Khả năng đối kháng của trihoderma harzianumtri 011 nl, trichoderma atroviridetri 020 nc đối với nấm mốc hại lạc aspergil - Pdf 33

1

LỜI CAM ĐOAN
Thực tập tốt nghiệp là thời gian để người sinh viên có điều kiện rèn luyện
tính tự lực, độc lập trong suy nghĩ, bổ sung những kiến thức mới mẻ từ thực tiễn,
nâng cao trình độ lý luận chuyên môn. Tiếp tục rèn luyện đạo đức tác phong,
quan điểm phục vụ của người cán bộ khoa học kỹ thuật.
Để hoàn thành luận văn này tôi xin cam đoan:
1. Trong quá trình nghiên cứu, bản thân luôn nhiệt tình với công việc.
2. Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực.
3. Kết quả nghiên cứu của bản thân có được là nhờ sự giúp đỡ tận tình
của thầy hướng dẫn PGS.TS Trần Ngọc Lân.
4. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và
các thông tin trich dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Nghi Lộc, ngày tháng năm2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kim


2

LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS. TS.
Trần Ngọc Lân – Trưởng khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh, đã tận
tình hướng dẫn và dìu dắt tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Nông Lâm Ngư –
Trường Đại học Vinh đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và
thực hiện luận văn.
Tôi xin bày tỏ biết ơn tới toàn thể cán bộ, giảng viên, kỹ thuật viên Phòng
Thí nghiệm tổ Bảo Vệ Thực Vật - Khoa Nông Lâm – Đại học Vinh đặc biệt là
KS. Hồ Thị Nhung giúp đỡ và chỉ bảo tôi rất tận tình trong suốt thời gian thực

của tỉnh lên đến 35 nghìn ha, năng suất bình quân đạt 20 tạ/ha.
Tuy nhiên, hạt lạc là nơi tiềm ẩn nhiều loài nấm gây bệnh, đặc biệt là các
loài nấm có nguồn gốc trong đất và truyền qua hạt giống như Aspergillus sp.,
Sclerotium rolfsii, Pennicilium, Fusarium v.v… chúng gây thiệt hại về năng suất,
làm chết cây con trên đồng ruộng và là nguyên nhân gây ra các bệnh nguy hiểm
cho con người và vật nuôi. Nhóm nấm sinh độc tố phổ biến nhất là Aspergillus
(A. flavus, A. parasiticus và A. nomius) sản sinh ra Aflatoxin, là độc tố nguy


4

hiểm nhất trong nhóm độc tố mycotoxin và là hợp chất có tiềm năng gây ung thư
cao nhất.
Trong những năm gần đây, sự gia tăng về diện tích trồng và việc áp dụng
các biện pháp kỹ thuật thâm canh làm phát sinh ngày càng nhiều dịch hại nguy
hiểm, đặc biệt là nhóm nấm gây bệnh héo rũ gây ra. Nhóm nấm này phát sinh và
gây hại trong cả chu kỳ sống của cây trên đồng ruộng và trong kho bảo quản, ảnh
hưởng đến chất lượng hạt giống. Đây cũng là một trong những nguyên nhân
chính dẫn đến sự giảm sút về năng suất và phẩm chất lạc nhân, ảnh hưởng đến
sức khoẻ con người. Chính vì vậy, việc chú trọng đến công tác bảo vệ thực vật
trên đồng ruộng và trong kho bảo quản cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao
năng suất và chất lượng lạc trước và sau thu hoạch.
Một trong những tồn tại lớn của sản xuất nông nghiệp đang được quan
tâm hiện nay là việc sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa
học. Tình trạng này nếu cứ tiếp diễn sẽ đi ngược lại mục tiêu xây dựng một nền
nông nghiệp bền vững và an toàn mà chúng ta đang nỗ lực tiến tới. Thực tế sản
xuất cho thấy, do người dân quá lạm dụng việc sử dụng thuốc hoá học để phòng
trừ sâu bệnh trong sản xuất nông nghiệp đã ngày càng làm bộc lộ mặt trái của nó.
Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, ảnh hưởng
tới sức khoẻ con người và gây thiệt hại kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Một

