*Bớc đầu khoá sát các yếu tố ngữ âm trong thơ Tiếng Viiệt Hồ Chí Minh*
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học Vinh
Khoa Ngữ văn
*********
Trơng Thị Thu Hà - 39 A văn
Bớc đầu khảo sát các yếu tố ngữ âm
trong thơ tiếng việt hồ chí minh
Khoá luận tốt nghiệp đại học ngành ngữ văn
Khoá học 1998 - 2002
Thầy giáo hớng dẫn:
Nguyễn Hoài Nguyên
---------------------------------------------=1=----------------------------------------
*Bớc đầu khoá sát các yếu tố ngữ âm trong thơ Tiếng Viiệt Hồ Chí Minh*
Lời nói đầu
Từ trớc tới nay, khi bàn đế ngôn ngữ thơ, nhiều ngời đều cho rằng
ngôn ngữ nh là sự tải tạo có tính mẫu mực của hình thức nghệ thuật, nh là sự
thể hiện có tính nhận thức, có tính mỹ học trong sáng tạo nghệ thuật. Bởi lẽ
thơ một hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt, một kiến trúc đầy âm vang của
các yếu tố âm thanh.
Âm thanh trong thơ có vị trí quan trọng bậc nhất. Vì thế, khi nói đến
thơ chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố nằm trong sự vận dụng nghệ thuật
đáng quý, đáng trân trọng, tự hào. Bởi vậy, thơ Bác là một thành tựu nổi bật
của nền thơ ca Cách mạng Việt Nam, một bộ phận không thể tách rời của
đời sống tinh thần Việt Nam trong hơn nữa thế kỷ qua.
Thơ của Ngời bao gồm thơ chính trị, chính luận, giáo dục, tuyên
truyền, cổ động... đợc viết bằng nhiều thứ tiếng khác nhau để nhằm những
mục đích khác nhau. Trong đó, mảng thơ Tiếng Việt chiếm một vị trí quan
trọng, chứa đựng một nội dung t tởng rộng lớn và phong phú.
Nghiên cứu, tìm hiểu thơ của Bác nói chung và mảng thơ Tiếng Việt
nói riêng là để qua thơ tìm hiểu con ngời Bác, tìm hiểu tâm t, tình cảm cách
mạng kiên cờng, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản cao cả, giầu tính chiến đấu và
ý chí "thép" của ngời trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh.
Thơ Bác là thơ của một vị lãnh tụ, tìm hiểu thơ Bác để hiểu đợc con
ngời vĩ đại ấy đã sống và chiến đấu nh thế nào. Nhất là mảng thơ Tiếng Việt
đã nói lên đợc điều ấy một cách rất rõ ràng, sâu sắc.
Thơ Bác là thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa, tìm hiểu thơ Bác chúng ta
cố gắng góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lớn của thơ ca, của nền văn học
cách mạng Việt Nam hiện đại.
