Lựa chọn một số bài tập nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho học sin - Pdf 33

TRNG I HC VINH
Khoa giáO dụC thể chấT

---------------

KHO LUN TT NGHIP
LựA chọN mộT số bàI tậP nhằM khắC phụC
nhữNG sai lầM thƯờNG mắC trong học kỹ thuậT
nhảY cao kiểU nằM nghiêNg cho họC sinh
lớP 10 thpt nguyễN du hà tĩNH
Ngành : điền kinh

Giáo viên hớng dẫn: TH.S Nguyễn quốc đảng
Sinh viên thực hiện : lê xuân cảnh

Vinh, 2011


LờI CảM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Giảng viên Th.s
Nguyễn Quc ng ngời hớng dẫn chỉ đạo giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp cuối khóa này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa GDTC, khoa
GDQP trờng Đại học Vinh, cùng các bạn sinh viên K48 GDQP đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Và qua đây tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã động
viên khích lệ giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình nghiên cứu, thu thập xử
lý số liệu của đề tài.
Dù đã cố gắng hết sức mình nhng điều kiện về thời gian cũng nh trình
độ còn hạn chế, đề tài mới chỉ bớc đầu nghiên cứu trong phạm vi hẹp nên
không tránh khỏi những sai sót nhất định. Vậy rất mong đợc sự đóng góp ý

VĐV
NCNN
cm

: Giáo dục quc phũng
: Nhà xuất bản
: Thể dục thể thao
: Đối chứng
: Thực nghiệm
: Trớc thực nghiệm
: Sau thực nghiệm
: Nhóm thực nghiệm
: Nhóm đối chứng
: Vận động viên
: Nhảy cao nằm nghiêng
: Centimet

m

: Một
s

: Giõy


ĐẶT VẤN ĐÊ
Con người và sức khỏe là hai nhân tố cấu thành một hệ thống giáo
dục có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Con người vừa là mục tiêu giáo dục
vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội vì thế giáo dục trở thành động
lực chủ yếu của sự phát triển. Đánh giá được tầm quan trọng của công tác

mạng cơ sở rộng khắp, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thành tích
cao đưa thể thao Việt Nam lên trình độ chung trong khu vực Đông Nam A
và có vị trí cao trên trường quốc tế”.
Điền kinh giữ vị trí chủ yếu trong chương trình giáo dục thể chất ở
trong nhà trường. Phong trào tập luyện và thi đấu các môn điền kinh ngày
một gia tăng và đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ trên đấu trường
quốc tế cũng như khu vực, điền kinh là một trong những môn thể thao rất
gần gũi với hoạt động hàng ngày của con người, nó bắt nguồn từ các hoạt
động của con người như lao động và chiến đấu, nên đã thu hút được rất
nhiều người tham gia tập luyện. Tập luyện điền kinh không những nâng
cao sức khỏe cho người tập mà còn là cơ sở để phát triển các tố chất như:
nhanh- mạnh- bền- khéo léo.
Bộ môn điền kinh gồm nhiều môn, trong đó môn nhảy cao kiểu nằm
nghiêng là môn không thể thiếu được trong chương trình học thể dục ở các
trường THPT. Để có sự tập luyện và tiếp thu kỹ thuật một cách tốt nhất thì
giáo viên, huấn luyện viên phải biết tìm ra những sai lầm thường mắc,
nguyên nhân dẫn đến những sai lầm đó, có như vậy mới xây dựng được
những bài tập để khắc phục việc giảng dạy điền kinh ở các trường THPT
trong điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, phương tiện tập luyện còn
thô sơ đơn giản, học sinh chưa có tính tự giác cao đã làm hạn chế một phần