1.2.2 Yêu cầu
- Giám định thành phần nấm gây bệnh gây hại trên các mẫu hạt giống lạc
thu thập tại vùng Nghi Lộc - Nghệ An.
- Điều tra tình hình bệnh hại trên lạc ở huyện Nghi Lộc và vùng phụ
cận vụ xuân 2011.
- Điều tra thành phần các mầm bệnh, đánh giá diễn biến lượng mầm
bệnh A. flavus trong đất trồng lạc vùng Nghi Lộc.
- Tìm hiểu khả năng phòng trừ A. flavus bằng biện pháp sinh học sử dụng
Trichoderma trong điều kiện phòng thí nghiệm và chậu vại.


6

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1

Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trong các nguyên nhân làm giảm năng suất của lạc thì bệnh hại là một

trong những nguyên nhân chính. Bệnh hại lạc là do một lượng lớn các loại nấm,
vi khuẩn, Phytoplasma, hơn 20 loại virút và khoảng 100 loài tuyến trùng, bị
nhiễm bệnh do các nhóm nấm và vi khuẩn gây hại đáng kể nhất.
Theo Allen and Lenne,1998 thì hiện nay có khoảng 40 loại bệnh hại lạc
đáng chú ý đóng vai trò quan trọng trên thế giới và được chia làm các nhóm:
- Nhóm bênh héo rũ gây chết cây
- Nhóm bênh hại trên hạt và trên cây mầm
- Nhóm bệnh gây thối than và rễ
- Nhóm gây bệnh trên lá
- Nhóm bệnh gây thối củ

để ở Florida đầu những năm 1980 [43] .
Theo Allen và Lenne (1998), bệnh héo rũ gốc mốc đen được phát hiện lần
đầu tiên tại Sumatra vào năm 1926, nhưng những mẫu bệnh gây biến dạng mầm
củ và biến màu vỏ lạc, hạt lạc của loại nấm này đã được tìm thấy từ những năm
1920. Theo Kokalis - Burelle (1997) [39], ở Châu Á, bệnh được công nhận đầu
tiên tại Andhara Pradesh năm 1980.
Nấm A. niger gây ra hiện tượng thối hạt, chết mầm và chết héo cây con
trong vòng 30 ngày sau trồng. Trên vết bệnh, sợi nấm và cành bào tử phân sinh
thường được quan sát thấy ở vùng cổ rễ và xuất hiện rất nhanh sau khi hạt nảy
mầm. Sợi nấm xâm nhập trực tiếp vào cổ rễ, đoạn thân ngầm sát mặt đất làm cho
biểu bì, vỏ thân bị nứt rạn, thâm đen, thối mục, làm cho cây bị héo rũ, chết khô.
A. niger tồn tại trong đất, trên hạt giống với tỷ lệ hạt bị nhiễm bệnh lên tới
90%. Nấm bệnh truyền qua đất và có khả năng phát triển mạnh trong điều kiện
biến động lớn của độ ẩm đất, chất lượng hạt giống kém và tỷ lệ sát thương cao.
Độc tố do nấm sản sinh gây ra ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây như rễ quăn
xoắn, biến dạng ngọn, thậm chí cả các axit béo tự do trong hạt cũng chứa độc tố
[36].


8

1.1.1.2. Bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii)
S. rolfsii gây hại phổ biến ở các vùng trồng lạc trên thế giới. Thiệt hại về năng
suất do bệnh gây ra ước tính khoảng 25 - 80% . Ở vùng Georgia của Mỹ, tổn thất do
bệnh gây ra ước tính 43 triệu USD/năm (KoKalis-Burelle, 1997) [39].
Nấm Sclerotium rolfsii là một nấm đa thực, có phổ ký chủ rất rộng, chúng
có khả năng lây nhiễm trên 500 cây ký chủ thuộc nhóm cây một lá mầm và hai lá
mầm, đặc biệt trên những cây thuộc họ đậu đỗ, bầu bí và một số rau trồng luân
canh với cây họ đậu. Chúng có khả năng xâm nhiễm trực tiếp qua biểu bì hoặc
qua vết thương cơ giới.