Thơ của Bác dễ hiểu, dễ nhớ. Đó là điều đầu tiên chúng ta cảm thấy
khi đọc thơ Bác, đặc biệt là những bài thơ Tiếng Việt. Bởi lẽ, Bác làm thơ
đâu chỉ vì thơ, đâu chỉ muốn trở thành nhà thơ mà đó là "mấy lời thành thật
nôm na" bởi "lão phu nguyên bất ái ngâm thi". Cái ham, cái "ham muốn tột
bậc" của Bác đâu phải là thơ mà là hạnh phúc cho đồng bào, độc lập, thống
nhất cho Tổ quốc. Trên con đờng cách mạng, Bác đã làm thơ và đã bộc lộ
một hồn thơ lớn. Thơ Bác, đặc biệt là những bài thơ Tiếng Việt đã thể hiện
con ngời Bác nh Phạm Văn Đồng viết "Hồ Chủ Tịch là một ngời Việt Nam,
Việt Nam hơn ngời Việt Nam nào hết. Ngót 30 năm bôn tẩu bốn phơng trời,
Ngời vẫn giữ phần tuý phong độ, ngôn ngữ, tính tình của một ngời Việt
Nam". Đúng vậy, những bài thơ Tiếng Việt của Bác giản dị, mộc mạc nh
chính con ngời Bác, đọc lên là chúng ta dễ nhớ, dễ thuộc, dễ truyền miệng,
và đằng sau những câu, những bài có vẻ " văn vần" ấy là những chủ trơng,
thực tế còn có thể tiến hành theo một hớng khác, tức là khảo sát dới góc độ
ngôn ngữ học. Xác lập những cơ sở khoa học về mặt ngữ âm của hoạt động
hiệp vần, ngắt nhịp, phối điệu, nhìn các yếu tố một cách toàn diện trong các
mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa các yếu tố, từ đó chỉ ra tác dụng biểu
nghĩa của những hình tợng âm thanh đợc tạo ra từ các yếu tố ngữ âm. Đó là
một việc làm khoa học có tính hệ thống để đánh giá một bình diện trong
ngôn ngữ thơ của Bác.
1.3/ Về mặt lý thuyết, vần, nhịp, điệu là những yếu tố thuộc thi pháp
học chứ không phải thuộc ngôn ngữ. Nhng trong thực tế sáng tạo và thởng
thức thơ ca từ góc độ ngữ âm không thể tách rời với các nền chất của ngôn
ngữ và sự tìm hiểu về nó. Việc cho rằng những"khuôn", những tiêu chuẩn
chặt chẽ cho việc tổ chức câu thơ, bài thơ khẳng định rõ điều này.Tìm hiểu
cách tổ chức các yếu tố ngữ âm, chú ý triệt để vào các đặc trng ngữ âm là
một việc làm cần thiết để các nhà thơ hiểu hơn về cơ chế ngôn ngữ của hoạt
động hiệp vần, ngắt nhịp, tổ chức âm điệu để cho ngời đọc có cơ sở đánh
giá, cảm thụ, phát hiện cái hay, cái đẹp của các cách tổ chức ngữ âm trong
thơ và đánh giá hiệu quả giao tiếp của nó một cách chính xác.
1.4/ Trong quá trình học tập ở khoa ngữ văn trờng Đại học s phạm,
nh cầu học tập và tìm hiểu về thơ nói chung đợc đặt ra ở nhiều góc độ, nhiều
bình diện khác nhau, trong đó có bình diện ngôn ngữ. Hiện nay, ngời ta
---------------------------------------------=4=----------------------------------------
*Bớc đầu khoá sát các yếu tố ngữ âm trong thơ Tiếng Viiệt Hồ Chí Minh*
đang bàn nhiều về việc đổi mới phơng pháp dạy học văn, phơng pháp tiếp
cận văn học từ góc độ thi pháp học, về vấn đề ngôn ngữ thơ ... Bởi vậy,
nghiên cứu thơ Tiếng Việt của Bác từ góc độ ngôn ngữ là một việc làm rất
có ý nghĩa, có khả năng đa đến một cách cảm thụ văn chơng có hiệu qủa,
đóng góp một phần vào cơ sở lý luận của việc cảm thụ văn chơng. Hy vọng
khi trởthành ngời giáo viên ngữ văn thực thụ, chúng tôi sẽ biết khai thác cái
---------------------------------------------=5=----------------------------------------
*Bớc đầu khoá sát các yếu tố ngữ âm trong thơ Tiếng Viiệt Hồ Chí Minh*
Để thực hiện mục đích đã nêu trên, chúng tôi chủ yếu sử dụng phơng
pháp thống kê, phân loại, sau đó rút ra nhận xét, kết luận. Trong quá trình
làm việc chúng tôi còn tiến hành phơng pháp so sánh, đối chiếu để thấy đợc
nét riêng trong việc tổ chức mặt âm thanh. Chúng tôi so sánh Bác với các
nhà thơ khác, đặc biệt là nhà thơ Tố Hữu, bởi đây là hai nhà thơ cách mạng
hàng đầu của dân tộc. ở mỗi phần có các bảng, biểu đợc xác lập theo định
hớng cụ thể về nội dung. Những nhận xét có đợc qua miêu tả, so sánh là cơ
sở khoa học cho việc tổng hợp những kết luận chung.
