BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ XUÂN HƯƠNG
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP THÍ NGHIỆM
DẠY HỌC CHƯƠNG “CƠ HỌC” LỚP 8 NHẰM PHÁT
HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC VÀ BỒI
DƯỠNG TƯ DUY VẬT LÝ CHO HỌC SINH
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lý
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. PHẠM THỊ PHÚ
Vinh, 2010
1
LỜI CẢM ƠN
Bằng tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gởi lời cảm ơn
chân thành đến:
PGS.TS. Phạm Thị Phú đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, động viên tác
giả những lúc khó khăn. Cảm ơn cô đã dành thời gian và công sức chỉ dẫn
những hướng đi giúp cho tác giả hoàn thành tốt luận văn.
Các thầy cô giảng dạy lớp Cao học khóa 16 đã truyền thụ cho chúng
tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu.
Xin cảm ơn Ban Giám hiệu, thầy cô giáo trong tổ Lý, các em học
BTTN:
Bài tập thí nghiệm
SGK :
Sách giáo khoa
3
TTC :
Tính tích cực
PPDH :
Phương pháp dạy học
TN
:
Thực nghiệm
ĐC
:
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ phát triển phần kiến thức về lực..........................................................
Sơ đồ 2.4: Sơ đồ phát triển phần kiến thức về cơ năng..................................................
Sơ đồ 2.5: Cấu trúc logic của kiến thức chuyển động....................................................
Sơ đồ 2.6: Cấu trúc logic của kiến thức về lực...............................................................
Sơ đồ 2.7: Cấu trúc logic của kiến thức về cơ năng........................................................
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ phân phối thực thực nghiệm: số HS đạt điểm X i ........................
Biểu đồ 3.2: Đường phân phối tần suất: số % HS đạt điểm X i .....................................
Biểu đồ 3.3: Đường lũy tích: Số % HS đạt điểm ≤ X i ....................................................
I. MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Điều 28 Luật Giáo dục (2005) nước ta có ghi : “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp
với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh”. Nhưng thực trạng giáo dục nước ta qua nghiên cứu
cho thấy phương pháp dạy học còn mang nặng tính “thông báo – tái hiện”, học sinh
6
rất ít điều kiện để nghiên cứu, quan sát và tiến hành các thí nghiệm. Vì vậy, cần
phải thay đổi phương pháp giảng dạy ở từng môn học. Hướng giải quyết cho vấn đề
này là phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận
thức của học sinh với sự góp phần quan trọng của thí nghiệm nói chung và bài tập
thí nghiệm nói riêng.
Bài tập thí nghiệm là bài tập khi giải phải tiến hành thí nghiệm, loại bài tập
này vừa có chức năng của bài tập, vừa có chức năng của thí nghiệm vật lý. Giải bài
tập thí nghiệm học sinh không chỉ củng cố khắc sâu lý thuyết mà còn bồi dưỡng kỹ
năng thực hành thí nghiệm, bồi dưỡng năng lực tư duy lý thuyết và tư duy thực
hành cho học sinh, đồng thời tăng cường hứng thú của học sinh đối với môn học.
− Tư duy vật lý.
− Quá trình dạy học vật lý THCS.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
− Chương “Cơ học” lớp 8.
− Tổ chức dạy học chương “Cơ học” lớp 8 THCS trên địa bàn quận 11
TPHCM.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Xây dựng và sử dụng được hệ thống bài tập thí nghiệm chương “Cơ
học” lớp 8 vừa đảm bảo tính khoa học vừa phù hợp với năng lực nhận thức của học
sinh lớp 8 THCS sẽ phát huy được tính tích cực trong học tập, bồi dưỡng tư duy vật
lý và niềm yêu thích đối với môn học.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về bài tập thí nghiệm vật lý;
5.2. Nghiên cứu cơ sở lý luận về tư duy vật lý, tính tích cực của học sinh;
5.3. Nghiên cứu mục tiêu, nội dung, cấu trúc chương “Cơ học” vật lý lớp 8;
5.4. Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng bài tập thí nghiệm một số trường
THCS trên địa bàn quận 11 TPHCM;
5.5. Xây dựng hệ thống các bài tập thí nghiệm chương “Cơ học” lớp 8;
5.6. Đề xuất phương án sử dụng bài tập thí nghiệm vào quá trình dạy học;
5.7. Thực nghiệm sư phạm, đánh giá kết quả nghiên cứu.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
− Nghiên cứu cơ sở lý luận về bài tập thí nghiệm.