đến sự phát triển thể chất, thành tích học tập của các em,đặc biệt là những
sai lầm những sai lầm đó mà không phát hiện và sửa chữa kịp thời sẽ dẫn
đến những cố tật khó sửa và ảnh hưởngđến thành tích sau này. Vì vậy, vấn
đề đặt ra cho chúng tôi là nghiên cứu và đưa ra một số bài tập nhằm khắc
phục những sai lầm thường mắc cho các em nhằm nâng cao thành tích
nhảy cao kiểu nằm nghiêng trong chương trình giảng dạy.
Xuất phát từ những mục đích trên và để làm phong phú nâng cao
chất lượng giảng dạy môn nhảy cao, tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài:

đi đến hoàn thiện, nhưng phát triển không đều và chậm hơn so với hệ
xương. Cơ to phát triển nhanh hơn so với cơ nhỏ, cơ chi trên phát triển
nhanh hơn so với cơ chi dưới. Khối lượng cơ tăng lên rất nhanh, đàn tính
cơ tăng lên không đều, chủ yếu nhỏ và dài. Do vậy khi cơ hoạt động dẫn
đến chóng mệt mỏi. Vì vậy khi tập luyện giáo viên giảng dạy cần chú ý
phát triển cơ bắp cho các em.


* Hệ thần kinh.
Ở lứa tuổi này hệ thống thần kinh trung ương đã khá hoàn thiện,
hoạt động phân tích trên võ não về tri giác có định hướng sâu sắc hơn. Khả
năng nhận hiểu cấu trúc động tác và tái hiện chính xác hoạt động vận động
được nâng cao. Ngay từ tuổi thiếu niên đã diễn ra quá trình hoàn thiện cơ
quan phân tích và những chức năng vận động quan trọng nhất, nhất là các
cảm giác bản thể trong điều kiện động tác. Ở lứa tuổi này học sinh không
chỉ học các học phần động tác đơn lẻ như trước ( chạy, nhảy, bật, bay và
chạm đất khi nhảy, ném tại chỗ và có đà….) mà chủ yếu là từng bước hoàn
thiện những phần đã học trước thành các liên hợp động tác tương đối hoàn
chỉnh, ở các điều kiện khác nhau, phù hợp với từng đặc điểm của học sinh.
Vì vậy khi giảng dạy cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện, vận dụng các
hình thức trò chơi, thi đấu để hoàn thành tốt những bài tập đã đề ra.
* Hệ hô hấp.
Ở lứa tuổi này phổi các em phát triển mạnh nhưng chưa đều,
khung ngực còn nhỏ, hẹp nên các em thở nhanh và nông, không có sự ổn
định của dung tích sống, không khí, đó chính là nguyên nhân làm cho tần
số hô hấp của các em tăng cao khi hoạt động và gây nên hiện tượng thiếu
ôxy, dẫn đến mệt mỏi.
* Hệ tuần hoàn.
Ở lứa tuổi này hệ tuần hoàn đang trên đà phát triển mạnh để kịp
thời phát triển toàn thân, tim lớn hơn, khả năng co bóp của cơ tim phát

triển tâm lý gắn liền với sự xuất hiện những đặc điểm mới về chất những
cấu tạo tâm lý mới ở những giai đoạn lứa tuổi nhất định. Như vậy, sự phát