4. Kết cấu của khoá luận:
Toàn văn khoá luận có 52 trang, trong đó phần chính văn 47 trang.
Ngoài phần mở đầu 4 trang, phần kết luận 2 trang và danh mục tài liệu
tham khảo, khoá luận có 3 chơng:
Chơng I: Vần trong thơ Tiếng Việt Hồ Chí Minh.
Chơng II: Nhịp trong thơ Tiếng Việt Hồ Chí Minh
Chơng III: Phối điệu trong thơ Tiếng Việt Hồ Chí Minh
Trong các chơng có bảng cứ liệu thống kê (gồm 7 bảng).
---------------------------------------------=6=----------------------------------------
*Bớc đầu khoá sát các yếu tố ngữ âm trong thơ Tiếng Viiệt Hồ Chí Minh*
Phần nội dung
Chơng I:
Vần trong thơ Tiếng Việt Hồ Chí Minh
1. Yếu tố vần trong thơ ca.
Trong nền thơ ca của bất kỳ một dân tộc nào vần là yếu tố khách
quan, hiển nhiên và phổ biến. Vần đợc xem nh là "chất dính" của các câu
thơ, dòng thơ lại với nhau. Trong thơ ca truyền thống vần thơ đợc đòi hỏi
một cách nghiêm ngặt, ngời ta khó hình dung thơ lại không có vần. Bằng
trực quan và cảm giác nghệ thuật của mình, độc giả của bất kỳ một dân tộc
nào cũng dễ dàng nhận ra các yếu tố hiệp vần với nhau và vận dụng chúng
trong dòng thơ, khổ thơ với cấu trúc quen thuộc của các thể loại thơ dân tộc.
---------------------------------------------=7=----------------------------------------
*Bớc đầu khoá sát các yếu tố ngữ âm trong thơ Tiếng Viiệt Hồ Chí Minh*
Ngày nay, những đòi hỏi ấy phần nào đợc nới lỏng, "vần không phải
là yếu tố bắt buộc của thơ ca nhng là yếu tố quan trọng, nó gắn liền các
dòng thơ và tạo nên âm hởng cho các câu thơ. Những yếu tố hiệp vần phải là
những yếu tố đồng nhất về mặt âm thanh nhng không phải chỉ là trùng hoàn
toàn" (Võ Bình). Chính vì nó có một vị trí nh vậy nên cùng với lịch sử phát
triển của thơ ca, các nhà nghiên cứu đã chú ý khảo sát, tìm hiểu định nghĩa
về vần, song cũng không gặp ít khó khăn và khó thống nhất với nhau. Một
mặt là do bản sắc của thơ ca đa lại và mặt khác ngôn ngữ thơ phản ánh
những đặc thù của từng ngôn ngữ cụ thể. Vai trò đặc điểm của vần vì vậy rất
khác nhau trong các ngôn ngữ và việc tìm hiểu chúng đợc tiến hành ở nhiều
thời điểm và nhiều góc độ khác nhau. Việc tiến đến xây dựng một "khuôn
chuẩn" chung cho vần thơ quả thực còn cần phải chờ kết quả của nhiều
công trình nghiên cứu trong tơng lai.