chính gây thối quả. Nấm Fusarium sp. gây ra triệu chứng thối quả, làm cho vỏ
quả xù xì, xấu xí, làm mất màu vỏ quả.. Tản nấm Fusarium sp. có màu trắng
kem, sợi nấm đa bào mảnh và xốp, có thể hình thành nhiều bào tử phân sinh khi
có mặt của giọt nước. Biện pháp phòng trừ bệnh héo vàng do nấm Fusarium sp.
chủ yếu là làm ải và luân canh cây trồng cho hiệu quả cao [48].
1.1.1.4. Bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani Kuhn)
Trong những năm gần đây, bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây ra tương
đối nguy hiểm đối với các vùng trồng lạc trên thế giới. Ở miền Nam nước Mỹ, lở
cổ rễ lạc đã trở thành một vấn đề cấp bách. Hàng năm ở Geogia (Mỹ) thiệt hại do
bệnh gây ra ước tính khoảng hơn 1 tỷ USD.
Rhizoctonia solani sản sinh ra một lượng lớn enzyme cellulilitic,
pectinolitic và các độc tố thực vật. Đây chính là nguyên nhân gây ra bệnh thối hạt
làm chết cây con, thối lá mầm, thối rễ, thối tia củ và gây cháy lá lạc khi nấm này
xâm nhập vào cây.
Nấm Rhizoctonia solani cùng với Fusarium sp. gây ra bệnh chết vàng lạc, làm
cho cây con héo vàng từ từ, ở phần gốc thân biến mầu nâu và có thể làm cho lớp vỏ
thân cây hơi bị nứt.
Rhizoctonia solani là loài nấm đất, sản sinh ra nhiều hạch nấm trên mô
cây kí chủ, chúng tồn tại trong đất và nẩy mầm khi được kích thích bởi những
dịch rỉ ra từ cây chủ bị bệnh hoặc việc bổ sung chất hữu cơ vào trong đất. Ngoài
truyền bệnh qua đất và tàn dư cây trồng, R. solani còn có khả năng truyền
qua hạt giống. Theo những nghiên cứu ở Scotland, R. solani có khả năng truyền


10

qua hạt giống lạc với tỷ lệ 11%, còn ở Mỹ tỷ lệ này lên tới 30% (Kokalis N. et
al., 1997) [39]
1.1.2 Nghiên cứu thành phần bệnh trên lá
Trong nhóm bệnh này thì phổ biến nhất là bệnh đốm đen, đốm nâu và gỉ

personata [45].
Ở Ấn độ, bệnh đốm đen đã gây tổn thất về năng suất từ 20 - 70% tuỳ theo
từng vùng và từng thời vụ gieo trồng (Sharief, 1972), ở Thái Lan năng suất giảm
27 - 85% (Schiller, 1978), ở Trung Quốc thiệt hại là 15 - 59% (Ehouliang, 1987)
[48].
Bệnh đốm đen có thể gây hại ở tất cả các bộ phận trên mặt đất của cây lạc
như thân, cành nhưng lá là bộ phận bị hại nặng nhất. Vết bệnh đốm đen xung
quanh không có quầng vàng, bào tử phân sinh hình thành ở mặt dưới lá. Nấm
cũng sản sinh ra độc tố Cercosporin làm chậm sự hoạt động của lá gây và gây ra
hiện tượng rụng lá sớm.Trong giai đoạn sinh sản hữu tính, nấm cũng tạo quả thể
bầu.Đây cũng chính là dạng bảo tồn qua đông của nấm trong đất và tàn sư cây
bệnh trên đồng ruộng.
Bào tử nấm C. arachidicola giải phóng ra ở nhiệt độ 20-24 oC, độ ẩm
tương đối cao, trên 90%. Khi nhiệt độ trên 19 oC và độ ẩm trung bình đạt 95%
dịch bệnh phát sinh trong thời gian dài. Bào tử nảy mầm hình thành ống mầm đi
vào khí khổng mở hoặc xuyên qua lớp biểu bì lá. Ở điều kiện không thuận lợi vết
bệnh có thể phát triển trong vòng 6-8 ngày. Nấm Cercospora personata sinh vòi
hút dạng chùm nhưng C. arachidocola không sinh vòi hút. Cao điểm của bệnh
đốm đen xuất hiện khi nhiệt độ khoảng 20oC và độ ẩm tương đối trên 93% cho
tới trên 12h. Cây dễ bị nhiễm bệnh ở nhiệt độ 28oC Bệnh đốm lá lạc phát sinh,
phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao, trời ẩm ướt, vào cuối giai
đoạn sinh trưởng của cây lạc.
Nguồn bệnh có thể tồn tại từ mùa này sang mùa khác trên các cây lạc dại
hoặc lạc trồng. Bệnh có thể lan truyền qua tàn dư thực vật đã bị nhiễm hoặc do di
chuyển qua hạt bị nhiễm bào tử.
2.1.2.3 Bệnh gỉ sắt Puccinia arachidis Speg
Bệnh gỉ sắt là một trong những bệnh hại lá nguy hiểm và phổ biến ở nhiều