8
− Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề tư duy vật lý, tính tích cực của học
sinh.
− Xây dựng bài tập thí nghiệm “Cơ học” lớp 8.
TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ BỒI DƯỠNG TƯ DUY
VẬT LÝ CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀI TẬP THÍ NGHIỆM
1.1. Hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học vật lý
1.1.1. Hoạt động học
10
Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục
đích tự giác và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hành vi và
những dạng hoạt động nhất định [8]. Hoạt động học của học sinh (HS) là tiếp thu
những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm mà loài người tích lũy được, đồng thời phát
triển những phẩm chất năng lực của người học. Có nhiều cách phân loại khác nhau
về hoạt động học, theo A.V.Petrovski có hai kiểu phân loại chính: học ngẫu nhiên
và học có chủ định hay còn gọi là học tập [14].
Cấu trúc của hoạt động học gồm nhiều thành phần, có quan hệ và tác động
lẫn nhau, được trình bày theo sơ đồ sau:
Động cơ
Hoạt động
Mục đích
Hành động
Phương tiện,
điều kiện
Thao tác
Sơ đồ 1.1. Cấu trúc tâm lý của hoạt động [20].
và có khát vọng chiếm lĩnh tri thức về thế giới khách quan [12].
Theo Hà Thế Ngữ thì tích cực hoạt động nhận thức của HS là sự ý thức
được nhiệm vụ học tập của HS đối với từng môn, từng bài nói riêng thông qua việc
HS hăng say học tập, từ đó tự mình ra sức hoàn thiện nhiệm vụ học tập, tự mình
khắc phục khó khăn để nắm tri thức, kỹ năng mới và nắm tài liệu một cách tự giác,
từ đó biến tri thức thành vốn riêng và thành kinh nghiệm sống của mình, thành một
bộ phận của thuộc tính nhân cách [12].
Như vậy ta có thể coi TTC trong học tập là sự tự giác tìm tòi, nắm vững
tri thức, vận dụng nó vào thực tiễn. Hình thành và phát triển TTC là một trong các
nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động, thích
ứng và góp phần phát triển cộng đồng.
TTC học tập được phân thành các cấp độ từ thấp tới cao [7]
- Bắt chước: HS bắt chước hành động, thao tác của GV và bạn bè, nhờ
đó mà HS tích lũy được kiến thức và kinh nghiệm.
- Tìm tòi: HS độc lập trong tư duy khi giải quyết các vấn đề, tìm kiếm
các cách giải khác nhau về một vấn đề để tìm cho ra lời giải hợp lý nhất; nhờ đó mà
nhu cầu, hứng thú và óc sáng tạo phát triển.
- Sáng tạo: HS tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, đề xuất những giải
pháp có hiệu quả, có sáng kiến lắp đặt những thí nghiệm để chứng minh bài học.
12
Phương pháp dạy học tích cực: hướng tới tích cực hóa hoạt động nhận
thức của người học nhằm phát huy TTC, chủ động, sáng tạo của người học. Với
phương pháp dạy học tích cực, người dạy đóng vai trò chủ đạo, người học đóng vai
trò chủ động chiếm lĩnh tri thức. Chúng ta có thể nhận thấy rõ sự khác biệt của
phương pháp dạy học tích cực với dạy học truyền thống thông qua bảng so sánh sau
[15]
Phương pháp dạy học truyền thống
8. Không gắn lý thuyết với thực hành.
của bài học giúp HS dễ nhớ và vận dụng.
