trờng đại học vinh
khoa lịch sử
----------------
Lã thị ngoan
khoá luận tốt nghiệp đại học
bớc đầu tìm hiểu về tổ chức
tân việt cách mạng đảng ở Nghệ An
Chuyên ngành lịch sử Việt Nam
Vinh - 2010
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Thực dân Pháp xâm lợc Việt Nam, hành động bạo lực đó đợc chính nó
biện minh bởi những lời khai hoá cho một dân tộc lạc hậu. Nhng gần một
thế kỷ ngời Pháp cai trị Đông Dơng đã chứng minh ngợc lại, rằng với chính
sách độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, nô dịch về văn hoá của
chúng đã biến Việt Nam từ một xã hội phong kiến thành một xã hội thuộc địa
nửa phong kiến. Càng khai hoá thực dân Pháp càng khoét sâu mâu thuẫn giữa
kẻ đi khai hoá với kẻ bị khai hoá. Báo Nhân Đạo (LHumanite) số ra ngày
2-8-1919 viết : Về hành chính và pháp lí. Ngời Âu hớng mọi tự do và ngự trị
nh ngời chủ tuyệt đối, còn ngời bản xứ thì bị bịt mõm và bị buộc dây dắt đi,
chỉ có quyền phải phục tùng không đợc kêu ca; vì nếu anh ta phản đối thì anh
ta liền bị tuyên bố là kẻ phản nghịch hoặc là một tên cách mạng và bị xử đúng
với tội trạng ấy[39,7]. Sự khác biệt đợc thể hiện trong lĩnh vực kinh tế.
Mặc dù bị hành hạ và đối xử bạo ngợc nhng những bài báo đầu thế kỉ
giá đúng về tổ chức này đồng thời khẳng định vai trò của các thế hệ trí thức
Việt Nam trong cuộc chiến tranh giành độc lập và xây dựng đất nớc.
Từ thực tế trên, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài Bớc đầu tìm hiểu về
tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng ở Nghệ An làm khoá luận tốt nghiệp của
mình.
2. Lịch sử vấn đề
Nghệ An từ bao đời nay có truyền thống cách mạng gắn liền với công
cuộc đấu tranh kiên cờng bất khuất. Trong suốt chiều dài lịch sử cùng với
nhân dân cả nớc, nhân dân Nghệ An đã góp phần viết nên những trang sử hào
hùng của dân tộc Việt Nam. Bởi vậy Nghệ An không chỉ là đề tài nghiên cứu
của những ngời con xứ Nghệ, mà còn là đối tợng nghiên cứu của nhiều học
giả trong và ngoài nớc. Đó là cái thế, cái uy, là niềm tự hào của vùng đất địa
linh nhân kiệt.
Viết về tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng ở Nghệ An đã đợc đề cập
đến trong một số công trình nghiên cứu :
Lịch sử Đảng Tân Việt của Hà Huy Tập trình Quốc tế Cộng sản (101929), Tân Việt Cách mạng Đảng của Nhợng Tống (1945); các Hồi kí của các
bậc lão thành cách mạng nh Chỉ một con đờng của Tôn Thị Quế, Tân Việt
phân hoá của Đào Xuân Mai, Con đờng sống của Đinh Văn Đức, Nhớ nghĩ
chiều hôm của Đào Duy Anh. Một số bài viết của nhà văn Đặng Thai Mai, các
nhà hoạt động chính trị Tôn Quang Phiệt, Trần Huy Liệu, trong nhiều trang
hồi kí của học sinh trờng Quốc học Huế, Quốc học Vinh, trong các tập Danh
nhân lịch sử Việt Nam.
Ngoài ra còn nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu đăng trên Tạp chí
lịch sử, các luận văn sử họctổ chức Tân Việt đợc đề cập rất nhiều. Nhng cha
có một tác giả nào mô tả một cách đầy đủ, đánh giá một cách toàn diện vai trò
lịch sử của tổ chức này, nơi mà có những con ngời đã từng chiến đấu không
mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con
ngời. Thậm chí có một số công trình còn đánh giá thấp vai trò của họ. Ngời ta
mô tả Tân Việt một cách mờ nhạt hoặc chỉ giới thiệu có tính đơn lẻ một số
Để hoàn thành đề tài này, tác giả sử dụng các phơng pháp nghiên cứu: phơng pháp lôgic, phơng pháp lịch sử, phơng pháp phân tích, so sánh, khái
quát, tổng hợp để thấy rõ quá trình ra đời và hoạt động, cũng nh những
đóng góp của tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng ở Nghệ An.
