Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường ở các trường tiểu học quận bình thạnh thành phố hồ chí minh - Pdf 32

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Bảo vệ môi trường đã và đang trở thành mối quan tâm mang tính toàn
cầu. Giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) vì mục tiêu phát triển bền vững là
một trong các nhiệm vụ giáo dục quan trọng được Đảng và Nhà nước ta dành
cho mối quan tâm đặc biệt. Ngày 15 tháng 11 năm 2004, Bộ chính trị đã ban
hành Nghị quyết số 41/NQ-TƯ về tăng cường công tác bảo vệ môi trường
(BVMT) trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; ngày
17 tháng 10 năm 2001, thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1363/QĐTTg phê duyệt đề án “ đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo
dục quốc dân” và ngày 2 tháng 12 năm 2003 ban hành Quyết định số
256/2003/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020 tạo cơ sở vững chắc cho những nỗ lực và quyết tâm
BVMT.
Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông hiện nay có vị trí đặc
biệt, những bài học về môi trường, Tự nhiên và xã hội đặt bên cạnh các môn học
khác mang ý nghĩa giáo dục ý thức, nếp sống văn minh cho học sinh tuổi vị
thành niên. Nhà trường là nơi có nhiều cơ hội, điều kiện giáo dục môi trường cho
học sinh. Tiểu học là cấp học nền tảng, là cơ sở ban đầu rất quan trọng trong việc
đào tạo các em học sinh trở thành công dân tốt cho đất nước. Các biện pháp chỉ
đạo hoạt động GDBVMT cho học sinh của Hiệu trưởng ở trường Tiểu học nhằm
mục đích xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh đã tạo ra phong trào thi đua
sôi nổi, phấn đấu giữ vẻ đẹp môi trường Sư phạm thực hiện phong trào xanh
sạch đẹp của thành phố, của địa phương. Đó cũng là một trong những nội dung

1


của phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà
Bộ giáo dục và đào tạo đã phát động.
Thực tế ở một số trường Tiểu học, vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường
chưa được quan tâm đúng mức. Một số giáo viên (GV) và học sinh (HS) chưa

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận một số vấn đề về giáo dục bảo vệ môi trường cho
học sinh trong giai đoạn hiện nay.
5.2. Điều tra thực trạng về giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong các
trường Tiểu học, nhận định những mặt mạnh, mặt yếu và nguyên nhân của thực
trạng.
5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho
học sinh nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục bảo vệ môi trường ở
trường Tiểu học quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ sở
lý luận của đề tài. Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu; phương pháp so sánh; phương pháp
hệ thống hóa.
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cưú thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau
đây:

3


- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm.
6.3. Phương pháp thống kê toán học

tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian qua đã có những chuyển
biến tích cực. Hệ thống chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và hoàn
thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường. Nhận
thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, các ngành và nhân dân đã được nâng
lên; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được
hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đã đạt được
những tiến bộ rõ rệt. Những kết quả đó đã tạo tiền đề tốt cho công tác bảo vệ
môi trường trong thời gian tới.
Tuy nhiên, môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi, có
lúc đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn
nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng;
khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên
thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có quy hoạch;
đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp
nước sạch ở nhiều nơi không bảo đảm. Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp,
dịch vụ, quá trình đô thị hoá, sự gia tăng dân số trong khi mật độ dân số đã quá

5


cao, tình trạng đói nghèo chưa được khắc phục tại một số vùng nông thôn, miền
núi, các thảm họa do thiên tai và những diễn biến xấu về khí hậu toàn cầu đang
tăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường, đặt công tác bảo vệ môi
trường trước những thách thức gay gắt.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 được Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX của Đảng thông qua đã khẳng định quan điểm phát triển đất
nước là "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường".
Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại.

Nhận thức đầy đủ giáo dục bảo vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng của
ngành giáo dục và đào tạo, từ đó có các giải pháp hữu hiệu để triển khai giáo dục
bảo vệ môi trường ở tất cả các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo; đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.



Thực hiện các mục tiêu giáo dục và đào tạo về bảo vệ môi trường nêu
trong Quyết định số 1363/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- Giáo dục học sinh, sinh viên các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo trong hệ
thống giáo dục quốc dân hiểu biết sâu sắc các chủ trương, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường; có kiến thức về môi trường để
tự giác thực hiện.
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, giáo viên, cán bộ nghiên cứu khoa học
công nghệ và cán bộ quản lý về bảo vệ môi trường.



Thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến năm 2010.
Nhiệm vụ trọng tâm công tác giáo dục bảo vệ môi trường của ngành giáo
dục và đào tạo từ nay đến năm 2010 là triển khai thực hiện Đề án "Đưa các nội

7


dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân". Để thực hiện tốt
nhiệm vụ quan trọng này, toàn ngành cần tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Đối với giáo dục mầm non: Hình thành cho trẻ những hiểu biết đơn giản về cơ
thể, về môi trường sống của bản thân nói riêng và con người nói chung, biết giữ

1.2.1.1. Môi trường
Môi trường là một khái niệm quen thuộc và tồn tại quanh chúng ta.Có
nhiều quan niệm về môi trường:
- Môi trường là một tập hợp bao gồm tất cả các yếu tố xung quanh sinh
vật, có tác động trực tiếp, gián tiếp, tác động qua lại với sự tồn tại và phát triển
của sinh vật.
- Môi trường là tập hợp các điều kiện bên ngoài mà sinh vật tồn tại trong
đó.
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh
con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và sinh vật.
- Môi trường sống của con người bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên và xã
hội. Các yếu tố tự nhiên và xã hội chi phối sự sống, sản xuất của con người như
tài nguyên thiên nhiên, đất, nước và không khí; ánh sáng; công nghệ, kinh tế,
chính trị, đạo đức, văn hóa, lịch sử và mỹ học.
Môi trường sống của con người bao gồm môi trường tự nhiên và môi
trường xã hội.
- Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố thiên nhiên như vật lý, hóa học,
sinh học tồn tại ngoài ý muốn của con người.

9


- Môi trường xã hội là tổng hòa các mối quan hệ giữa con người với con
người. Đó là các luật lệ, thể chế, quy định nhằm hướng các hoạt động của con
người theo một khuôn khổ nhất định, tạo thuận lợi cho sự phát triển cuộc sống
của con người.
Trong nhà trường Tiểu học còn có khái niệm môi trường sư phạm và môi
trường thân thiện. Môi trường sư phạm là môi trường đặc trưng của ngành giáo
dục. Nơi đó, những hành vi ứng xử đều nằm trong chuẩn mực nhất định mang

người nếu không được tổ chức, quản lý sẽ dẫn tới hỗn loạn, tự phát và kém hiệu
quả.
Từ nhiều góc độ, có thể có những định nghĩa khác nhau về quản lý, song về cơ
bản khái niệm quản lý có nội hàm sau:
Thứ nhất: Quản lý là sự lựa chọn các tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ
thể đến khách thể quản lý. Bởi vì bộ phận quản lý có thể có nhiều hệ thống tác
động khác nhau vào đối tượng, trong số những tác động đó, người quản lý tùy
theo chủ đích, sự phán đoán và dự báo của mình mà lựa chọn một tác động để có
thể cho kết quả có triển vọng cao nhất.
Thứ hai: Quản lý là sự sắp xếp hợp lý của các tác động đã lựa chọn. Bởi vì
muốn cho việc lựa chọn các tác động trên là chính xác và hợp lý, đem lại kết quả
như mong muốn thì cần phải sắp xếp và thể hiện một cách hợp lý các tác động
đó trên cơ sở xử lý tốt mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý.
Thứ ba: Bản chất của hoạt động quản lý là việc phát huy nhân tố con người
trong một tổ chức. Vì vậy các tác động quản lý có mục đích, có kế hoạch sắp xếp
hợp lý, được tổ chức kiểm tra sẽ có tác dụng làm cho đối tượng bị quản lý vận
động và phát triển đúng mục tiêu đã được xác định. Như vậy có thể nói hoạt
động quản lý làm giảm tính bất định, và làm tăng tính tổ chức của đối tượng.