7. Thực hành, nêu ý kiến riêng.
8. Lý thuyết kết hợp với thực hành, vận
dụng kiến thức vào cuộc sống.
9. Dùng thời gian học để nắm kiến thức 9. Cổ vũ HS tìm tòi, bổ sung kiến thức
do thầy truyền thụ.
10. Nguồn kiến thức hạn hẹp.
đã có.
10. Nguồn kiến thức rộng rãi.
1.1.2.2. Hoạt động nhận thức
Nhận thức là cơ sở của hành động, nhận thức đúng thì hành động mới
đem lại hiệu quả cao như mong muốn. Nhận thức có vai trò quan trọng trong việc
chỉ đạo mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính vì vậy, biện pháp tăng cường hoạt
động nhận thức là biện pháp có vị trí quan trọng, quyết định hướng đi và hiệu quả
của việc nâng cao chất lượng dạy học.
1.1.2.3. Tích cực hóa hoạt động nhận thức
13
Tích cực hoá là một tập hợp các hoạt động của GV nói riêng và của các
nhà giáo dục nói chung nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang
chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao
hiệu quả học tập [22].
Tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS là một trong những nhiệm vụ
cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu văn hoá …Hạt nhân cơ
bản của TTC nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên do sự thúc
đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng.
1.1.2.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến TTC
Nhìn chung TTC nhận thức phụ thuộc vào những nhân tố sau đây :
- Bản thân HS bao gồm các đặc điểm hoạt động trí tuệ (tái hiện, sáng
tạo …), năng lực tư duy (hệ thống tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm hoạt động sáng
tạo, sự trải nghiệm cuộc sống …), tình trạng sức khoẻ, trạng thái tâm lí (hứng thú,
xúc cảm, chú ý, nhu cầu, động cơ, ý chí …), điều kiện vật chất, tinh thần (thời gian,
tiền của, không khí đạo đức)…
- Nhà trường: chất lượng quản lý dạy học – giáo dục (nội dung, phương
pháp, phương tiện, hình thức kiểm tra, đánh giá …), quan hệ thầy trò và không khí
đạo đức nhà trường…
- Gia đình và xã hội…
1.1.2.6. Vai trò của tích cực hóa hoạt động nhận thức
Với các học truyền thống “đọc – chép” HS của chúng ta đã trở nên chậm
chạp, thụ động trong suy nghĩ và hành động, không thể tự lực giải quyết vấn đề một
cách toàn diện được. Đứng trước tình hình đó, Bộ giáo dục yêu cầu đổi mới PPDH
nhằm tạo ra những con người có năng lực, phẩm chất tốt đẹp : biết tư duy độc lập,
phê phán, sáng tạo, tự bộc lộ quan niệm riêng của mình và tích cực tham gia vào
hoạt động nhận thức. Cũng như Thái Duy Tuyên đã viết “ Mỗi người chúng ta cần
phải sáng tạo bởi vì tư duy sáng tạo là tài nguyên cơ bản của con người, là nguồn
gốc chính của sự giàu có, thịnh vượng của một quốc gia, một gia đình”[22].
Muốn thực hiện đổi mới PPDH của quá trình dạy học cần thay đổi cách
học truyền thụ một chiều. Hơn nữa vật lý học là một bộ môn thực nghiệm nên sự
hiểu biết về vật lý không chỉ đơn thuần là nắm được các công thức, khái niệm, sự
suy diễn logic mà phải có sự trải nghiệm nhất định. Do đó đổi mới PPDH cần
hướng tới tạo điều kiện cho HS tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua hoạt động thực
nghiệm, thông qua việc giải quyết các vấn đề thực tế. Dạy học vật lý phải kích thích
được hứng thú học tập của HS làm cho HS thấy được ý nghĩa của việc học vật lý
tập.
