng quê khác mà thiêng liêng, có chút hoang sơ của miền khí hậu nhiệt đới, nhng lại đẹp nh tranh hoạ đồ.
Có thể nhận ra rằng trên một miền quê đầy khó khăn, khắc nghiệt đã phần

nào tạo nên tính cách của con ngời xứ Nghệ, con ngời nơi đây đã sồng nh bộ lạc
chung của xứ Việt thờng. Rồi trải qua bao thời đại quê hơng xứ nghệ thay đổi bao
tên gọi khác nhau theo biến động của các thời cuộc, từ vùng đất Cửu Chân, Quận
Cửu Đức thời thuộc Ngô, Đức Châu thời Lơng, hoan châu thời Đờng, đến một
trại, một thừa, tuyên, tỉnh.

hiến Hồng Lam, cùng dân cá gỗ, đều là kẻ ngời dân chân chất, hiền lành, giản dị, có
thể nói là cục mịch, không lụa là trau chuốt nh các miền quê khác.
Nếu Nghệ An có họ Cao, họ Đặng ở Diễn Châu, họ Hồ ở Quỳnh Lu, họ Nguyễn ở
Nghi Lộc. Nhất là miền đất Thanh Chơng các nhà khoa bảng đỗ đạt

cao thì miền Hà Tĩnh có các dòng họ lớn nh họ Nguyễn ở Tiên điền - Nghi Xuân,
Can Lộc có họ Nguyễn Trờng Lu, họ Nguyễn Chí; ở Thạch Hà có họ Nguyễn
Huy; ở Đức Thọ có họ Lê, họ Phan; ở Hơng Sơn có họ Nguyễn Khắc, họ Đinh
Nho, Lê Khánh.
Đây miền đất nhiều khoa bảng mà những vùng đất khác không có đợc, hầu nh tên
tuổi lớn đều ở vùng đất này. Nghệ An có Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu; Hồ Quý Ly. Hà
Tĩnh có Trần Phú, Sử Hi Nhan, Nguyễn Công Trứ. Nếu nh ở Nghệ An có bà Hồ Xuân Hơng thì Hà Tĩnh có Nguyễn Du, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Công Trứ. Những con ngời nơi
đây đã tạo ra lý tởng của xứ Hồng Lam, thể hiện ở những câu thơ đầu tiên và hay nhất
trong nền sử học, văn học nớc nhà của Đặng Dung:

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ đỗ long truyền đái nguyệt ma.

Khó có thể kể ra hết những ngời tài của xứ Cá gỗ này nhng dù sao Nghệ An vẫn cứ
đẩy Hà Tĩnh nhận phần tiêu biểu cho quê hơng mình (Văn hoá Hà Tĩnh tr.62). Do đó
mà ngời ta thờng gọi Quan Xứ Nghệ phải chăng dành cho: Quan họ Nguyễn ở Tiên Điền;
quan họ Cao, họ Đặng ở Diễn Châu. Các quan xứ Nghệ đi đâu cũng đợc coi trọng, nổi
38


tiếng thanh liêm, kiên quyết, ngang tàng đặc biệt ở các chức Ngự Sử mà nó chỉ có Hà
Tĩnh mà thôi. Nh Bùi Cầm Hồ (thời Lê); Nguyễn Văn Giàu thời (Lê Duy Hng); Phan Đình
Phùng (thời Nguyễn), ngoài ra tên tuổi khác nh: La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, ông tổ nghề
thuốc nh: Hải Thợng Lãn Ông cho đến Thánh địa lý Tả Ao.
Truyền thống khoa bảng là một trong những nét đặc trng văn hoá của dân tộc, hun