triển tâm lý của con người gắn liền với sự hoạt động của con người trong
đời sống thực tiễn phụ thuộc chủ yếu vào một dạng hoạt động chủ đạo.
Vì vậy, khi tiến hành công tác giáo dục thể chất cho các em ở lứa
tuổi này không chỉ yêu cầu học sinh thực hiện đúng, nhanh những bài tập
dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của giáo viên mà còn phải chú ý, uốn nắn, luôn
nhắc nhở và chỉ đạo, định hướng và động viên các em hoàn thành nhiệm
vụ, kèm theo khen thưởng để có sự khuyến khích động viên, nói cách khác
phải dạy các em biết cách học, tự rèn luyện thân thể.
Bên cạnh đó trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phải động
viên, khuyến khích các em học kém, còn tiếp thu chậm, phải khuyến khích
hướng dẫn các em tập luyện tốt, lấy động viên thuyết phục là phương pháp
chính, chứ không phải là gò ép, đe dọa. Qua đó tạo được hứng thú trong
tập luyện để tạo nên sự phát triển cân đối với từng học sinh và góp phần
giáo dục cho các em thành người có tính kiên cường, biết tự kiềm chế và
có ý chí.
1.3. Cơ sở lý luận của giảng dạy kỹ thuật động tác
Giảng dạy kỹ thuật thể thao kỹ thuật toàn bộ tất cả các biện pháp có
mục đích, có tổ chức nhằm làm cho học sinh có khả năng tiến hành các
động tác thể thao bằng một kỹ thuật được nắm vững một cách có phối hợp
và thích hợp.
Kỹ thuật các môn thể thao nói chung cũng như kỹ thuật các môn điền
kinh nói riêng là hệ thống chuyên môn của các động tác tiến hành đồng thời và
tuần tự theo phương hướng tổ chức hợp lý hoạt động tương hỗ giữa lực bên trong
và bên ngoài với mục đích tận dụng đầy đủ và hiệu quả những lực ấy để đạt thành
tích cao. Như vậy nắm vững kỹ thuật môn điền kinh trước hết cần nắm cách dùng
lực chính xác dẫn tới sự duy chuyển hợp lý trong không gian, thời gian của cơ thể.



Mục đích của giai đoạn này là đã đảm bảo cho người tập tiếp thu và vận
dụng các động tác hoàn thiện trong thực tế. Nhiệm vụ của giai đoạn này là:
+ Củng cố kỹ xảo đã có về kỹ thuật động tác.
+ Mở rộng biến dạng các kỹ thuật động tác để có thể thực hiện nó hợp lý
trong các điều kiện khác nhau, lúc nào cũng phải biểu hiện các tố chất thể lực ở
mức độ cao.
+ Hoàn thiện sự cá biệt hóa kỹ thuật động tác cho phù hợp với đặc điểm
năng lực cá nhân.
Tóm lại: Trong quá trình giảng dạy kỹ thuật động tác phải chú ý đến kỹ
thuật động tác để lựa chọn các bài tập và sử dụng các phương pháp giảng dạy
động tác. Việc lựa chọn các bài tập cũng như việc sử dụng các phương pháp giảng
dạy phù hợp với đặc điểm người tập thì giảng dạy mang lại hiệu quả cao.


CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu có liên quan
Phương pháp này chúng tôi đã sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm
mục đích thu thập thông tin qua đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu các tài liệu liên
quan như: Sách lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, Sinh lý học TDTT, Sách
giáo khoa điền kinh, Sách phương pháp nghiên cứu KHTDTT, Các tài liệu nói về
các bài tập môn nhảy cao. Tham khảo kết hợp ghi chép các vấn đề có liên quan để
có thể đưa ra các kết luận quan trọng và bổ ích phục vụ cho hướng nghiên cứu. Nó
giúp ích rất lớn cho bản thân để đề ra phương hướng nghiên cứu cũng như các cơ
sở khoa học về việc giải quyết các vấn đề một cách khoa học.
2.1.2. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Đây là phương pháp để thu thập thông tin cần thiết có tính sát thực
với thực tiễn tập luyện, bằng cách trao đổi, phỏng vấn, tọa đàm trực tiếp

việc kiểm chứng kết quả lựa chọn các nguyên tắc xây dựng bài tập. Chúng tôi sử
dụng phương pháp toán học thống kê để đánh giá chính xá số liệu liên quan. Từ
đó kiểm chứng lại và đưa ra kết luận tránh được tính chủ quan trong quá trình
nghiên cứu và làm tăng thêm độ tin cậy cho quá trình nghiên cứu.
Để xử lý kết quả nghiên cứu, trong đề tài này chúng tôi sử dụng các
công thức toán học thống kê sau:
- Công thức tính giá trị trung bình:
n