5. Đóng góp của đề tài
Bớc đầu tìm hiểu về tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng ở Nghệ An, tác
giả mong muốn đóng góp trên một số phơng diện sau : Hệ thống t liệu, sự
kiện phản ánh quá trình hình thành và hoạt động của tổ chức Tân Việt Cách
mạng Đảng ở Nghệ An từ 1925-1929. Qua đó thấy đợc vai trò của tổ chức Tân
Việt Cách mạng Đảng trong việc tổ chức lực lợng lãnh đạo và cổ vũ tinh thần
đấu tranh của nhân dân. Đặc biệt là đóng góp trong việc thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam và sau đó là sự thành lập của Đảng bộ Nghệ An, Hà Tĩnh.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo nội dung của đề tài
gồm 3 chơng:
Chơng 1: Từ Hội Phục Việt đến Hội Hng Nam - tiền thân của Tân Việt của
Tân Việt Cách Mạng Đảng.
Chơng 2: Tân Việt Cách mạng Đảng ra đời và hoạt động Nghệ An.
Chơng 3: Vai trò của Tân Việt Cách mạng Đảng đối với sự ra đời của Đảng bộ
Nghệ An.
Nội dung
Chơng 1
Từ Hội Phục Việt đến Hội Hng Nam - tiền thân của Tân
Việt Cách mạng Đảng ở Nghệ An
1.1. Khái quát điều kiện địa lí và truyền thống cách mạng ở Nghệ An 30
năm đầu thế kỉ XX
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
khoảng giữa núi và biển thì đợc vụ chiêm mất vụ mùa, hoặc đợc vụ mùa mất
vụ chiêm, nơi mà cấy đợc vụ chiêm thì gió bão. Nơi cấy đợc vụ mùa thì lại lụt
không sao vẹn toàn đợc [25,219].
Có thể nói thiên tai không phải là của riêng Nghệ An, song trên đất nớc
Việt Nam không có nơi nào khắc nghiệt hơn vùng đất viễn trấn này. Đại Nam
nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép : Ruộng đất phần nhiều
là xấu, ít bằng phẳng. Sách Nghệ An gọi là đất tứ tắc. Trớc sự khắc nghiệt
của thiên nhiên, con ngời nơi đây luôn phải đấu tranh không mệt mỏi với các
thế lực tác quái của vũ trụ để tồn tại. Không ngại khó khăn gian khổ, không
chùn bớc trớc nguy hiểm, luôn kiên trì nhẫn nại kiên gan bền chí, cần cù và
sáng tạo trong lao động đó là nét đẹp trong phẩm chất và nhân cách của con
ngời xứ Nghệ.
1.1.2. Truyền thống cách mạng
Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, nhân dân Nghệ An đã tạo
dựng đợc nhiều truyền thống tốt đẹp, đáng kể nhất là truyền thống yêu nớc
đấu tranh kiên cờng bất khuất .
Trong hơn ngàn năm Bắc thuộc, nhân dân Nghệ An đã cùng với nhân
dân cả nớc vùng dậy đấu tranh chống lại ách đô hộ của phong kiến phơng Bắc
giành lại quyền độc lập tự chủ cho dân tộc.
Mở đầu cho phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Nghệ An
là hành động ủng hộ cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trng lãnh đạo nổ ra ở Giao
Chỉ (mùa xuân năm 40). Cuộc khởi nghĩa thắng lợi làm cho Nghệ An trở
thành một bộ phận của vơng quốc độc lập thời Trng Vơng từ năm 40-43.
Mùa xuân năm 542, nhân dân Nghệ An đã góp phần xứng đáng trong
cuộc khởi nghĩa Lí Bí. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa đã làm cho dân tộc ta
hồi sinh với cái tên mới Vơng quốc Vạn Xuân (542-602). Cuộc khởi nghĩa
tiêu biểu nhất cho tinh thần yêu nớc, ý chí giành độc lập của nhân dân Nghệ
An là cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc Loan lãnh đạo năm 713. Ngay sau khi
sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc, nhất là từ khi thực dân Pháp xâm chiếm nớc ta
nhân dân Nghệ - Tĩnh luôn có mặt trong các phong trào cứu nớc và thờng đi
đầu trong cuộc đấu tranh chống Pháp. Nơi đây đã sinh ra nhiều nhà yêu nớc
nổi tiếng nh Trần Tấn, Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Bội Châu
Ngay sau khi Pháp nổ súng xâm lợc Việt Nam cùng với nhân dân cả nớc, nhân
dân Nghệ An đã liên tục nổi dậy chống Pháp mãnh liệt nh khởi nghĩa Giáp
Tuất (1874) do Trần Tấn và Đặng Nh Mai khởi xớng, khởi nghĩa Hơng Khê do
Phan Đình Phùng - Cao Thắng lãnh đạo (1885-1896), khởi nghĩa Nguyễn
Xuân Ôn - Doãn Nhã (1885-1889).