- Kết quả học tập.
1.1.4. Các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức trong dạy học vật lý
Tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS có liên quan đến nhiều vấn đề, trong
đó có các yếu tố như động cơ, hứng thú học tập, năng lực, ý chí của cá nhân, không
16
khí dạy học … đóng vai trò rất quan trọng. Các yếu tố này liên quan chặt chẽ với
nhau, trong đó có nhiều yếu tố là kết quả của một quá trình hình thành lâu dài và
thường xuyên, nhiều yếu tố là kết quả của một giai đoạn, của sự phối hợp của nhiều
người, nhiều lĩnh vực và cả xã hội. Do đó với vai trò của mình, GV phải là người
góp phần quan trọng trong việc tạo ra những điều kiện tốt nhất để HS học tập, rèn
luyện và phát triển. Sau đây chúng tôi giới thiệu một số biện pháp tích cực hóa hoạt
động nhận thức của HS [20]:
- Đảm bảo cho HS có điều kiện tâm lý thuận lợi để tự lực hoạt động
bằng cách tạo mâu thuẫn nhận thức, gợi động cơ, hứng thú cho HS đi tìm cái mới.
Ngoài ra cần tạo môi trường sư phạm thuận lợi để học sinh trực tiếp tham gia quá
trình dạy học như điều kiện để HS tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến của riêng
mình, nêu thắc mắc, lật ngược vấn đề, dành nhiều thời gian cho HS phát biểu ý
kiến, thảo luận dần dần tốc độ suy nghĩ và phát biểu của HS sẽ nhanh lên. Có
như vậy thì HS mới trở nên mạnh dạn và tích cực tham gia vào công việc học tập.
- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của người học,
GV có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo tiến trình dạy học sao cho HS luôn được đặt
trong các tình huống có vấn đề, tự mình khám phá những tri thức, được trực tiếp
quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề theo suy nghĩ của bản thân,
động não tư duy các phương án giải quyết khác nhau trong một thời gian nhất định
… thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ
động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp xếp.
1.2.1.1. Khái niệm về tư duy
Tư duy là sự phản ánh trong bộ não của con người những sự vật và hiện
tượng, những mối liên hệ và mối quan hệ có tính quy luật của chúng. Tư duy là giai
đoạn cao của quá trình nhận thức đi sâu vào bản chất của sự vật và hiện tượng đồng
thời phát hiện ra tính quy luật và những mối liên hệ, tính quy luật của chúng bằng
những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý. Tư duy phản ánh
thực tế một cách khái quát vì nó phản ánh những thuộc tính của hiện thực thông qua
các khái niệm, đồng thời phản ánh hiện thực một cách gián tiếp vì nó thay thế
những hành động thực tế với chính các sự vật bằng các hành động tinh thần [21].
1.2.1.2.
Khái niệm về tư duy vật lý
Tư duy vật lý là khả năng quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích một
hiện tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng các mối
quan hệ và những sự phụ thuộc nhất định, tìm ra những mối quan hệ giữa mặt định
tính và định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lý, dự đoán các hệ quả
18
mới từ các thuyết và vận dụng sáng tạo những kiến thức khái quát thu được vào
thực tiễn [21].
Các hiện tượng vật lý trong tự nhiên rất phức tạp, nhưng những định luật
chi phối chúng lại rất đơn giản. Muốn nhận thức được những đặc tính bản chất và
quy luật của tự nhiên thì đầu tiên phải phân tích được hiện tượng phức tạp thành
những phần, những bộ phận, những giai đoạn bị chi phối bởi các nguyên nhân và bị
tác động bởi các yếu tố nào? Có như thế mới xác lập được mối quan hệ bản chất,
trực tiếp, những sự phụ thuộc định lượng giữa các đại lượng vật lý. Chẳng hạn như
khi quan sát hiện tượng các vật nổi hoặc chìm trong nước, ta thấy rất phức tạp.
trong thực tế khách quan, do vậy tư duy mang tính khái quát.
