Nghiên cứu bệnh đốm nâu (cercospora arachidicola) và đốm đen (cercospora personata) hại lạc vụ đông xuân năm 2012 tại hu - Pdf 32

i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA NÔNG LÂM NGƯ
--------------

NGUYỄN THỊ THẮM

NGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM NÂU(CERCOSPORA
ARACHIDICOLA) VÀ ĐỐM ĐEN(CERCOSPORA
PERSONATA) HẠI LẠC VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2012
TẠI HUYỆN NGHI LỘC - NGHỆ AN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC

NGHỆ AN – 05/2012


ii

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA NÔNG LÂM NGƯ
--------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM NÂU(CERCOSPORA
ARACHIDICOLA) VÀ ĐỐM ĐEN(CERCOSPORA
PERSONATA) HẠI LẠC VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2012
TẠI HUYỆN NGHI LỘC - NGHỆ AN



ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản
thân tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu khác.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ths. Ngô Thị Mai Vy đã tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và các thầy cô giáo trong
Khoa Nông-Lâm -Ngư, trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi,
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các bà con nông dân tại huyện Nghi Lộc đã
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài.
Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn
bè những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và thực hiện bản luận văn này.

Nghi lộc, ngày 16 tháng 5 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thắm


iii

MỤC LỤC


iv



Lạc xuân -vừng - rau đông


v

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH
Hình

3.1.

Triệu

chứng

bệnh

đốm

nâu…………………………………………..…36
Hình

3.2.Triệu

chứng

bệnh


Hình 3.6. Diễn biến chỉ số bệnh của bệnh đốm đen hại lạc giống
L14 ở các công thức luân canh khác nhau trong vụ Xuân 2012 tại
huyện Nghi Lộc - Nghệ An............Error: Reference source not found
Hình 3.11. Diễn biến tỉ lệ bệnh đốm đen trên ruộng có che phủ
nilon và ruộng không che phủ nilon tại huyện Nghi Lộc - Nghệ An
vụ Xuân 2012............................... Error: Reference source not found
Hình3.12. Diễn biến chỉ số bệnh đốm đen trên ruộng có che phủ
nilon và ruộng không che phủ nilon tại huyện Nghi Lộc - Nghệ An
vụ Xuân 201................................. Error: Reference source not found
Hình 3.9. Diễn biến tỉ lệ bệnh đốm nâu trên ruộng phủ nilon và
không phủ nilon tại huyện Nghi Lộc - Nghệ An vụ Xuân 2012. Error:
Reference source not found
Hình 3.10. Diễn biến chỉ số bệnh đốm nâu trên ruộng phủ nilon và
không phủ nilon tại huyện Nghi Lộc - Nghệ An vụ Xuân 2012. Error:
Reference source not found
Hình 3.13. Vết bệnh đốm nâu trên
lá........................................................................53
Hình 3.14. Cấy phân lập từ
lá...................................................................................Error:
Reference source not found


vii

Hình 3.15. Cấy truyền mẫu
nấm ..............................................................................53
Hình 3.16. Tản nấm sau 5 ngày cấy truyền. Error: Reference source
not found
Hình 3.17. Sợi nấm Cercosporaarachidicola Error: Reference source
not found

đậu tương về diện tích cũng như sản lượng, lạc là cây lương thực có giá trị kinh tế
cao.
Cây lạc được sử dụng triệt để, từ thân, lá cho đến quả và hạt cho nhiều ngành
chế biến khác nhau. Lạc là thực phẩm giàu dinh dưỡng có chứa Lipit (40 – 60%),
Protein (26 – 34%), Gluxit (6 – 22%), chất xơ (2 – 4,5%), 68 mg Vitamin P, B, C,
D, F cần thiết cho con người.( Đoàn thị Thanh Nhàn và cộng sự, 1996) [5].
Bên cạnh giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế, cây lạc còn có nhiều giá trị y
học. Theo nghiên cứu của nhiều tác giả cho biết: trong dầu lạc chứa nhiều axit béo
không no bão hòa nên có tác dụng phòng ngừa bệnh tim, các chất từ màng bọc
ngoài nhân lạc được điều trị bệnh xuất huyết, bệnh máu chậm đông và bệnh xuất
huyết nội tạng [4].
Cây lạc là cây trồng dễ tính không đòi hỏi cao về kĩ thuật và đầu tư nhưng
đem lại hiệu quả kinh tế cao. Có thể đưa lạc vào nhiều công thức luân canh hay
trồng ở những nơi có chất đất khác nhau . Đặc biệt cũng như các cây họ đậu khác
cây lạc có khả năng cố định N tự do từ khí trời nhờ sự cộng sinh của vi khuẩn
Rhirobium vigna trong các nốt sần ở rễ cây. Do đó ngoài giá trị dinh dưỡng, kinh
tế, y học lạc còn có ý nghĩa to lớn đối với việc cải tạo đất.
Cũng giống như những cây trồng khác sản xuất lạc gặp nhiều khó khăn, một
trong những nguyên nhân chính là do bệnh hại . Ở nước ta hiện nay, với sự gia tăng
về diện tích trồng và việc áp dụng các biện pháp thâm canh đã làm phát sinh , phát
triển nhiều loại bệnh hại. Một trong những nguồn bệnh hại quan trọng trên lạc phải
kể đến là nhóm bệnh trên lá như đốm đen, đốm nâu , gỉ sắt, cháy lá v.v... Trong đó,
đốm nâu và đốm đen là hai loại bệnh gây hại phổ biến với mức độ gây hại tương đối