11


Vậy có thể hiểu Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức,
lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về các tình
trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng
được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định.[11,7]
- Chức năng quản lý: Quá trình quản lý luôn gắn chặt với những công việc mà
chủ thể quản lý phải thực hiện nhằm đạt được các mục đích quản lý. Nói cách
khác chức năng quản lý là tập hợp các nhiệm vụ cơ bản không thể thiếu được
của chủ thể quản lý. Hoạt động quản lý luôn gắn với một tổ chức, một hệ thống

lực để biến kế hoạch thành hiện thực, biến mục tiêu đã định thành kết quả cụ thể.
- Kiểm tra: Là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm
hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành các
hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Đó chính là quá trình tự điều chỉnh.
1.2.2.2. Quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường
Quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường là việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ
huy, giám sát và điều tiết đối với công tác giáo dục bảo vệ môi trường để thu
được hiệu quả xã hội tốt hơn.[20]
1.2.3. Giải pháp và giải pháp quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường
1.2.3.1. Giải pháp: là cách giải quyết một vấn đề khó khăn hay nói cách
khác, giải pháp là phương pháp giải quyết vấn đề cụ thể, khó khăn nào đó. [15]
1.2.3.2. Giải pháp quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường: là phương
pháp giải quyết những vấn đề cụ thể trong quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi
trường để nâng cao chất lượng của công tác này trong nhà trường. [15]
1.3. Một số đặc điểm của học sinh tiểu học trong GDBVMT
1.3.1. Đặc điểm về sinh thể
- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân,
xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy

13


dập,...Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô cần
phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an
toàn.
- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò
chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,...Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các
em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an
toàn cho trẻ.
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy

gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn...các em phải
tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ.
- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học
đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương
pháp, hình thức, thái độ học tập. Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức
học tập tốt.
- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang
tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình). Đặc biệt là các em
muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình.
Biết được những đặc điểm nêu trên thì cha mẹ và thầy cô phải tạo điều
kiện giúp đỡ trẻ phát huy những khả năng tích cực của các em trong công việc
gia đình, quan hệ xã hội và đặc biệt là trong học tập.
1.3.3. Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí tuệ)
1.3.3.1. Nhận thức cảm tính

15


- Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều
phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện.
- Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và
mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động
trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích
quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã
mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định (trẻ biết lập
kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến
khó...)
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới,
mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích
trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác.

+ Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1
bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt
đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển
mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám
phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm
tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng
tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ
nói và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể
đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ.

17


Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục
phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng
thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học,
truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng,....đồng thời cũng có thể kể cho trẻ
nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ
cách viết nhật kí,...Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong
phú và đa dạng.
+ Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát,
điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế
hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ
học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có
cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,...Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền
vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập.
Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý

hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.
+ Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu
cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen,
quét nhà để được ông cho tiền...) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực
thi hành vi ở các em còn yếu. Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến
cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn.

19


Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn
thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững,
chưa thể trở thành nét tính cách của các em. Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu
phụ thuộc vào hứng thú nhất thời.
Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh tiểu học đòi hỏi ở nhà giáo dục
sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha
mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ.
Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường
thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút.
Chuyển từ hiếu kỳ,tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Bước đầu
kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp,
chấp hành nội quy học tập. Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao
tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết,...Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn
trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia
đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.
1.3.4. Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền
với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,...Lúc này khả năng kiềm chế cảm
xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là

cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình.
1.4. Một số lý luận về giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Tiểu học
1.4.1. Mục tiêu của GDBVMT
Mục đích của giáo dục bảo vệ môi trường là “Làm cho các cá nhân và các
cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường

21


nhân tạo; đem lại cho họ kiến thứ, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực
hành để họ tham gia một cách có hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường. Cụ thể:
+ Cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng những kiến thức, sự hiểu biết cơ bản
về MT và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và MT.
+ Khuyến khích các cá nhân, cộng đồng họ tham gia tích cực vào việc cải thiện
và BVMT.
+ Cung cấp các kỹ năng cho việc xác định, dự đoán, ngăn ngừa và giải quyết các
vấn đề MT.
+ Cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng cơ hội tham gia tích cực trong việc
giải quyết các vấn đề MT cũng như đưa ra các quyết định MT đúng đắn. [7]
Các mục tiêu trên được biểu diễn theo sơ đồ 1.1 dưới đây
Sơ đồ 1.1
Hiểu biết kiến thức
về môi trường

Thái độ đúng đắn
về môi trường

-Vấn đề.