Sau khi phong trào Cần Vơng thất bại, những năm đầu thế kỉ XX phong
trào yêu nớc ở Nghệ An đã chuyển sang xu hớng dân chủ t sản. Nhà chí sĩ yêu
nớc Phan Bội Châu đã cùng các đồng chí của mình là Đặng Thái Thân,
Nguyễn Hàm lập Hội Duy Tân (1904) và khởi xớng phong trào Đông Du. Chủ
trơng ban đầu của Hội là xúc tiến cuộc bạo động và đa thanh niên sang Nhật
học tập với mu đồ phục quốc. Phong trào Đông Du đã phát triển rộng khắp
trong Nam ngoài Bắc lôi kéo đợc nhiều tầng lớp nhân dân tham gia kể cả giáo
dân. Phan Bội Châu là linh hồn và là một trong những nhân vật đứng đầu trong
phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX ở nớc ta.
Cũng trong thời gian Phan Bội Châu đang chuẩn bị thành lập Quang
Phục Hội ở Trung Quốc thì ngời thanh niên Nguyễn Aí Quốc đã rời Tổ quốc
ra đi tìm đờng cứu nớc theo một hớng mới. Nhiều thanh niên xứ Nghệ tham
gia lớp huấn luyện cách mạng của Đặng Thúc Hứa ở Xiêm hoặc của Nguyễn
Aí Quốc ở Quảng Châu (Trung Quốc) trớc khi trở về nớc hoạt động.
Nghệ An trở thành nơi trởng thành của lớp ngời cộng sản đầu tiên ở nớc
ta nh Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong họ chính là ngời gieo hạt
giống cách mạng, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong phong trào yêu nớc đang dâng cao trong cả nớc và trên quê hơng mình. Hình thành con đờng
cứu nớc mới mẻ đầy triển vọng cho cách mạng Việt Nam. Sự lựa chọn con đờng cứu nớc đó của dân tộc và nhân dân ta không thể không kể đến những
đóng góp to lớn của những con ngời xứ Nghệ.
Chơng trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 để bóc lột nhân dân các nớc thuộc
địa. Ngày 22-4-1921, Bộ trởng Bộ thuộc địa Anben Xarô trình bày dự luật
khai thác thuộc địa chính thức bắt đầu kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ hai
ở Đông Dơng. Ngay lập tức các tập đoàn t bản Pháp ồ ạt đổ vốn đầu t vào
Đông Dơng, có thể xem đây là kế hoạch ăn cớp mà thực dân Pháp để tâm. Thế
nên trong buổi khánh thành Hội chợ Thuộc địa tổ chức ở Macxây ngày 16-41922, cựu Toàn quyền Đông Dơng, Allbent Sarraut đã viết : Triển lãm thuộc
địa đã mang lại một phát hiện lớn, khiến cho bất cứ ngời Pháp nào quan tâm
đến vận mệnh đất nớc không thể thờ ơ hoặc ỳ ra. Nghị lực t bản, ý chí, những
cánh tay, những khối óc tất cả những tích cực ấy mạnh dạn hớng vào các thuộc
địa của nớc Pháp để hoàn tất việc khai thác một kế hoạch có phơng pháp và
chính xác [30,27-28].
ở Việt Nam, Nghệ An là một trọng điểm đầu t khai thác của t bản Pháp
Ngân hàng Đông Dơng quyết định thành lập một nhà băng ở Vinh và chịu
trách nhiệm trớc Chính phủ về vấn đề tài chính - tiền tệ và là bà đỡ cho các tập
đoàn t bản Pháp có vốn đầu t vào Vinh - Bến Thuỷ - Trờng Thi và Nghệ An.
Vòi bạch tuộc của t bản Pháp đã vơn tới lu vực sông Lam [30,27]. Ngày 1012-1927, Toàn quyền Đông Dơng kí Nghị định nhập 3 khu vực Vinh, Trờng
Thi, Bến Thuỷ thành thị xã Vinh - Bến Thuỷ - một trung tâm đô thị lớn của
khu vực. Chính sự u ái đặc biệt của t bản Pháp đối với Nghệ An đã làm cho
diện mạo kinh tế ở đây có nhiều biến chuyển.