quán riêng biệt, sinh hoạt hàng ngày của c dân nơi đây. Vì thế các ngành nghề thủ công
của làng cũng là nét văn hoá đặc sắc dân tộc. Vùng đất Hà Tĩnh có rất nhiều nghề thủ
công truyền thống nh nghề làm nón ở Kỳ Anh, nghề nuôi tằm, dệt vải ở Can Lộc, nghề nồi
đất ở cổ Đạm - Nghi Xuân.
Do các nghề thủ công phát triển nên giao thông, chợ búa cũng phát triển, xuất hiện các
phờng hội nơi trao đổi nổi tiếng trong vùng nh chợ Giang Đình, chợ Cổ Đạm ở Nghi Xuân...
tạo cơ sở cho sự giao lu buôn bán hàng hoá, đặc biệt là trong văn hoá giữa các vùng. Chính
nhờ trong lao động sản xuất mà họ dần dần tích luỹ kinh nghiệm sống, lao động sản xuất,
tri thức lịch sử thông qua câu ca dao, câu chuyện kể, nên ngời dân nơi đây họ thông thạo
từ sử làng đến sử họ. Rồi từ đó kinh nghiệm cuộc sống cũng đợc tích luỹ để răn dạy con
cháu bằng những câu thơ mộc mạc chân quê dễ hiểu.
Xứ Nghệ là vùng đất thơ, khó có nơi nào có thể sánh bằng, nơi đây đã sản sinh những nhà
thơ của lớn dân tộc, họ trở thành những nhà thơ lớn của dân gian trự trung, trự hiểu, trự
tình là ba.
Đất và ngời Hà Tĩnh tạo ra bản sắc văn hoá riêng của mình, để đóng góp một phần
vào truyền thống văn hoá chung của dân tộc, đóng góp đó không chỉ có ý nghĩa trong thời
đại hôm nay mà còn có giá trị mai sau.

Chơng 3:

nho sĩ Hà Tĩnh trong phong trào đấu
tranh bảo vệ tổ quốc.

3.1- Bối cảnh Hà Tĩnh trớc phong trào Cần Vơng:
Từ một xã hội thuần phong kiến, nhân dân ta trải qua chặng đờng dài lịch sử, đúc
kết tinh hoa nhân loại suốt bao thế kỷ. Song chính sách đóng cửa khoá nớc của nhà
Nguyễn báo hiệu cho sự suy tàn của một thời đại trớc biến động của lịch sử.
40

41


cho Pháp - một kẻ bị xâm lợc lại phải bồi thờng cho kẻ đi xâm lợc, thì bên ngoài phong trào
đấu trạnh của nhân dân dới sự lãnh đạo của các sỹ phu yêu nớc lại dấy lên mạnh mẽ.
Nhân dân dới sự lãnh đạo của tầng lớp văn nhân, sỹ phu, lầ tầng lớp nòng cốt của cách
mạng, sớm tiếp thu t tởng mới, trào lu mới của thời đại, họ lại càng ý thức trách nhiệm trớc thời
cuộc. Nhng điều quan trọng ở họ là những bậc nho học lỗi lạc, uyên thâm thì t tởng trung
quân, ái quốc lại rất đợc coi trọng. Hơn ai hết, họ ý thức đợc rằng một dân tộc mà từ Triệu,
Đinh, Lý, Trần bao đời xây lên độc lập, hàng ngàn năm chống ngoại xâm, ông cha ta không
chịu khuất phục trớc kẻ thù nào, thì chính họ phải đứng ra gánh trách nhiệm bảo vệ giang
sơn Tổ quốc, bảo vệ thành quả vĩ đại của cha ông mình.
Trớc vận mệnh lịch sử, họ tỏ rõ cho nhân dân cả nớc thấy đợc chí khí anh hùng của
ngời con xứ Nghệ.
Nhân dân cả nớc phẫn nộ lên án bè lũ bán nớc, thì văn thân sỹ phu Hà Tĩnh cũng nh các
địa phơng khác dẫy lên chống lại hành động đầu hàng của triều đình. Trong triều đình
trớc thái độ của Từ Đức, Trơng Đăng Quế tỏ thái độ không khoan nhợng và không nhợng bộ bất
kỳ yêu cầu nào của Pháp, ông dâng sớ lên Tự Đức tỏ sự bất mãn về các điều khoản trong hiệp
ớc. Rồi Nguyễn Tri Phơng cũng luôn có các cuộc đối đầu giao tranh với tớng Pháp và Tự Đức.
Trớc tình hình đó tầng lớp văn thân, sỹ phu Hà Tĩnh nói riêng và nhân dân cả nớc nói
chung đã và sẽ luôn thù địch với triều đình và Pháp.
Ngày 01/9/1858 thực dân Pháp nổ súng ở Cửa Hàn (Đà Nẵng Quảng Ngãi)