12

13

2.1.3.1 Nấm Trichoderma sp
Các loài nấm Trichoderma là những thành viên phổ biến trong hệ sinh vật
đất, phụ thuộc vào từng vùng phân bố, điều kiện khí hậu... Nhóm nấm
Trichoderma sp. được chú ý nghiên cứu rộng rãi ở rất nhiều nước trên thế giới
nhằm sử dụng chúng trong phòng trừ một số nấm gây bệnh hại cây trồng.
Nấm Trichoderma sp. là nấm hoại sinh, nhưng chúng có khả năng ký
sinh trên nấm khác. Rất nhiều nghiên cứu về vi sinh vật đất đã cho thấy nấm
Trichoderma sp. là một trong những nhóm đứng đầu của vi sinh vật trong đất
có tính đối kháng và được nghiên cứu rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới. Việc
nghiên cứu tính đối kháng, đặc biệt là tác động chọn lọc của những chất đặc
trưng do nấm Trichoderma sp. tiết ra được nhiều nhà khoa học quan tâm và tiến
hành nghiên cứu nhằm giải thích cơ chế tác động của nhóm nấm này đối với
các sinh vật gây bệnh cho cây và sử dụng chúng trong phòng chống bệnh hại
cây trồng .
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng T. viride là loài nấm hoại sinh trong đất,
trong quá trình sống nó sản sinh ra các chất kháng sinh làm ức chế, kìm hãm và
tiêu diệt một số loài nấm gây bệnh tồn tại trong đất. Bên cạnh đó, T. viride còn
đóng vai trò là phân vi sinh có tác dụng kích thích sự sinh trưởng và phát triển
của cây trồng như: tăng tỷ lệ nẩy mầm, chiều dài thân, diện tích lá, và tăng trọng
lượng chất khô.
Theo Seiketov (1982), những dẫn liệu nghiên cứu đầu tiên về tác động đối
kháng của nấm Trichoderma được R.Falk công bố từ năm 1931. Tác giả nhận thấy
khi cây gỗ được xử lý bằng nấm T. viride thì không bị các nấm Merulius
lachrymars và Coniophora puteana phá hoại.
Kết quả nghiên cứu của Muthamilan, M và Jayarajan (1996) cũng cho
thấy Trichoderma harzianum và Rhizobium carbendazim có khả năng kiểm
soát nấm Sclerotium rolfsii đồng thời còn làm tăng khả năng sinh trưởng của lạc,
không ảnh hưởng tới sự nảy mầm của cây lạc

“Giao thoa sợi nấm” cho thấy cơ chế chính của hiện tượng kí sinh ở nấm
Trichoderma trên nấm gây bệnh cây là sự xoắn của sợi nấm Trichoderma
quanh sợi nấm vật chủ, sau đó xảy ra hiện tượng thuỷ phân thành sợi nấm vật
chủ, nhờ đó mà sợi nấm Trichoderma xâm nhập vào bên trong sợi nấm vật chủ.