Trớc hết là hot động lập đồn điền trong lĩnh vực nông nghiệp. Cũng tơng tự nh trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất, lần này t bản Pháp tiếp
tục câu kết với giai cấp phong kiến cớp đoạt những vùng đất phì nhiêu, màu
mỡ ở Nghĩa Đàn, Anh Sơn, Quỳ Châu, Tơng Dơng để lập các đồn điền lớn. Đó
là các đồn điền : Laipich: 7.560 ha; Đante: 6000 ha (Nghĩa Đàn); Marôttơ:
418 ha (Quỳ Châu). Đây đều là những vùng đất phì nhiêu của Pháp cớp đoạt
để trồng cà phê xuất khẩu. Ngay cả những vùng đất đỏ ở miền xuôi, t bản
Pháp cũng tìm cách cớp đoạt tiêu biểu là Sanavông chiếm của làng Văn Lâm,
huyện Quỳnh Lu 120 ha lập đồn điền. Không chỉ những vùng đất đỏ phù hợp
với cây công nghiệp bị xâu xé mà những đồn điền ở miền xuôi cũng bị chúng
là vấn đề công nghiệp hoá thành phố Vinh - Bến Thuỷ. Với chủ trơng đó,
nhiều xí nghiệp nhà máy cũ tiếp tục đợc nâng cấp, mở rộng, nhiều xí nghiệp
nhà máy mới mọc lên. Tính chung năm 1926 cả trung tâm thành phố có 20
nhà máy lớn nhỏ, trong đó nhà máy sửa chữa xe lửa Trờng Thi là một trong ba
nhà máy sửa chữa ở Việt Nam làm nhiệm vụ đại tu đầu máy xe lửa và toa xe
trên tuyến đờng sắt Trung Kì. Có đủ các phân xởng thu hút 1000 công nhân
làm việc. Vinh - Bến Thuỷ cũng là nơi đặt trụ sở điều hành công cuộc khai
thác của nhiều công ty t bản Pháp. Năm 1922, công ty Diêm Đông Dơng,
công ty Lâm nghiệp Thơng Mại Trung Kì hợp nhất thành Hội Lâm nghiệp làm
Diêm Đông Dơng (gọi tắt là SIFA). Cơ sở của SIFA gồm có nhà máy Diêm,
nhà máy Điện, nhà máy Ca ở Bến Thuỷ và một số đồn điền lớn ở Nghĩa Đàn
với khoảng 1500 công nhân. Vì vậy đây đợc xem là một công ty t bản Pháp
kinh doanh lớn có thế lực nhất ở Trung Kì. Bên cạnh các xí nghiệp và hiệu
buôn Hoa Kiều, n Kiều, tính đến năm 1926 đã có 6 công ty và 27 hiệu buôn
bán lớn ở thành phố Vinh - Bến Thuỷ. Đến những năm 1927-1930, Vinh - Bến
Thuỷ trở thành một khu công nghiệp lớn ở Trung Kì với 20 nhà máy tập trung
và khoảng 7000 công nhân [14,27].
Thơng nghiệp cũng tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh, nhiều hiệu
buôn mới xuất hiện. Ngoài ra các cơ sơ hỗn hợp kinh doanh công nghiệp thơng mại và các công ty độc quyền của thực dân Pháp mọc ra ngày một nhiều,
hoạt động dữ dội làm ảnh hởng đến các thị trấn, đồng bằng và miền núi của
tỉnh Nghệ An.
Để tăng nguồn thu thực dân Pháp còn ra sức bóc lột nhân dân bằng thuế
khoá. Thuế ruộng đất tăng từ 1đ50 năm 1898 lên 1đ95 năm 1929. Từ năm
1924 trở đi ngoài khoản chính thu nh vậy, mỗi mẫu còn phải nộp thêm một
khoản ngoại thu là 30% số thuế chính. Năm 1899 mỗi suất đinh là 0đ30 nhng
đến Nghị định toàn quyền ngày 30-10-1928 mỗi suất đinh quy định là 2đ50.
Ngày 20-9-1929 toàn quyền Đông Dơng lại ra Nghị định bắt thu thêm mỗi
suất đinh ở Nghệ An là 12%. Đó là cha kể hiện tợng lạm thu của bọn tổng lý.
Chỉ riêng vụ su năm 1929, ở 8 huyện miền xuôi của Nghệ An (Hng Nguyên,
Nam Đàn, Nghi Lộc, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lu, Thanh Chơng, Anh
hiện tợng rất độc đáo trong nông thôn Nghệ An hồi đó là cuộc đấu tranh đòi
quyền dân chủ, đòi cải cách hơng thôn. Cuộc đấu tranh của nông dân gọi là
làng Hộ chống lại bọn chức sắc, tổng lý, cờng hào. Gọi là làng Hộ là một cuộc
đấu tranh lâu dài và quyết liệt. ở những vùng nh Dơng Xuân (Anh Sơn); Cát
Ngạn, Võ Liệt (Thanh Chơng); Phố Đông, Quảng Xá (Nam Đàn); Yên Dũng,
Long Xuyên (Hng Nguyên)cánh làng Hộ đã tổ chức họp làng riêng. Có lúc
bọn hào lý đã phải nghe theo quyết định của làng Hộ. Có nơi nh làng Thanh
Thuỷ (Nam Đàn) trai làng Hộ đã tổ chức đánh chết cả Tây đoan về lục xét
trong làng. Điều đáng nói là thanh thế của phái làng Hộ ở Nghệ An rất lớn,
nhiều nơi họ lôi kéo đợc bộ phận tiến bộ trong phe hào. Hoạt động của họ có
ảnh hởng sâu sắc đối với t tởng, tình cảm của quần chúng lao động. Đó là cơ
sở chính trị, tổ chức để nông thôn Nghệ An có điều kiện tiếp thu những t tởng
tiến bộ và những trào lu cách mạng mới. Nông dân Nghệ An cũng nh nông
dân cả nớc luôn là lực lợng hăng hái và đông đảo của cách mạng. Lịch sử dân
tộc ta từ buổi lập nớc đến nay đều ghi nhận ở họ một tinh thần chiến đấu hi
sinh lớn lao cho sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc. Trong quá trình phân hoá giai
cấp, mặc dù có nhiều điểm khác nhau nhng giai cấp nông dân lại là giai cấp
có quan hệ máu thịt với giai cấp công nhân và sẵn sàng liên minh với nhau
trên một trận tuyến đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó là mặt mạnh của giai cấp
nông dân nói chung và nông dân Nghệ An nói riêng. Song, cũng phải nói rằng,
sự chi phối của nền kinh tế nông nghiệp tiểu nông đã tạo ra một số hạn chế
của giai cấp nông dân nh tính tổ chức, tính kỉ luật cha cao. Điều đó lí giải tại
sao có một lực lợng hùng hậu nhng nông dân không thể là giai cấp trực tiếp
nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng mà sứ mệnh đó phải trao cho một lực lợng
khác tiến bộ hơn.