trắng trợn phát động kháng chiến xâm lợc Việt Nam. Trớc sự tấn công hung bạo
của kẻ thù, triều đình không dám kiên quyết kháng chiến vua quan nhà Nguyến
lùi bớc này đến bớc khác để rồi ký bản điều ớc Nhâm Tuất ngày 8/6/1862, cắt 3
tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp, sự kiện này gây lên một sự phẫn nộ lớn trong
nhân sỹ cả nớc. Mà sau này Giám mục Sohier đại diện toà giáo khu Bắc Đàng
trong cũng mô tả sự cố này nh sau: Tin này (sự chiếm đóng 3 tỉnh miền Tây) khi
đến kinh đô đã gây xáo động lớn và sự phẫn nộ mãnh liệt. ấy là đúng ngay lúc các

Năm 1873 Pháp nổ súng đánh chiếm Hà Nội và một số tỉnh ngoài Bắc. Triều đình
ký điều ớc 15/05/1874 xác nhận quyền chiếm đóng ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Nhân
dân Hà Tĩnh dới sự lãnh đạo của văn thân, sĩ phu đứng lên tổ chức nhiều cuộc đấu tranh
chống lại triều đình và thực dân Pháp. Sau hành động của Phan Huân thì một số cuộc đấu
tranh nổ ra ở đây đó là cuộc đấu tranh của giặc cờ vàng do Trần Quang Cán và Nguyễn
Huy Điển lãnh đạo, đã phối hợp sĩ phu Nghệ An của Trần Tấn và Đặng Nh Mai làm cho
vùng đất miền Trung luôn nổ ra các cuộc xung đột với nghĩa quân và giai cấp cầm quyền
Pháp.
Trần Quang Cán quê ở xã Phúc Dơng nay là xã Sơn Trung, huyện Hơng Sơn, phối hợp với
các tù trởng có thể lực trong vùng Quảng Bình. Nguyễn Huy Điển quê ở làng Nguỵ nay là xã
Thành Hà là một ngời yêu nớc có uy tín xứ Hà Tĩnh. Khi trong nội bộ triều đình phân
43


tranh hai phái chủ hoà, chủ chiến, Nguyễn Huy Điền trở thành gai nhọn trong mắt của bọn
phản động nên ông bị bắt giam. Giữa lúc nghĩa quân ở Nghệ An có những thắng lợi dồn
dập. 4/1874 Trần Quang Cán kết hợp nghĩa quân Quảng Bình đánh chiếm Hơng Sơn, Hơng Khê, Đức Thọ. Đang lúc thắng thế nghĩa quân tập trung lực lợng đánh Nam Hà Tĩnh,
Nghĩa quân đã giải thoát cho Nguyễn Huy Điển, sau khi phá thành Trần Quang Cán chia
quân đi đóng giữ các nơi hiểm yếu.Sau khi ra khỏi nhà lao Nguyễn Huy Điển trở thành tớng cầm quân cùng Trần Quang Cán chiến đấu chống giặc, ông đã chiêu tập các sĩ phu và
nhân dân vùng Thanh Hà -Can Lộc tổ chức chiến đấu ở nam Hà Tĩnh (Cẩm Xuyên Hà
Tĩnh).
Trớc sức đấu tranh của nhân dân, Tự Đức vô cùng lo sợ nhà Vua đã điều
500 quân cấm vệ và ra lệnh cho hai khâm sai là Nguyễn Chinh và Vũ Trọng Bình đang
đến dẹp loạn bọn thơng nhân ngời Hoa ở các đạo cao nguyên vùng núi Bắc kỳ, tung ra một
cuộc tấn công từ miền Bắc nhng không ngăn cản đợc sức mạnh của nhân Hà Tĩnh , họ đã hạ
đợc thành Hà Tĩnh vào tháng 5 và kiểm soát hai tỉnh Nghệ Tĩnh. các đờng bộ giữa Huế
và bắc kỳ bị cắt đứt, buộc triều đình Huế phải dùng tàu thuỷ để lập lại sự liên lạc của hai
vùng. Tự Đức cho một lực lợng quân mạnh nhất do Nguyễn Văn Tờng chỉ huy, Tôn Thất
Thuyết đợc lệnh đợc điều 2000 binh đến hai tỉnh, đến cuối tháng 7, quân đội chính phủ
lấy lại thành Hà Tĩnh và kiểm soát đợc hai vùng này. Lúc này vì do Triều đình đã nhờng