Tính gián tiếp: Ở mức độ nhận thức cảm tính, con người phản ánh trực tiếp sự
vật, hiện tượng bằng giác quan của mình và cũng chỉ có được những hình ảnh cảm
tính về các sự vật, hiện tượng đó. Trong tư duy của con người phản ánh thế giới một
cách trực tiếp, phản ánh bằng ngôn ngữ.
Tư duy có quan hệ trực tiếp với ngôn ngữ: Ngôn ngữ được xem là phương tiện
của tư duy, trong quá trình tư duy nhờ có sự tham gia của hệ thông tin ngôn ngữ mà
con người tiến hành các thao tác tư duy chính xác, đầy đủ. Cuối cùng sản phẩm của
quá trình tư duy là những khái niệm, phán đoán, suy lý .. được biểu đạt bằng chính
ngôn ngữ. Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ được biểu hiện bằng sơ đồ 1.2.
Tư duy
Nội dung – Quyết định
Ngôn ngữ
Hình thức – Vỏ vật chất
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ [9]
Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính: tư duy và nhận thức cảm
tính thuộc hai mức độ nhận thức khác nhau nhưng không tách rời nhau, có quan hệ
chặt chẽ bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau. Trong hoạt động nhận thức, nhận
thức cảm tính bao giờ cũng có trong tư duy trừu tượng, tựa hồ như làm chỗ tựa cho
tư duy. Ngược lại tư duy và kết quả của nó chi phối khả năng phản ánh của cảm
giác và tri giác, làm cho khả năng cảm giác của con người mang tính lựa chọn, tính
ý nghĩa.
1.2.3. Thao tác tư duy [21]
1.2.3.1. So sánh
Là một trong những thao tác tư duy có ý nghĩa lớn về mặt nhận thức, so
sánh là một thao tác tư duy mà con người dùng để xác định sự giống nhau và khác
nhau của các sự vật và hiện tượng, sự biến đổi của chúng qua thời gian và không
huống có vấn đề thường gặp trong dạy học vật lý như tình huống phát triển, tình
huống lựa chọn, tình huống bế tắc, tình huống ngạc nhiên bất ngờ, tình huống lạ…
Xây dựng logic nội dung phù hợp với đối tượng HS, tùy vào từng đối tượng
HS mà GV phải phân chia một vấn đề lớn của bài học thành một chuỗi vấn đề nhỏ
hơn để HS có thể độc lập, tự lực giải quyết vấn đề, tìm tri thức mới dưới sự hướng
dẫn của GV.
21
Rèn luyện cho HS kỹ năng thực hiện các thao tác tư duy, những hành động
nhận thức phổ biến trong học tập vật lý, GV tổ chức quá trình học tập sao cho ở
từng giai đoạn, xuất hiện những tình huống bắt buộc HS phải thực hiện các thao tác
tư duy và hành động nhận thức mới có thể giải quyết được vấn đề và hoàn thành
nhiệm vụ.
- GV đưa ra những câu hỏi định hướng cho HS tìm những thao tác tư duy
hay phương pháp suy luận, hành động trí tuệ thích hợp.
- GV phân tích câu trả lời của HS, chỉ ra chỗ sai của họ trong khi thực
hiện các thao tác tư duy và hướng dẫn họ cách sửa chữa.
- GV giúp HS khái quát hoá kinh nghiệm, thực hiện suy luận logic dưới
dạng những quy tắc đơn giản.
Dạy HS phương pháp nhận thức theo phương pháp nhận thức của các nhà vật
lý. Muốn vậy, GV cần có sự hiểu biết chỉ đạo đúng đắn quá trình học tập, hiểu biết
về những giai đoạn mà sự phát triển tư duy của HS trải qua khi lĩnh hội nội dung tài
liệu và các phương pháp nhận thức mà mình sử dụng.