Tầng lớp tiểu t sản : Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai đợc mở rộng
về quy mô, tăng cờng về tốc độ làm cho Nghệ An trở thành một thị trờng ngày
càng rộng mở. Sức sản xuất và tiêu thụ hàng hoá tăng lên nhanh chóng tỉ lệ
Vinh - Bến Thuỷ đã bắt đầu mạnh dần lên, tuy còn lẻ tẻ, tự phát nhng phần
nào đã chứng tỏ tinh thần đấu tranh chống áp bức bóc lột của họ. May mắn
nhất cho những ngời công nhân ngày đêm chôn mình trong chốn địa ngục
trần gian, gồng mình dới hai tròng áp bức bóc lột của t bản, đế quốc và
phong kiến là sự gặp gỡ với những ngời trí thức tiến bộ. Đó là tầng lớp trí thức
Tân học yêu nớc nhạy cảm trớc thời cuộc, am hiểu tình hình chính trị - xã hội
lúc bấy giờ. Họ tự thấy cần phải gần gũi với giai cấp công nhân và muốn đem
hiểu biết của mình phục vụ cho quyền lợi của giai cấp đó. Lớp trí thức Tân
học hoạt động ở Vinh lúc bấy giờ đa số là thầy giáo đã tích cực mở lớp dạy
chữ quốc ngữ cho công nhân và dân nghèo. Thông qua các lớp học, tầng lớp
trí thức đã tuyên truyền cho thợ thuyền và ngời lao động tinh thần yêu nớc,
giới thiệu cho họ những tấm gơng tiểu biểu trong phong trào đấu tranh của
công nhân, nhân dân lao động trong nớc cũng nh trên thế giới. Và với sự xuất
hiện của các tổ chức yêu nớc đang đợc hình thành ở Vinh, từ 1926-1927 trở đi,
phong trào yêu nớc ở Nghệ An mà nòng cốt là phong trào công nhân đã sôi
nổi hẳn lên và phát triển theo chiều hớng mới hơn hẳn về chất và lợng.
1.2.2. Cuộc vận động thành lập Hội Phục Việt
1.2.2.1. Côn Đảo - trờng học cứu nớc nơi nhen nhóm tinh thần Phục Việt.
Sau cuộc đấu tranh chống thuế ở Trung Kì (1908) một tầng lớp tù nhân
mới - những vị văn thân, các nhà nho yêu nớc đã từng hoạt động trong phong
trào Duy Tân, Đông Du (1905-1908), Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), phong
trào khất su, giảm thuế ở Trung Kì (1908) đã bị thực dân Pháp đày ra Côn
Đảo. Ngay từ khi mới ra Côn Đảo, với ý chí cứu nớc quật cờng họ đã tiếp tục
nhen nhóm tinh thần Phục Việt.
Tại nơi đày ải, dới roi vọt của kẻ thù các sĩ phu yêu nớc - những ngời trí
thức đơng thời vẫn nung nấu tinh thần đấu tranh giành độc lập cho dân tộc. Từ
năm 1913 một số nhiều lần đóng bè vợt ngục không thành nhng vẫn không
nản lòng, tiếp tục nung nấu tinh thần Phục Việt (Phục hng Việt Nam).
ngời yêu nớc trong đất liền đang và sắp bớc vào cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc. Dới ách cai trị của thực dân Pháp, Côn Đảo trở thành địa ngục trần gian.