X =

∑X
i =1

n

i

Trong đó: X : giá trị trung bình cộng


X i : giá trị thành tích từng cá thể

n: tổng số lượng cá thể.
n

- Công thức tính phương sai ( δ x 2 ):

δ x2 =


+

δB2
nB

Vì n t (bảng) thì sự khác biệt không có ý nghĩa ở
ngưỡng P

V02 sin 2
2g

Trong đó: V0: Tốc độ bay ban đầu
: Góc độ bay
g : Gia tốc rơi tự do
H: Độ cao
Trong thực tế môn nhảy cao, để đa cơ thể vợt qua xà ở mức độ nào
đó thì độ cao của trọng tâm cơ thể đợc tính theo công thức trên. Qua công
thức trên, ta thấy độ cao của tổng trọng tâm cơ thể tỷ lệ thuận với độ lớn
của giá trị V0 và sin2 và tỷ lệ nghịch của gia tốc rơi tự do g ( g là hằng số
không đổi) cho nên hai yếu tố V0 và quyết định trọng tâm cơ thể khi bay,
độ cao này quyết định đến thành tích lần nhảy. Ngoài ra độ cao của trọng
tâm cơ thể khi bay còn phụ thuộc vào độ cao của trọng tâm cơ thể trớc khi
bay dẫn đến sự thay đổi của trọng tâm cơ thể khi bay. Độ cao đó đợc tính
theo công thức sau:
H=

V02 sin 2
+ h0
2g

h0: Độ cao trọng tâm cơ thể trớc khi bay
Do đó khi chọn VĐV nhảy cao, phải xét về mặt di truyền, giải phu
cơ thể của VĐV l bớc đầu, họ càng cao thì càng có lợi cho thành tích lần
nhảy bởi vì h0 là cái có sẵn của VĐV. Nếu cùng một chiều cao h 0 đó mà
VĐV vận dụng V0 và sin2 kém thì thành tích lần nhảy thấp.



thể ngả thân trên nhiều ra trước, sau đó ra sau, rồi lại ngả ra trước và tiến
hành bước chạy đà đầu tiên.
Cách thứ hai: Đứng hai chân song song sát vạch xuất phát.
Cách thứ ba: Đi vài bước đến vạch xuất phát chạy đà, sau đó bắt đầu
chạy đà.
Dù ở bất kỳ tư thế chuẩn bị nào cũng không nên để cơ thể gò bó,
căng thẳng mà cần tự nhiên, thả lỏng và tập trung chú ý.
- Chạy đà:
Gồm hai phần:
Phần một: Từ lúc xuất phát đến trước ba bước đà cuối, độ dài và tốc
độ bước chạy tăng dần, độ ngả của thân giảm dần.
Phần hai: Gồm ba bước cuối trước khi giậm nhảy. Nhiệm vụ của
phần chạy đà này là duy trì tốc độ đã đạt được và chuẩn bị giậm nhảy, sao
cho đạt hiệu quả cao nhất. Ở đây độ dài, nhịp điệu các bước chạy, tư thế
của thân người, của bàn chân cũng như hai tay có tầm quan trọng đặc biệt.
Cụ thể:
Bước thứ nhất: Chân giậm nhảy bước ra trước nhanh hơn bước trước
đó, chạm đất bằng gót bàn chân, tiếp theo đưa nhanh chân lăng ra trước để
thực hiện bước thứ hai.
Bước thứ hai: Bước này dài nhất trong ba bước đà cuối, chân chạm
đất (Chân đá lăng) hơi miết bàn chân xuống dưới – ra sau, giữ thẳng không
ngả vai ra sau trước khi kết thúc thời kì chống tựa. Bàn chân khi chạm đất
cần thẳng hướng chạy đà, tránh đặt lệch.
Bước thứ ba: Đây là bước đặt chân vào điểm giậm nhảy. Bước này
ngắn hơn hai bước trước một chút, nhưng cần thực hiện rất nhanh. Khi đặt
chân vào điểm giậm nhảy, chân gần như thẳng từ gót chân rồi cả bàn chân,
chân lăng co ở phía sau, thân và hai vai hơi ngả ra sau, đầu và cổ không