15

Chúng phát triển mạnh ở bên trong sợi nấm vật chủ, điều này dẫn đến hiện tượng
chất nguyên sinh ở sợi nấm vật chủ bị phá rối từng phần hoặc hoàn toàn, cuối cùng,
nguyên sinh chất bị mất đi và sợi nấm vật chủ phá vỡ, giải phóng các sợi nấm đang
sinh sản của nấm Trichoderma.
Những sợi nấm chính của nấm vật chủ bị đánh thủng thành lỗ ở nhiều chỗ,
đó là hiện tượng tan rã kitin vùng xung quanh nơi xâm nhập của nấm
Trichoderma (Dubey,1995).
* Cơ chế kháng sinh (antibiotic)
Nấm Trichoderma có khả năng sinh ra một số chất kháng sinh, khả năng
sinh ra chất kháng sinh của các loài, chủng, các dạng sinh thái của nấm
Trichoderma không giống nhau.
- Gliotoxin: là chất kháng sinh được Rweindling và O.Emerson mô tả năm
1936 do nấm Trichodermal lignorum tạo thành. Chất Gliotoxin có phổ tác động
rộng lên nhiều vi sinh vật: vi khuẩn (Mycobacterium tuberculosum,
Staphylococcus aureus,,..), nấm (Ascochyta pisi, Rhizoctonia solani).
Chất Gliotoxin gây tác động độc không chỉ với các nấm khác mà còn độc
ngay cả với nấm Trichoderma (nhưng liều lượng gây chết Trichoderma rất cao,
gấp 40 lần so với nấm Rhizoctonia).
- Viridin: Là chất kháng sinh thứ 2 do nấm Trichoderma tạo thành trong
hoạt động sống của chúng, chất kháng sinh này được Brian Hemming phát hiện
vào năm 1945. Viridin độc hơn nhiều so với Gliotoxin và có hoạt tính chống
nấm cao, với lượng 0,003 – 0,006 mg/ml hoàn toàn kìm hãm sự phát triển của

Nhóm tác giả của trường Đại học Kampus Bukin Jimbaran - Indonesia đã
phát hiện ra rễ gừng và lá đu đủ có tác dụng hạn chế sự phát triển của nấm
Ceratocystis sp. gây thối quả vào năm 2001. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng
sự phát triển của nấm Ceratocystis sp. trên môi trường PDA (Potato dextrose
agar) có bổ sung 5% dịch chiết thô sẽ giảm 92,5% (đối với dịch chiết là rễ gừng),
giảm 73,3% (đối với dịch chiết là lá đu đủ). Sự phát triển của nấm Ceratocystis
sp. cũng bị giảm rõ ràng khi ta cấy dịch chiết trên vào thịt quả trước sự xuất hiện
của nấm. Điều này đã làm tăng thời hạn sử dụng của quả lên rất nhiều kể cả
trong điều kiện tự nhiên và điều kiện nhân tạo (Dewa N.S. et al., 2001) [35].
Năm 2001 – 2002, Viện Nghiên cứu bệnh hại hạt giống ở Đan Mạch đã có một số


17

kết quả nghiên cứu sử dụng tinh dầu thực vật để xử lý hạt giống cho kết quả tốt.
* Chiết xuất từ củ tỏi:
Fitonxit là chất đề kháng do cây trồng sản sinh ra có tác dụng tiêu diệt vi
sinh vật gây bệnh. Các chất fitonxit được nghiên cứu ứng dụng là củ hành, tỏi,
rau ngải. Trước đây đã dùng nước hành, tỏi để xử lý hạt giống ngô, cà chua có
tác dụng diệt nấm, vi khuẩn nên tỷ lệ phát bệnh từ hạt giống giảm đi rất nhiều.
Năm 1858, nhà bác học Pháp Louis Pasteur đã chứng minh được công
dụng diệt vi khuẩn của tỏi.
Trong tép tỏi tươi, các hợp chất sulfur là quan trọng nhất, có tỷ lệ cao nhất
trong các loại rau quả (3,2%). Khi tép tỏi còn nguyên, allin (một hợp chất sulfur)
và men allinase có lượng tương đương nhau. Khi giã nát củ tỏi, một phản ứng
cực mạnh, tức thì giữa alliin và allinase sản sinh ra Allicin là một chất không
bền, khi tiếp xúc với không khí sẽ được chuyển hóa thành diallyl disulfide,
vinydithiin, afoene là những chất có khả năng diệt khuẩn, nấm, v.v...
Năm 1944, nhà hóa học Chester J. Cavallito đã phân tích được hóa chất
chính trong tỏi có công dụng như thuốc kháng sinh. Đó là chất Allicin, chỉ có