-Nhận thức.

sự phù hợp của thái độ và quan niệm của người học về các vấn đề về MT
(examine attitudes and valuaes)
- Xây dựng ý thức trách nhiệm, nghĩa là thái độ và quan niệm về giá trị
phải được thể hiện thành ý thức trách nhiệm, cam kết của người học đói với các
vấn đề về MT cụ thể mà họ gặp (build commitment)
- Tăng cường hiểu biết về các vấn đề MT cần xử lý cũng như cần ngăn
ngừa và khả năng khoa học, công nghệ, quản lý để thực hiện việc này (increase
knowledge and understanding)
- Cung cấp kĩ năng: đó là những kĩ năng cụ thể để quan sát, phân tích,
quyết định, hành động và tổ chức hành động (provide skills)
- Khuyến khích hành động: các nội dung nêu trên cần được thể hiện trong
thực tế thành hành động cụ thể của người học (encourage action)
1.4.3. Phương pháp và phương thức GDBVMT [7, 9]
1.4.3.1. Phương pháp
Giáo dục bảo vệ môi trường là một quá trình lâu dài, cần được bắt đầu từ
mẫu giáo và được tiếp tục ở các cấp phổ thông cũng như trong cuộc sống sau
này. Để chuyển tải được nội dung giáo dục bảo vệ môi trường tới học sinh một
cách hiệu quả cần lựa chọn được cách tiếp cận hợp lý và khoa học. Lựa chọn các
phương pháp giáo dục phải xuất phát từ quan điểm tiếp cận trong giáo dục bảo
vệ môi trường. Đó là giáo dục về môi trường, giáo dục trong môi trường và giáo
dục vì môi trường.

23


Theo Matarasso (2004), có 3 cách tiếp cận để thực hiện GDMT:
+ Giáo dục về môi trường: Tăng cường kiến thức và hiểu biết về các quá trình
sinh thái, xã hội, văn hóa, kinh tế, và chính trị thiết yếu đối với cộng đồng. Việc
này giúp người có học có thể đưa ra được những quyết định có thông tin đầy đủ
về cách ứng xử với môi trường.

tại, các hậu quả và yêu cầu giải quyết.
- Tham quan, khảo sát thực địa: người học quan sát một địa bàn thực tế không
thể đem vào lớp học, được hướng dẫn phương pháp, quy trình để phân tích, đối
chiếu, rút ra những kết luận.
- Phương pháp giải quyết vấn đề: người học sử dụng các kiến thức và phương
pháp đã được học để xác định vấn đề cần giải quyết, xây dựng giả định, phân
tích dữ liệu liên quan và đề xuất giải pháp thích hợp.
- Nghiên cứu những vấn đề MT thực tế, những trường hợp cụ thể của địa phương
hoặc cơ sở nơi người học ở hoặc học tập: lựa chọn vấn đề, làm rõ bản chất vấn
đề, phân tích vấn đề theo những quan điểm khác nhau, tìm kiếm những giải pháp
khả thi cho vấn đề.
- Phát triển thái độ, cách ứng xử, đạo đức cần có về MT cụ thể thông qua lồng
ghép các vấn đề giá trị trong bài giảng, giảng giải ý nghĩa của giá trị trong và
ngoài bài giảng. Các kĩ năng thường được dùng trong phương pháp này là tập
hợp ý kiến của tập thể về giá trị, xếp loại, thăm dò quan niệm xây dựng và thực
hiện kịch bản.
1.4.3.2. Phương thức GDBVMT
Gia đình, cộng đồng và nhà trường là 3 phạm vi cơ bản của GDMT,
GDMT phải bắt đầu từ gia đình đứa trẻ và môi trường xung quanh trẻ. Nhưng

25


Trích đoạn Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường ở các trường Tiểu học quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Giải pháp thứ năm: Đào tạo, khai thác nguồn lực cho công tác GDMT Giải pháp thứ sáu: Hướng dẫn phương pháp giảng dạy GDMT cho đội ngũ CBQL, GV ở các trường tiểu học quận Bình Thạnh Giải pháp thứ bảy: Kết hợp các hình thức tổ chức GDBVMT một cách linh hoạt và sáng tạo Giải pháp thứ tám: Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả GDMT ở các trường tiểu học quận Bình Thạnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status