2

nặng. Chúng tạo ra các vết thương và kích thích rụng lá, làm giảm nghiêm trong
diện tích quang hợp của cây, do đó ảnh hưởng nặng nề tới năng suất. Tùy nơi, tùy
mùa vụ và tùy từng thời điểm, giai đoạn sinh trưởng của cây mà bệnh hại lá có thể

- Điều tra diễn biến bệnh đốm nâu (Cercospora arachidicola), đốm đen
(Cercospora personata) và một số bệnh hại lạc chính trên cây lạc trong vụ xuân
năm 2012 tại Nghi Lộc – Nghệ An.
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của nấm gây bệnh đốm nâu (Cercospora
arachidicola) và nấm gây đốm đen (Cercospora personata) hại lạc.


4

Chương1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài.
1.1.1. Cơ sở khoa học.
1.1.1.1. Đặc điểm chính của nấm gây bệnh hại lạc.
Bệnh hại là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm năng suất lạc
(D.J.Allen and J.M.Lenne, 1998 [28], N.KoKalis-Burelle, 1997 [9]), nguyên nhân là
do một số lượng lớn các loài nấm, vi khuẩn, phytoplasma, hơn 20 loài virus và ít
nhất 100 loài tuyến trùng gây hại, trong đó nhóm bệnh nấm hại lạc chiếm đa số và
gây thiệt hại mạnh nhất.
Theo D.J.Allen and J.M.Lenne, 1998 [8]: có khoảng 40 loại bệnh hại lạc
đáng chú ý đóng vai trò quan trọng trên thế giới được chia làm 5 nhóm bệnh:
- Nhóm bệnh trên hạt và trên cây mầm: nhóm này rất phổ biến và quan trọng.
- Nhóm gây chết héo: nhóm này cũng rất phổ biến và gây thiệt hại nghiêm
trọng trên toàn thế giới.
- Nhóm gây thối thân và rễ: nhóm này thường phổ biến nhưng chỉ hại cục bộ.
- Nhóm gây thối củ: nhóm này thường phổ biến cục bộ ở một số vùng và là
bệnh thứ yếu.
- Nhóm gây bệnh trên lá: gồm rất nhiều loài, trong đó chỉ một số loài gây hại
phổ biến và quan trọng.
Tác nhân gây bệnh trên cây lạc bao gồm: nấm, vi khuẩn, vi rút, tuyến
trùng,...Tuy nhiên trong đề tài chúng tôi chỉ đề cập đến nấm hại lạc. Đây là tác

phải nắm được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh phát triển của nấm
bệnh cũng như đặc điểm sinh trưởng của cây trồng để đưa ra biện pháp phòng trừ
thích hợp.
1.1.1.2.

Mối quan hệ giữa bệnh hại và cây trồng

Khi tấn công lên lá mầm bệnh phá hủy các diệp lục tố, ảnh hưởng trực tiếp
lên sự quang hợp của cây. Từ đó ảnh hưởng đến các quá trình khác và làm giảm
năng suất cây trồng. Đối với cây lạc, nấm bệnh gây nên những triệu chứng trên lá,
tại đây khả năng quang hợp bị mất hoặc giảm sút, từ đó làm giảm đáng kể năng
suất, phẩm chất lạc gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người sản xuất.
Sự phát triển của bệnh có quan hệ chặt chẽ đối với cây trồng. Tùy từng loại
cây trồng mà bệnh hại có thể bị khống chế hoặc phát triển rộng khắp. Ngay trong
một cây trồng thì ở các giai đoạn khác nhau khả năng kháng bệnh cũng khác nhau.