Tập đoàn bệnh hại lạc ở Việt Nam khá phong phú với khoảng hơn 30 loại
bệnh với mức độ gây hại khác nhau, trong đó có khoảng 10 bệnh được xác định
là phổ biến như: Bệnh héo xanh vi khuẩn, đốm đen, gỉ sắt, đốm nâu, thối đen, lở
cổ rễ, thối thân trắng, mốc xám, mốc vàng, thối quả (Nguyễn Văn Viết, 2002).
Trong các bệnh đó phải kể đến Bệnh héo rũ gốc mốc trắng do nấm Sclerotium rolfsii
Sacc, bệnh lỡ cổ rễ do nấm Rhizoctonia solani, bệnh héo gốc mốc đen do nấm
Aspergillus niger là các loại nấm có nguồn gốc trong đất gây ra và gây hại đáng kể
và nghiêm trọng.
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bệnh hại lạc chủ yếu tập trung bệnh hại
trên đồng ruộng và sự ảnh hưởng của thời tiết, phân bón và chế độ luân canh đến
mức độ gây hại của các nhóm bệnh trên đồng ruộng và đi sâu nghiên cứu các
biện pháp phòng trừ chúng. Nhưng bên cạnh đó, một nguồn bệnh luôn tiềm ẩn
trong hạt giống lạc trong tập đoàn hạt giống lạc thì chưa được nghiên cứu
nhiều.Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các giống lạc khác nhau có tỷ lệ các
bệnh hại khác nhau khi cùng một điều kiện sống, tùy vào từng loại giống mà sức
đề kháng và chống chịu khác nhau, nhưng bên cạnh đó còn có một nguyên nhân
nữa là bệnh hại từ hạt giống của các giống trong tập đoàn cũng ảnh hưởng không
nhỏ.
Có sự liên quan chặt chẽ giữa nấm bệnh với những hư hại của hạt lạc


19

trong quá trình củ già, phơi khô hoặc cất giữ. Khi phơi khô trong điều kiện tự
nhiên, nếu độ ẩm không khí cao hoặc gặp mưa vào thời gian đó, củ lạc và hạt lạc
bị ẩm trong thời gian dài thuận lợi cho sự phát triển của nấm bệnh. Thường gặp
trên củ và hạt giống là những loại nấm Aspergillus sp. (Aspergillus niger,
Aspergillus

flavus,

Thối gốc mốc đen (A. niger), héo rũ gốc mốc trắng (S. rolfsii), héo rũ vàng
(Fusarium sp.), héo rũ tái xanh (Ralstonia. solanaearum), héo do tuyến trùng
(Meloidogyne sp.). Tại Việt Nam, hiện nay đã tìm thấy 4 loài Fusarium gây bệnh