Rèn luyện ngôn ngữ vật lý cho HS là nhiệm vụ quan trọng. Để thực hiện
nhiệm vụ này phải yêu cầu HS rèn luyện ngôn ngữ vật lý một cách thường xuyên,
nghiêm túc thông qua hoạt động học, chẳng hạn như sau khi quan sát các hiện
tượng vật lý, HS phải mô tả lại các hiện tượng, luyện tập cho HS giải thích những
hiện tượng bằng ngôn ngữ vật lý, trình bày lời giải một bài toán vật lý, báo cáo thí
1.3.3. Phân loại BTTN [15,tr.86]
BTTN vật lý
Có nhiều cách phân loại bài tập vật lý nói chung cũng như BTTN nói riêng.
Tùy vào đặc điểm của bài tập mà ta có cách phân loại thích hợp. Đối với BTTN,
địnhđộ
tính
lượng
nếu căn cứBTTN
vào mức
khó khăn và phương thức giải, taBTTN
có thểđịnh
phân
loại BTTN
như sơ đồ 1.3 sau:
Làm TN, quan
sát, mô tả, giải
thích
1. Điều gì xảy ra
nếu …?
2. Tại sao lại xảy
ra như vậy?
Thiết
kế
phương án
thí nghiệm
Thiết
minh
Sơ đồ 1.3. Phân loại hệ thống BTTN [15]
1.3.3.1. BTTN định tính
Là những bài tập không cần sử dụng các phép đo đạc, tính toán định
lượng mà công cụ để giải những bài tập này là những suy luận logic dựa trên cơ sở
của các định luật, khái niệm vật lý và những quan sát định tính.
BTTN định tính gồm hai loại : BTTN quan sát và giải thích hiện tượng,
BTTN thiết kế phương án thí nghiệm.
- BTTN quan sát và giải thích hiện tượng: đây là loại bài tập yêu cầu HS
làm thí nghiệm theo chỉ dẫn, quan sát theo mục tiêu đã chỉ sẵn, mô tả hiện tượng
bằng kiến thức đã có. Câu hỏi của loại bài tập này thường là: “Hiện tượng gì đã xảy
ra và xảy ra như thế nào ?”; “Nguyên nhân nào làm xảy ra hiện tượng đó ?”; “Hiện
tượng đó tuân theo quy luật nào ?”…
VD: Đặt một chiếc cốc trên một tờ giấy để ở trên bàn rồi lấy tay kéo tờ
giấy.
- Cốc sẽ chuyển động như thế nào nếu ta kéo nhẹ tờ giấy? Giải thích
hiện tượng quan sát được.
-
Cốc sẽ chuyển động như thế nào nếu ta giật mạnh tờ giấy? Giải
thích hiện tượng quan sát được.
- HS chỉ giải được bài tập này khi họ tiến hành thí nghiệm theo chỉ
dẫn ở đề bài và quan sát hiện tượng xảy ra, liên hệ hiện tượng đó với hiện tượng đã
học (quán tính).
Tác dụng: Rèn luyện kỹ năng thao tác thí nghiệm, đặc biệt là khả năng
quan sát phát hiện vấn đề, gắn lý thuyết với thực tiễn, do đó khắc sâu kiến thức bồi
VD: Cho một vỏ hộp hình trụ (vỏ đồ hộp, hộp sữa, lon bia …) có đục
một lỗ nhỏ chừng 0,5 mm – 1 mm ở đáy, một bình chia độ loại 100 ml, một ca đựng
nước, một đồng hồ có đếm giây. Hãy khảo sát sự phụ thuộc của thời gian để nước
chảy hết qua lỗ ở đáy hộp hình trụ vào độ cao của lượng nước chứa trong hộp đó.
25