6

Đối với cây lạc , một số nấm gây bệnh chỉ có thể xâm nhập khi cây lạc đã phát triển
đến một giai đoạn nhất định.
Ví dụ như đối với nấm Cercospora personata gây bệnh đốm đen thường chỉ
xâm nhiễm vào cây lạc khi cây lạc đang ở thời kì ra hoa tạo quả trở về sau. Còn đối
với nấm Cercospora arachidicola gây bệnh đốm nâu thì thường xuất hiện sớm hơn
bệnh đốm đen, sau khi đã xâm nhiễm, bệnh phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc
vào sự phát triển của cây.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Bệnh hại là đối tượng gây hại phổ biến cho cây lạc. Trên đồng ruộng tỉ lệ cây
lạc bị nhiễm bệnh rất cao, nhất là đối với các bệnh hại lá. Bệnh không làm khuyết lá
như sâu hại nhưng nó ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của diệp lục tố, do đó

- Nhóm gây bệnh trên lá
Tuy nhiên, nấm bệnh hại lạc chỉ chia làm 3 nhóm chính dựa vào bộ phận bị
gây hại trong các giai đoạn sinh trưởng khác nhau:
- Nhóm bệnh héo rũ chết cây.
- Nhóm bệnh hại lá.
- Nhóm bệnh hại quả, hạt.
1.2.1.1. Nghiên cứu thành phần bệnh trên lá
Lá là bộ phận giữ chức năng quang hợp của cây. Bệnh hại trên lá làm giảm
diện tích quang hợp do tạo ra các vết thương và kích thích rụng lá. Tùy nơi, tùy
từng thời điểm mà bệnh hại lá có thể làm giảm từ 10-50% năng suất.
Trong nhóm bệnh này thì phổ biến nhất là bệnh đốm đen, đốm nâu , gỉ sắt, v.v...
1.2.1.1.1 Bệnh đốm nâu (Cercospora arachidicola Hori)
Bệnh xuất hiện sớm và không gây nguy hiểm như bệnh đốm đen do nấm
Cercospora personata Ellis (D.Mc Donald, 1985). Bệnh đốm nâu chủ yếu gây hại
trên lá, nếu bệnh nặng có thể lan xuống cuống lá, cành và thân.
Mặt lá vết bệnh có dạng gần tròn, đường kính 1- 10mm, có màu nâu tối.
Xung quanh vết bệnh có quầng vàng, trên bề mặt lá, nơi bào tử được sinh ra nhiều
nhất thường có màu nâu sáng ở dưới [11]. Trên vết bệnh thường có vết lớp mốc
màu xám, mặt dưới lá vết bệnh có màu nhạt hơn. Trên cuống lá và thân cành vết
bệnh hình bầu dục màu nâu sẫm.Trong quá trình xâm nhiễm gây hại nấm


8

Cercospora arachidicola còn sản sinh độc tố Cercospora ức chế sự hoạt động của
lá làm lá già cỗi, chóng tàn và khô rụng sớm.
Giai đoạn sinh sản vô tính của nấm Cercospora arachidicola cụm cành bào
tử phân sinh màu nâu tối đường kính 25 - 100µm. Cành bào tử phân sinh mầ tím
nhạt hoặc màu nâu vàng tập trung thành từng cụm, màu nâu đậm ở chân và tập
trung thành cụm cành có kích thước 14 – 45 × 3- 6µm. Bào tử phân sinh gồm 1- 2