20

cho lạc là: F. oxysporum, F. solani, F. roseum và F. tricinetum (Nguyễn Kim
Vân và cộng sự, 2001) [28].
Theo Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Thị Xuyến (1991) [10], trong những
năm qua, tại Việt Nam bệnh héo xanh được nghiên cứu một cách có hệ thống
nhưng những nghiên cứu về bệnh héo do A. niger, S. rolfsii gây ra chỉ mới dừng
ở việc thông báo các triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh, chứ chưa đi vào việc
khảo sát các biện pháp phòng trừ.
Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Bích Hảo về bệnh hại lạc cho biết nấm
A. niger lây nhiễm trên nhiều hạt giống như: Đậu đỗ, lạc, ngô, với tỷ lệ hạt bị
nhiễm tới trên 30% [8]. Theo tác giả Nguyễn Thị Ly (1993) [17] đã xác định có
khoảng 30 – 85% số mẫu lạc kiểm tra có khả năng sản sinh độc tố Aflatoxin do
nấm A. flavus gây ra.
Nhiều kết quả nghiên cứu trong nước gần đây cho thấy: Aspegillus flavus
thường tấn công vào lạc từ khi còn trên đồng ruộng. Ngay sau khi thu hoạch đã
có tới hơn 66% mẫu thu thập bị nhiễm bệnh. Trong đó, lạc thu hoạch vụ đông
xuân nhiễm bệnh nặng hơn lạc thu và lạc thu hoạch muộn có tỷ lệ bệnh cao hơn
lạc thu hoạch sớm [3].
Theo Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Thị Xuyến (1991) [10], trong những
năm qua, tại Việt Nam bệnh héo xanh được nghiên cứu một cách có hệ thống
nhưng những nghiên cứu về bệnh héo do A. niger, S. rolfsii gây ra mới chỉ dừng
lại ở việc thông báo triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh, chứ chưa đi vào việc
khảo sát các biện pháp phòng trừ.
Nấm A. niger hại lạc gây ra bệnh thối đen cổ rễ, là một trong 3 tác nhân

vùng khác, lạc chết héo làm giảm 70% năng suất. Ở vùng trung du Bắc bộ, bệnh
khá phổ biến nhưng tỷ lệ héo và gây chết thường ít hơn khoảng 10% (Lê Lương
Tề, 1967) [46].
Còn S. rolfsii hại phổ biến là nguyên nhân làm giảm năng suất lạc ở Đông
Nam Bộ, tỷ lệ bệnh 8 - 10%. Ở miền Bắc Việt Nam, trên những ruộng cục bộ tỷ
lệ bệnh có thể lên tới 20 - 25% (Nguyễn Thị Ly, 1996) [18].
S. rolfsii gây hại trên lạc vụ thu mạnh hơn lạc vụ xuân do thời tiết thuận lợi
cho nấm phát triển, bệnh xuất hiện vào thời kỳ cây lạc chớm ra hoa đến thời kỳ đâm


22

tia tỷ lệ bệnh cao hơn hẳn so với vụ xuân. Các giống lạc có thời gian sinh trưởng
ngắn, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh tốt, thế cây đứng, tán gọn, lá nhỏ,
kháng cao với bệnh héo rũ gốc mốc trắng thì tỷ lệ nhiễm bệnh cũng giảm hẳn so với
các giống có thời gian sinh truởng dài [8].
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hồng và CTV (1998) [10] đã xác nhận nhóm
bệnh hại lá bao gồm đốm đen, đốm nâu, gỉ sắt là nhóm bệnh hại phổ biến ở nước ta.
Thiệt hại do bệnh gây ra lớn hơn 40% năng suất, hầu hết các giống đang trồng ở
miền Bắc đều có khả năng nhiễm bệnh.
2.2.2 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh hại lạc ở Việt Nam
Trong những năm gân đây, diễn biến thời tiết thất thường, các giống lạc
nhập nội ngày càng nhiều, đồng thời việc sử dụng bừa bãi các loại thuốc trừ bệnh
đã làm cho bệnh hại lạc ngày càng gia tăng và đã gây hại rất phổ biến ở nhiều
vùng trong cả nước. Song song với việc nhập nội các giống lạc và để hạn chế tác
hại của bệnh gây ra thì đã có nhiều biện pháp phòng trừ được nghiên cứu và công
bố.
Trong những biện pháp được các nhà khoa học đưa ra thì biện pháp hoá
học vẫn được người dân sử dụng nhiều nhất do chi phí thấp, giá thành rẻ và tiện
lợi hơn trong việc sử dụng cũng như hiệu quả về mặt tức thì.