Vần thơ Tiếng Việt với những đặc điểm của nó đã từng là đối tợng
cho nhiều loại ý kiến và công trình nghiên cứu. Việc tìm hiểu vần đã có một
quá trình với những khám phá ở những mặt khác nhau nh định nghĩa vần,
nhận diện, phân loại... ở trong các sách lý luận văn học, các sách ngôn ngữ
không đa ra định nghĩa trực tiếp. Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức ủng hộ
quan điểm cho rằng: "Vần là sự lặp lạ ngữ âm để tăng sự nhịp nhàng của
câu thơ, làm cho mạch thơ gắn chặt vào nhau" (Bùi Văn Nguyên, Hà Minh
Đức - 1971, trang 14). Bùi Công Hùng cũng viết: "Xét về phơng diện ngữ
âm trong tập hợp âm nối giữa hai dòng thơ và kéo dài cho đến cuối bài
thơ" (Bùi Công Hùng - 1983, trang 160). Tác giả còn khằng định: "Vần do
ngời làm thơ tạo ra một cách có ý thức cho nên nhất định mang phong cách
tác giả, mang tính thẩm mỹ nhất định. Vần không chỉ thay đổi phụ thuộc
vào cách phát âm mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi cảm xúc và hình thức
nghệ thuật của thơ ca từng thời kỳ" .
2.2/ Hơn một thập kỷ lại đây, một số tác giả lại tiếp cận vần thơ theo
một hớng khác:
Nghiên cứu vần thơ giới góc độ ngôn ngữ học. Có thể dẫn ra một số
tác giả tiêu biểu nh Nguyễn Phan Cảnh, Võ Bình, Lê Anh Hiền, Đào Thản,
Đoàn Thiện Thuật, Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Quang Hồng .... Tác giả Võ
Bình phân biệt vần thơ với phần vần trong các âm tiết, từ đó khẳng định:
"Vần trong thơ chủ yếu là sự hài hoà tạo ra từ vận mẫu của âm tiết, nhng sự
hài hòa ấy có sự tham gia có tính chất không kém phần quyết liệt của các
yếu tố khác nhau nh phụ âm đầu (thanh mẫu) và thanh điệu " (Võ Bình 1975 trang 31). Ông cho rằng: "Vần không phải là yếu tố bắt buộc nhng là
yếu tố quan trọng, nó gắn liền với dòng thơ và tạo nên âm hởng cho câu thơ.
Những yếu tố hiệp vần phải là những yếu tố đồng nhất về mặt âm thanh nhng không phải chỉ là trùng hoàn toàn" (Võ Bình - trang 153).
Tác giả Lê Anh Hiền tuy không đa ra đợc một định nghĩa cụ thể về
vần, ông dựa trên cơ sở ngôn ngữ học để phần tích vần và đã tiến hành khảo
sát xét và phân tích loại vần (Lê Anh Hiền - 1973, trang 7).
Đa cách nhìn của lý thuyết thông tin và nghiên cứu vần thơ, tác giả
Nguyễn Phan Cảnh cho rằng: "Vấn đề chính là việc lu giữ và truyền đạt
các tham số của các đơn vị thông tin nh nguyên âm, phụ âm, khi tổ chức các
quá trình loại thể" (Nguyễn Phan Cảnh - 1987, trang 123). Tác giả còn đa
ra một hình thức lý tởng về vần bao gồm: âm chính, chung âm để thuyết
phục.
Hà Minh Đức - 1971, trang 409). "Là chất xi măng gắn liền các câu thơ, các
ý thơ thành một hệ thống nhất, hoàn chỉnh" (Lê Bá Hán - 1985, trang 409).
"Vần nhằm nối liền tiết tấu và âm của các dòng thơ, nhấn mạnh vào một số
từ" (Nguyễn Lơng Ngọc - 1960, trang 64). Chính nhờ vần mà thơ đợc tổ
chức liên kết thành những bộ mặt riêng. Cũng chính vì thế mà vần có vai trò
to lớn trong việc hình thành thể loại. Trong quá trình vận động tạo vần, để
thực hiện chức năng liên kết này, vần vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với nhịp.
Chúng tồn tại bên nhau, nơng tựa vào nhau, cái này là tiền đề cho cái kia.
4. Đơn vị hiệp vần.