Nhà tù Côn Đảo đợc mệnh danh không chỉ là đòn roi, không chỉ là đi
dễ mà còn rất khó về: khó về vì nhà tù Côn Đảo có quá nhiều biện pháp
giết dần giết mòn ngời tù : ăn không đủ sống, ở không đủ chỗ, thở không đủ
không khí, tắm không đủ nớc, ốm không đủ thuốc men, mặc không đủ quần
áo, rét không đủ chiếu, làm không kịp thở, chết không quan tài, không bia
mộTrong khi đó ở Côn Đảo lại quá thừa xiềng xích, roi vọt, xà lim, hầm tối;
thừa cai ngục tàn bạo trắng trợn, ngu xuẩn tham lam, thừa mánh khoé lừa bịp
để đàn áp quần chúng [12,51]. Chính do đi dễ, khó về mà những lớp tù
nhân đầu tiên đã liều chết, nổi dậy chống lại bọn cai ngục quyết liệt với hi
vọng tìm kiếm cơ may đợc sống sót trở về. Nhng các sĩ phu không hành động
nh vậy, roi vọt chết chóc không thể làm nao núng ý chí cứu nớc của lớp lớp
yêu nớc.
Và chính ở đó lại trở thành nơi hội tụ của những anh hào, trở thành
nơi nung nấu tinh thần Phục Việt của các nhà nho yêu nớc, của những vị văn
thân. Năm 1908, số tù quốc sự đã lên đến 50 ngời trong số đó phải kể đến
các cụ : Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức
Kế, Nguyễn Quyền, Lê Đại, Lê Văn Huân (Giải Huân), Nguyễn Đình Kiên
(Tú Kiên), Trần Hoành (Cửu Cai), Phạm Văn Ngôn, Phạm Văn Thản, Hoàng
Văn Khải (Cử Ngò), Trần Kì Phong các cụ đều mong muốn Phục Việt.
ở trong tù, trớc sức mạnh của đòn roi ngời ta tởng các cụ văn thân
không chủ trơng bạo động mà đã chuyển sang hình thức đấu tranh ôn hoà, chỉ
chú ý tới các hoạt động văn hoá và cải thiện đời sống. Ngời ta không hiểu đợc
rằng đó chỉ là một cách nhằm giữ gìn lực lợng chuẩn bị cho những trận chiến
đấu quyết liệt sau khi ra khỏi nhà tù đế quốc mà thôi.
Càng nghiên cứu hoạt động của các sĩ phu đầu thế kỉ XX, ta càng thấy ý
chí cứu nớc của các cụ là không hề nhạt phai. Các cụ âm thầm bàn tính việc
Giải Huân, Cử Ngò khi nào ra tù sẽ thành lập Hội Phục Việt, tôn Phan Bội
Châu làm minh chủ quyên góp thật nhiều tiền, lập chính phủ lu vong ở Trung
Quốc. Nhng các cụ đã hành động trớc ý định. Theo Nhợng Tống (Hoàng
Phạm Trân), tác giả Tân Việt Cách mạng Đảng, thì chính lúc đó là : Cụ Lê
Đại cùng anh em lập nên Hội Phục Việt ở giữa Côn Lôn, các cụ nhà nho kín
đáo, nhiệm nhặt biết chừng nào và các cụ chủ trơng dùng võ lực mà lấy lại
nớc Việt Nam.
Theo Văn bản thông báo số 2951-SC của Quyền Khâm sứ Trung Kì gửi
cho các ông công sứ, các ông đốc lý Tuaran và Đà Lạt (Huế, ngày 11-9-1929)
đã xác nhận : ở Côn Đảo, các tù chính trị hồi 1908 và 1913 đã thành lập một
nhóm đặt tên là nhóm Phục Việt : Lê Huân, Tú Kiên, Cửu Cai, Huỳnh Thúc
Khángtất cả đều là những nhà nho ở trong nhóm này. Mục đích của nhóm
này là tổ chức việc các đồng chí vợt ngục và khi đợc trả lại tự do lại tuyên
truyền làm loạn chống chính phủ bảo hộ [2,11].
Cũng theo Tân Việt Cách mạng Đảng của Nhợng Tống nếu vợt ngục
thành công, các sĩ phu sẽ tìm cách liên lạc với những ngời Việt Nam yêu nớc
đang hoạt động ở Trung Quốc. Ngày 20-8-1917 các cụ bố trí cho Trần Hoành
(Cửu Cai), Nguyễn Đình Kiên, Phạm Cao Đài và ba tù thờng phạm xuống bè
ra khơi. Qua mấy ngày sóng nớc lênh đênh họ dạt vào địa hạt Bình Thuận,
Trần Hoành vào cổ động cho Hội ở trong Nam, cụ Tú Kiên và Phạm Cao Đài
bí mật đi ra ngoài Bắc. Trải qua nhiều gian nan vất vả, vợt qua nhiều rừng núi
hiểm trở mới tới đợc Quảng Châu (Trung Quốc), nhng liền bị Phan Bá Ngọc
(con trai của Đình Nguyên Tiến sĩ Phan Đình Phùng), ngời mà Phan Bội Châu
tin cậy đa ra ngoài lúc bấy giờ đã bị thực dân Pháp mua chuộc và trở thành kẻ
phản bội báo cho mật thám Pháp. Các cụ bị mật thám bắt và bị chúng đa trở
lại Côn Đảo, thế là các cụ đành chịu chờ hết hạn tù mới ra tay lo việc quốc
sự.