thời cuộc, nắm rõ xu thế phát triển của nền chính trị nớc nhà, khi có biến động ngay lập
tức hởng ứng, vận động tập trung nhân dân chống lại nhằm bình ổn đất nớc.
Hôm nay hỡi các bạn, hãy chiến đấu cho công lý
Hãy quyết tâm ra bãi chiến trờng
Tầng lớp văn thân là lực lợng gần gũi nhân dân, họ ý thức đợc khi thảm hoạ mất nớc
đến thì nhân dân họ, con em họ sẽ là những ngời chịu đau đớn đầu tiên, thì họ không
thể kiếm sao cắt nách mà ngơ cho đành trớc luồng gió tanh đang thồi vào nớc ta. Đây là
thời điểm mà các anh thể hiện bản lĩnh của mình trớc thời cuộc, họ không chỉ thể hiện
tài ba của mình trên con đờng đèn sách khoa cử mà họ còn tỏ rõ bản lĩnh kiên cờng dũng cảm
trên con đờng binh

nghiệp trở thành ngời quân tử song toàn.
Sự thất bại năm 1874 cha thể dập tắt đợc ngọn lửa đấu tranh mạnh mẽ ở
nơi đây, âm thanh hùng tráng của nó vẫn còn ngân vang trong lòng mỗi ngời dân
Hà Tĩnh. Thì những sự kiện diễn ra trong 2 năm 1883 1884m cụ thể hai hiệu ớc đầu hàng nhục nhã của Triều đình Nguyễn trớc thực dân Pháp từ đó Pháp trắng
trợn nổ súng vào kinh thành Huế (5171, 1885). Trong triều đình thì biến động sau
một loạt cuộc phế, lập. Trớc tình hình đó Vua Hàm Nghi theo Tôn Thất Thuyết
ngời cầm đầu phái chủ chiến trong triều đình lúc bấy giờ chạy ra Bắc và tại sơn
45


phòng Quảng Trị Chiếu Cần Vơng thứ nhất đợc ban bố vào ngày 13/7/1885. Đây
là lời kêu gọi các nhân sĩ và nhân dân trong cả nớc đứng dậy đánh giặc giúp Vua.
Từ khi Chiếu đợc ban bố đã tạo làn sóng đấu tranh cho nhân dân cả nớc vốn nó đã
đợc khơi mầm từ trớc.
Văn thân sĩ phu quê hơng Hà Tĩnh hởng ứng chiếu Cần Vơng một cách mạnh mẽ, trở
thành phong trào đấu tranh rộng lớn thu hút đông đảo nhân dân trong, ngoài vùng cùng
tham gia. Mở đầu cho phong trào Cần Vơng Hà Tĩnh là cuộc khởi nghĩa Lê Ninh.
Lê Ninh hiệu là Mạnh Khangm sinh năm 1857 tại làng Trung Lễ, xã Cổ Ng. Ông sinh ra
trong gia đình nho học, cha là Lê Khanh giữ chức bố chánh tỉnh Bình Định song ông không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status