ngả theo mà hướng mặt về trước, hai tay phối hợp tự nhiên hoặc hơi co, hai

xây dựng và hình thành các phương pháp giảng dạy được dựa trên những
kỹ thuật tự nhiên của con người. Trong đó quan trọng hơn cả quy luật hình
thành định hình động lực trong quá trình giảng dạy kỹ thuật. Vì vậy, chúng
tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp giảng giải:
Giảng giải là phương pháp người dạy sử dụng lời nói để diễn đạt nội
dung thông tin, phân tích từng chi tiết hay toàn bộ kỹ thuật động tác nhằm
giúp cho người học tiếp thu đầy đủ, hiểu rõ nội dung và nắm được phương
pháp kỹ thuật đó.
- Phương pháp trực quan:
Trực quan là phương pháp người dạy trực tiếp làm mẫu hoặc
dùng phim, tranh ảnh để diễn đạt nội dung thông tin cho người tập hiểu rõ
từng kỹ thuật động tác, đặc biệt là những động tác khó.
- Phương pháp giúp đỡ trực tiếp:
Trực tiếp là phương pháp giúp đỡ, mà người dạy trực tiếp tác
động vào người học giúp cho người học có cảm giác về cơ bắp, về không
gian và nhịp điệu động tác. Phương pháp này sử dụng nhiều trong giai
đoạn đầu, khi học sinh chưa thể làm được toàn bộ động tác một cách chính
xác hoặc chưa có cảm giác về không gian và dùng lực khi thực hiện động
tác.
- Phương pháp giảng dạy phân chia:
Đối với những động tác khó, phức tạp chúng tôi sử dụng phương
pháp phân chia để giảng dạy, mục đích giúp các em tiếp thu từng chi tiết
kỹ thuật động tác.
- Phương pháp giảng dạy toàn bộ:


Cho các em thực hiện toàn bộ kỹ thuật động tác của môn nhảy
cao kiểu nằm nghiêng vì như vậy sẽ tạo cho các em thực hiện có tính liên
tục không ảnh hưởng đến tính nhịp điệu của động tác.

chạm đất sớm.
Sai lầm 13: Thân không nghiêng khi qua xà.
Sai lầm 14: Chân đá lăng chạm đất trước.
Sai lầm 15: Không chùng chân để giảm chấn động, do chân giậm
nhảy không duỗi kịp thời khi qua xà.
Bảng 3.1: Kết quả quan sát sư phạm của 40 em học sinh nam lớp
10 khi học kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng
Số HS
Tên sai lầm

mắc sai
lầm

Tỷ lệ (tỷ
lệ %)

Sai lầm 1: Chạy đà không chính xác do
không ổn định nhịp điệu chạy đà.
Sai lầm 2: Tốc độ chạy đà chưa cao.
Sai lầm 3: Góc độ chạy đà lớn hoặc nhỏ quá

35
19

87,5
47,5

so với đặc điểm bản thân.
Sai lầm 4: Giậm nhảy không hết.
Sai lầm 5: Giậm nhảy bị lao vào xà.

Sai lầm 12: Không tích cực đưa nhanh một

18

45


bộ phận cơ thể xuống chạm đất sớm.
Sai lầm 13: Thân không nghiêng khi qua xà.
Sai lầm 14: Chân đá lăng chạm đất trước.
Sai lầm 15: Không chùng chân để giảm chấn

36
18
16

90
45
40

động, do chân giậm nhảy không duỗi

32

88

kịp thời khi qua xà.
Qua bảng quan sát trên chúng tôi thu được số liệu như sau:
Sai lầm 1: Có 35/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 87,5%.
Sai lầm 2: Có 19/40 học sinh mắc phải chiếm tỷ lệ 47,5%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status