Cho dù Phục Việt ở Côn Đảo chỉ mới xuất hiện nh một tia sáng, phải
nh thế ru ? [24,51]. Những lời tâm huyết của cụ Phan cũng là lời cảnh báo có
tính chất răn dạy lớp trẻ học đờng thời bấy giờ. Nhng trên thực tế trong các trờng Quốc học do chính quyền thực dân mở, Thanh niên học sinh đã sớm bớc
vào cuộc đấu tranh.
Quốc học Huế ra đời và ngay từ những năm đầu thế kỉ XX đã chịu ảnh
hởng những giá trị lịch sử của cuộc cách mạng t sản pháp (1789) và cuộc đấu
tranh gay gắt giữa t sản và vô sản Pháp thế kỉ XIX. Đó là một trong những yếu
tố góp phần thúc đẩy nhiều học sinh Quốc học Huế đến với cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc, rồi trở thành những chiến sĩ cách mạng kiên cờng sáng
suốt. Nhng yếu tố quyết định nhất vẫn là ngọn lửa yêu nớc, tinh thần dân tộc
đã thôi thúc nhiều học sinh muốn học chữ Tây để hiểu ngời Tây nhằm tìm ra
phơng sách mới để khôi phục lại độc lập chủ quyền và chấn hng đất nớc.
Mở đầu cho tinh thần yêu nớc của thanh niên, học sinh Quốc học Huế
là thái độ của Nguyễn Tất Thành đối với cuộc đấu tranh đòi giảm thuế, khất su
của bà con nông dân Thừa Thiên - Huế. Tháng 4-1908, Nguyễn Tất Thành vận
động đợc nhiều thanh niên trong lớp đi phu đi dịch. Thù ghét hành động yêu
nớc đó, nhà trờng thực dân Pháp đã buộc Nguyễn Tất Thành phải thôi học. Sau
Nguyễn Tất Thành lớp ngời mà các cụ lo lạc lối đang âm thầm rèn đúc ý chí
tiếp bớc những ngời đã ngã xuống vì nền độc lập. Họ vừa lớn lên đã chứng
kiến nhiều vụ đàn áp đẫm máu của thực dân Pháp đối với cuộc nổi dậy của
nhân dân Trung Kì trong cuộc kháng thuế năm 1908, của Việt Nam Quang
Phục Hội trong những năm 1915-1916 và cuộc nổi dậy của anh em binh lính
Thái Nguyên (1917). Tấm gơng xả thân vì độc lập tự do và khí phách hiên
ngang trớc quân thù của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Hoàng Trọng Mậu,
Nguyễn Thức Đờng, Lơng Ngọc Quyến, Trịnh Văn Cấn, Lê Quyên và Hồ Sĩ
Phấn [19,117-158] đã chấn động mạnh mẽ đến tình cảm yêu nớc thơng nòi
của lớp trẻ, thôi thúc họ tìm đến và học hỏi kinh nghiệm của các bậc tiền bối.
Trong 30 năm đầu thế kỉ XX, nhiều học sinh Quốc học Huế đã hăng hái
tham gia cuộc vận động cứu nớc nh Võ Liêm Sơn, Trần Đình Thanh (Trần
Một sự tình cờ làm cho tôi tự hào một cách ngây thơ là năm Canh Tý (1900),
năm Phan Bội Châu thi trờng Nghệ An đỗ Giải Nguyên (cũng gọi là thủ khoa,
ngôi vị cao nhất của thi hơng) cũng là năm cha tôi thi đỗ tú tài trờng đó. Theo
cách gọi ngày xa thì cha tôi là bạn đồng niên của Phan Bội Châu mà các cụ
bạn đồng niên với nhau thì thờng đi lại, thân mật thăm hỏi lẫn nhau, có khi giữ
tình nghĩa suốt đời với nhau [42,8]. Theo Tôn Quang Phiệt thì thân phụ và
các anh chị trong gia đình thờng bí mật dạy ông hát, những bà hát mang lời
thơ của Phan Bội Châu.
Cũng xơng, cũng thịt, cũng da
Cũng hòn máu đỏ con nhà Lạc Long
Sao mà chịu trong vòng trói buộc
Bốn mơi năm xơ xác lầm than
Thơng ôi Bách việt giang san !
Văn minh đã sẵn, khôn ngoan có thừa [42,8]
Những lời thân tình trong bài hát khuyên đồng bào đấu tranh và những câu
chuyện chống ngoại xâm trong lịch sử dân tộc đã thúc đẩy Tôn Quang Phiệt
sớm tiếp cận với những t tởng tiến bộ.