Bệnh xuất hiện muộn và tương đối giống với triệu chứng của bệnh đốm nâu
nên còn được gọi là bệnh đốm lá muộn. Bệnh phổ biến ở tất cả các vùng trồng lạc
trên thế giới, có mức nguy hiểm hơn với bệnh đốm nâu, năng suất thất thu thường
lên tới 50% [14].
Jenkins(1983)nghiên cứu lịch sử của bệnh đốm đen hại lạc cho rằng bào tử
nấm nảy mầm và xâm nhập vào trong hai mặt lá. Ống mầm của bào tử đi vào bên
trong bằng cách xuyên qua mặt bên của tế bào biểu bì hoặc qua những lỗ khí
khổng mở. Nhưng nói chung bào tử thường tập trung ở mặt dưới của lá và quá
trình xâm nhiễm xảy ra ở đây. Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển bệnh,
tế bào biểu bì bị chết sau đó nấm tiếp xúc các tế bào bên trong, từ đó bệnh phát
triển rất nhanh tạo ra những đốm màu vàng. Sau đó một đốm thối nhỏ xuất hiện ở
giữa vết bệnh và từ đó đốm đen này lan dần ra [36].
Hemingway(1975) thông báo rằng [37]: sự xâm nhập của nấm vào tế bào kí
chủ chỉ xảy ra ỏ mặt dưới lá qua các khí khổng mở. Ông cũng chứng minh rằng
không có sự sai khác có ý nghĩa về mặt số lượng khí khổng / mm 2 lá ở các giống
có mức kháng khác nhau.Chúng chỉ khác nhau ở tần số phân bố các loại khí khổng
có kích thước lớn. Từ đó ông kết luận tính kháng nhiễm của giống là do mật độ
khí khổng có kích thước lớn quyết định.
Bệnh đốm đen có thể gây hại ở tất cả các bộ phận trên mặt đất của cây lạc
như thân, cành nhưng lá là bộ phận bị hại nặng nhất. Nấm cũng sản sinh ra độc tố
Cercosporin kìm hãm sự hoạt động của lá gây hiện tượng rụng lá sớm. Trong giai
đoạn sinh sản hữu tính, nấm tạo quả thể bầu. Đây chính là dạng bảo tồn qua đông
của nấm trong đất và tàn dư cây bệnh.
Bào tử nấm Cercospora arachidicola giải phóng ra ở nhiệt độ 20 – 24 0C, độ
ẩm tương đối cao trên 90%. Nếu nhiệt độ trên 20 0C và độ ẩm trung bình đạt 95%


10

dịch bệnh phát sinh trong thời gian dài. Bào tử nảy mầm hình tành ống mầm đi

11

Bệnh thường gây chết hoại và làm lá khô đi mà không rụng xuống. Tuy
nhiên, những lá bệnh như vậy cũng coi như bị rụng bởi nó không còn tác dụng cho
cây nữa [19].
Ở Trung Quốc thiệt hại do gỉ sắt lá 49%, khối lượng 100 hạt giảm 19%, ở Ấn
Độthiệt hại 79%, ở Texas thiệt hại do bệnh hại lá là 77 – 78% trong đó thiệt hại do
bệnh gỉ sắt chiếm 50 – 70 %.
Hạ bào tử của nấm hình bầu dục hoặc hình trứng ngược kích thước 23 – 29 ×
16 – 22 µm có vỏ màu nâu dày 1- 1,22 µm và có những vết nhỏ . Bào tử đống hình
núm rượu kích thước 30 – 42 × 14 – 16 µm có màu hơi vàng hoặc nâu hạt dẻ, hai
mặt dày 0,7 – 0,8 µm, đỉnh đầu dày 2,5 - 4µm có màu trong suốt. Sự lan truyền của
mầm trên những cánh đồng trở nên dễ dàng hơn nhờ gió , mưa và côn trùng. Hạ bào
tử có thể tồn tại trong vài tháng khi nhiệt độ 16 0 C nhưng ở nhiệt độ cao 400C trong
vòng 5 ngày chúng không còn khả năng nảy mầm. Khi nhiệt độ lên đến 50 0C trong
vòng 5 phút chúng sẽ chết. Trong điều kiện nhiệt độ 20 – 25 0 C ánh sáng yếu hạ
bào tử phát triển thuận lợi nhất, nước đọng lại trên lá bệnh dễ dàng lây lan . Thời
gian ủ bệnh thường 7- 20 ngày phụ thuộc vào môi trường và giống lạc. Những cơn
mưa đứt quãng với độ ẩm tương đối trên 87% và nhiệt độ 23 – 24 0 C trong nhiều
ngày là điều kiện thuận lợi cho dịch hại phát triển . Sau khi thời tiết trở nên khô
hanh nhiệt độ trên 260C , độ ẩm tương đói dưới 75% sẽ làm giảm mức độ gây
bệnh.
1.2.1.2 Nhóm gây bệnh héo rũ chết cây.
1.2.1.2. 1.Bệnh héo rũ gốc mốc đen lạc do nấm Aspergillus niger Tiegh
Theo D.J. Allen và J.M. Lenne (1998), bệnh héo rũ gốc mốc đen được phát
hiện lần đầu tiên tại Sumatra vào năm 1926, nhưng thực tế loài nấm gây bệnh này
đã được ghi nhận từ những năm 1920, gây biến dạng mầm củ và biến màu vỏ lạc,
hạt lạc [20]. Theo N. Kokalis Burelle (1997) [24], ở Châu Á, bệnh được ghi nhận
đầu tiên tại Andhara Pradesh năm 1980.
Bệnh thối gốc mốc đen do nấm A.niger đến nay vẫn là một bệnh quan

nấm sản sinh gây ra ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây như rễ quăn xoắn, biến dạng
ngọn, thậm chí cả các axit béo tự do trong hạt cũng chứa độc tố [21].
1.2.1.2.2. Bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii)