để phòng chống dịch hại, trong đó có chế phẩm sinh học để trừ bệnh hại cây
trồng. Nhưng ở Việt Nam thì để khắc phục những mặt trái của thuốc hoá học gây
ra và hướng tới một nền nông nghiệp sạch và bền vững thì biện pháp sinh học đã
bắt đầu được các nhà khoa học nghiên cứu. Biện pháp này đòi hỏi cần có sự hiểu
biết về các đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài côn trùng, các loài nấm, vi
sinh vật có ích, các loại cây trồng có khả năng úc chế sự phát triển của sâu bệnh
hại những nghiên cứu về biện pháp sinh học phòng trừ bệnh hại cây trồng ở nước
ta còn ít được quan tâm. Các nghiên cứu bước đầu đã có những hiệu quả nhất
định và được người dân chấp nhận. Hiện nay đã có một số chế phẩm được bán
trên thị trường có khả năng phòng trừ nấm bệnh như: Vi-ĐK, nhóm nấm đối
kháng Trichoderma và một số chế phẩm khác.
Vi-ĐK là chế phẩm sinh học có tác dụng đối kháng với các nấm bệnh có


24

trong đất như: Fusarium sp, Rhizoctonia solani, Sclerotium rolfsii, Phytophthora
palmivora, Pythium sp.
Chế phẩm Vi-ĐK đối kháng với các nấm bệnh bằng cách ký sinh trên nấm
bệnh, cạnh tranh thức ăn, sản sinh ra các chất kháng sinh và enzyme tiêu diệt,
ngăn cản sự xâm nhập của nấm bệnh, bảo vệ tốt bộ rễ, phòng trừ được các bệnh
chết rụi và héo rũ cây.
Cho đến nay, tác nhân sinh học trừ bệnh hại nghiên cứu nhiều hơn cả là
nhóm nấm đối kháng Trichoderma và sử dụng dịch chiết từ thực vật (tỏi, sả
gừng...) là một hướng mới đầy triển vọng [48]
* Chế phẩm từ dịch chiết thực vật
Đã có nhiều nghiên cứu sử dụng các loại thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc
thảo mộc trong phòng trừ dịch hại cây trồng. Thành phần của các loại thuốc này
được chiết xuất từ các loài cây có độc tính cao gây ảnh hưởng đến dịch hại.
Thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc thường có thời gian phân giải nhanh, không gây

phẩm sản xuất ra vừa là chế phẩm trừ nấm sinh học, lại vừa là nguồn phân bón
sinh học.
Theo Đỗ Tấn Dũng (2005-2006), nấm đối kháng Trichoderma có thể sử
dụng phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium solfsii) hại cây trồng cạn,
hiệu quả phòng trừ cao, 86,5 % (trên cây lạc) và 94,4 % (trên cây đậu tương)
trong điều kiện chậu vại. Có thể sử dụng

để phòng trừ bệnh lở cổ rễ

(Rhizoctonia solani) hại cây trồng cạn, hiệu quả phòng trừ cao, đạt 85,9% (trên
cây cà chua) và 77,8 % (trên cây dưa chuột) trong điều kiện chậu vại.
Chế phẩm này thực sự góp phần vào thực tiễn sản xuất, có khả năng
phòng trừ được bệnh nấm khô vằn hại ngô (giảm được từ 51,3%-59,8%), bệnh
chảy gôm trên cam chanh và một số bệnh lan truyền qua đất, giảm bớt lượng
thuốc BVTV hoá học, từng nơi đã giảm được đầu vào của sản xuất, góp phần bảo
vệ sức khoẻ người sản xuất.
Theo Ngô Bích Hảo (2004) [8]: tác giả tiến hành khảo sát hiệu quả ức chế của
hai loài nấm đối kháng Trichoderma harzianum và Trichoderma viride đối với S.
rolfsii. Kết quả cho thấy cả T. viride và T. harzianum đều có khả năng ức chế S.
rolfsii trên môi truờng PGA. Hiệu lực ức chế S. rolfsii của T. viride đạt 75,2% cao
hơn so với T. harzianum đạt 73,4%. Hiệu lực ức chế đạt cao nhất khi T. viride được



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status