Lúc còn đang học ở Quốc học Vinh, ông đã viết đợc bài văn tế Nghĩa sĩ
trận vong, ca ngợi các nhà yêu nớc bị thực dân Pháp hành quyết ở Quán Thầu
Đầu gần Quốc học Vinh, bài văn tế này đã đợc truyền tụng khắp trờng. ở tr-
ờng Quốc học Vinh, Tôn Quang Phiệt là trợ thủ đắc lực của các thầy giáo có
tinh thần yêu nớc, ông cùng các bạn của mình tổ chức ra các buổi sinh hoạt
câu lạc bộ. Nguyễn Xiển một nhân chứng lịch sử kể lại : Tôi không khỏi bồi
hồi nhớ tới các buổi sinh hoạt kiểu các câu lạc bộ tổ chức ở nhà hai anh em
Phan Tuyên, Phan Hoà một vài lần trong một tháng. Anh em đến trao đổi với
nhau những bài văn thơ hay đã đọc đợc nhất là văn thơ cách mạng của Phan
Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, cùng với các bài văn thơ ca
hò vè chống Pháp, chống vua quan [24,51].
Phiệt vào chơi. Cuộc gặp có cả cụ Cử Ngò (tức Hoàng Văn Khải) và một vài
ngời khác. Cụ Giải Huân khuyến khích mọi ngời : Nếu chúng ta làm đợc một
chuyện gì với quốc gia dân tộc thì nhân dân sẽ ghi nhớ bằng tợng đồng bia
đá.
Sau cuộc gặp đó, Tôn Quang Phiệt trở lại Hà Nội chuẩn bị cho việc xây
dựng tổ chức. Đầu hè năm 1925, Tôn Quang Phiệt triệu tập cuộc họp ở nhà
Nguyễn Văn Ngọc bàn việc thành lập tổ chức. Cuộc gặp không có mặt cụ
Nghè Ngô, Lê D và Dơng Bá Trạc. Nguyễn Văn Ngọc đề nghị đặt tên cho tổ
chức yêu nớc là Việt Nam nghĩa đoàn, mọi ngời tán thành. Bàn đến cách làm
việc thì nảy ra hai khuynh hớng : Phan Kiêm Huy, Nguyễn Khánh Toàn và
Hoàng Minh Giám bàn nên hoạt động công khai, vì lúc này ở Pháp có Hêrriot
là ngời của Đảng Xã Hội lên cầm quyền, nhng số đông bàn chỉ nên hoạt động
bí mật [24,59]. Cuộc họp đã cử Tôn Quang Phiệt làm trởng đoàn.
Tôn Quang Phiệt kể rằng : Hồi ấy chúng tôi cha có kinh nghiệm chính
trị gì, chỉ bàn mục tiêu là đánh đổ Nam triều, tìm cách thu nạp đợc nhiều đoàn
viên. Dự thảo điều lệ thì na ná nh điều lệ hội đá bóng, có khoản tài chính ghi :
Luôn luôn dự bị một món tiền để tiền để khi có cơ hội là phải ngời đi xuất dơng lo toan việc lớn.
Tháng 6-1925, trớc ngày nghỉ hè, nhóm Việt Nam nghĩa đoàn căn cứ
theo điều lệ Hội Việt Nam Tồn Tích giao nhiệm vụ cho các thành viên trở về
địa phơng lựa chọn ngời thành lập chi nhánh. Nhng khi Tôn Quang Phiệt trở
về Vinh thì sự việc lại không diễn ra theo hớng phát triển của Việt Nam nghĩa
đoàn.
Nh vậy nhà tù Côn Đảo - một nơi đợc mệnh danh là roi vọt và đánh đập,
ở đó đã nhen nhóm tinh thần Phục Việt của các sĩ phu yêu nớc. Dù bị đánh
đập, khổ cực nhng họ luôn có ý chí, quyết tâm khi trở về sẽ Phục Hng Việt
Nam. Quả đúng nh vậy, sau khi trở về, bằng các hoạt động của mình các sĩ
phu đã vận động tầng lớp trí thức thanh niên tiểu t sản đang trăn trở phải làm
thế nào để nối tiếp đợc sự nghiệp cứu nớc, đi theo con đờng mà các cụ đã hớng. Có thể nói cuộc vận động tầng lớp thanh niên chính là điều kiện thuận lợi
để tổ chức Phục Việt ra đời và mảnh đất Nghệ An đợc chọn là nơi gieo hạt
giống Phục Việt nảy mầm và phát triển.
Nguyên Cẩn), Đặng Thái Thu (con Đặng Thúc Hứa), Đặng Thái Thuyến (con
Đặng Thái Thân)Toàn là những ngời thuộc diện Cừu gia đệ tử đối với bọn
Pháp xâm lợc. Hội đợc thành lập với chủ trơng gồm 3 điểm : nghiên cứu tình
hình chính trị trong và ngoài nớc để quyết định đờng lối hoà bình hay bạo
động; tìm hiểu và liên hệ với các tổ chức chính trị ngời Việt Nam ở Xiêm và
Trung Quốc; kết nạp thêm hội viên [9,271]. Trong cơ quan lãnh đạo của Hội,