13

S. rolfsii gây hại phổ biến ở các vùng trồng lạc trên thế giới. Thiệt hại về năng
suất do bệnh gây ra ước tính khoảng 25 - 80% . Ở vùng Georgia của Mỹ, tổn thất do
bệnh gây ra ước tính 43 triệu USD/năm (N.KoKalis-Burelle, 1997) [24].
Theo [19], nấm Sclerotium rolfsii là một nấm đa thực, có phổ ký chủ rất
rộng, chúng có khả năng xâm nhiễm trực tiếp qua biểu bì hoặc qua vết thương cơ
giới. Chúng có khả năng lây nhiễm trên 500 cây ký chủ thuộc nhóm cây một lá
mầm và hai lá mầm, đặc biệt trên những cây thuộc họ đậu đỗ, bầu bí và một số rau
trồng luân canh với cây họ đậu.
Sợi nấm màu trắng phát triển rất mạnh trên vết bệnh, từ sợi nấm hình thành
nên hạch nấm. Hạch nấm lúc đầu có màu trắng, về sau chuyển thành màu nâu, có
thể hình tròn đường kính 1- 2 mm (Purseglove J.W, 1968) [25]. Hạch nấm có thể
tồn tại từ năm này sang năm khác ở tầng đất mặt (Aycook R, 1974). Nấm sử dụng
chất hữu cơ làm dinh dưỡng, sản sinh ra axit oxalic và enzyme phân huỷ mô ký chủ.
Nấm này thuộc loại háo khí ưa ẩm và nhiệt độ cao 30 0C (Mc.Carter S.M, 1993).
Nấm sản sinh một lượng lớn axit oxalic gây biến mầu trên hạt lạc và gây ra những
điểm chết hoại của lá ở giai đoạn đầu khi bệnh mới phát triển.
Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ 25 – 30 0 C và ẩm độ cao.
Bệnh lan truyền qua đất, qua hạt giống. Sự phát sinh, phát triển của bệnh phụ thuộc vào
nhiều yếu tố. Sự tác động qua lại của các chất khoáng, độ pH đất và kỹ thuật trồng trọt
đều có ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của bệnh [28].
1.2.1.2.3. Bệnh héo vàng do nấm Fusarium sp.
Nấm Fusarium sp. có mặt nhiều ở các vùng trồng lạc trên thế giới. Trong
17 loài Fusarium sp. đã được phân lập từ đất trồng lạc, chỉ có 6 loài gây bệnh cho

ước

tính

khoảng

hơn

1

tỷ

USD

(Kokalis

N.

et al., 1997) [24].
Rhizoctonia solani sản sinh ra một lượng lớn enzyme cellulilitic,
pectinolitic và các độc tố thực vật. Đây chính là nguyên nhân gây ra bệnh thối hạt
làm chết cây con, thối lá mầm, thối rễ, thối tia củ và gây cháy lá lạc khi nấm này
xâm nhập vào cây (Kokalis N. et al., 1997) [24].
Nấm Rhizoctonia solani cùng với Fusarium sp. gây ra bệnh chết vàng lạc, làm
cho cây con héo vàng từ từ, ở phần gốc thân biến mầu nâu và có thể làm cho lớp vỏ thân
cây hơi bị nứt.
Rhizoctonia solani là loài nấm đất, sản sinh ra nhiều hạch nấm trên mô cây
kí chủ, chúng tồn tại trong đất và nẩy mầm khi được kích thích bởi những dịch rỉ ra
từ cây chủ bị bệnh hoặc việc bổ sung chất hữu cơ vào trong đất (Kokalis N. et al.,


không chỉ gây hại trên hạt giống mà còn truyền qua hạt giống gây hại cho cây con.
Phần lớn các loài nấm bệnh trên hạt giống thuộc các nhóm bán kí sinh và bán
hoại sinh, một số ít trong chúng là kí sinh chuyên tính. Các loài nấm này khi xâm


Trích đoạn Nhóm bệnh hại quả hạt Tình hình nghiên cứu bệnh hại lạc ở Việt Nam. Phương pháp điều tra bệnh Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiêm 1 Phương pháp giám định bệnh hại trên hạt giống lạc Ảnh hưởng của công thức luân canh đến diễn biến của các bệnh đốm nâu, đốm đen hại cây lạc giống L14 vụ Xuân 2012 tại huyện Nghi Lộc Nghệ An.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status