Đơn vị hiệp vần các tác giả thống nhất là âm tiết (trong các ngôn ngữ
Châu Âu đơn vị hiệp vần là từ).
Cách hiệp vần trong thơ Việt Nam cũng đợc quy định chặt chẽ bởi
cấu trúc âm tiết Tiếng Việt. Để tạo ra sự hoà âm, mỗi cặp vần phải có hai
thành tố đối chọi nhau, mỗi thành tố nh vậy là một đơn vị hiệp vần - một âm
tiết.
Ví dụ:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
(Truyện Kiều)
ở đây "bà" hiệp vần với " là" chứ không phải "đàn bà" hiệp vần với
"cũng là".
5. Các cách phân loại vần trong thơ ca.
---------------------------------------------=10=----------------------------------------
*Bớc đầu khoá sát các yếu tố ngữ âm trong thơ Tiếng Viiệt Hồ Chí Minh*
Từ trớc tới nay, về vấn đề phân loại vần, các tác giả phân loại dựa vào
Bác sử dụng những bài cảm tác, tức cảnh theo truyền thống thơ ca Việt
Nam, sử dụng thể thơ Đờng luật thất ngôn và tứ tuyệt. Mảng đề tài vận động
cách mạng, Bác đã sử dụng linh hoạt nhiều thể thơ: các thể thơ dân tộc, nhất
là lục bát, các thể thơ Đờng luật, các thể thơ tự do hoặc có khuynh hớng tự
do trên cơ sở thơ cách luật.
Theo văn bản "Thơ Hồ Chí Minh" do nhà xuất bản văn hoá thông tin
ấn hành năm 1997 thì thơ tiếng Việt của Bác có 89 bài (không kể những câu
thơ lẻ trong các bài văn chính luận) thì mảng đề tài vận động cách mạng có
62 bài, chiếm khoảng 70%. Thơ xuân 22 bài, chiếm khoảng 25%.
Tỷ lệ cũng đủ nói lên rằng Bác làm thơ là để làm cách mạng, vận
động cách mạng. Theo thống kê, Bác đã sử dụng các thể thơ nh sau:
- Thơ lục bát: 22 bài, chiếm tỷ lệ 24,71%.
- Thơ lục bát biến thể: 8 bài, chiếm tỷ lệ 8,99%.
---------------------------------------------=11=----------------------------------------
*Bớc đầu khoá sát các yếu tố ngữ âm trong thơ Tiếng Viiệt Hồ Chí Minh*
- Song thất lục bát: 4 bài, chiếm tỷ lệ 4,5%.
- Thơ 7 chữ: 25 bài, chiếm tỷ lệ 28,1%.
- Thơ 8 chữ: 2 bài chiếm tỷ lệ 2,24%.
- Thơ tự do: 28 bài, chiếm tỷ lệ 31,46%.
Từ kết quả thống kê trên, chúng ta thấy Bác sử dụng nhiều thể thơ,
nhng việc dùng thể thơ nào, thể thơ nào đợc sử dụng nhiều là có mục đích,
có dụng ý rõ ràng, phù hợp với nội dung và đối tợng tuyên truyền giáo dục.
Một đặc điẻm dễ thấy ở thơ Bác là Bác làm thơ chủ yếu vì mục đích rõ ràng,
chú trọng nội dung nên Bác không câu nệ vào hình thức thể hiện. Điều đó
giải thích tại sao Bác sử dụng số lợng các bài thơ tự do nhiều nhất trong thơ
tiếng Việt của mình (sau thể thơ lục bát - thể thơ truyền thống của dân tộc).
2/ Các yếu tố tham gia hiệp vần trong thơ Tiếng Việt Hồ Chí Minh.
2.1/ Những lu ý trớc khi khảo sát các yếu tạo vần trong thơ Tiếng
trông chờ một sự đồng nhất hoàn toàn của thanh điệu để âm hởng giữa các
từ gieo vần bớt phần khác biệt nhau quá. Ví dụ: "châu" - "du" (Thơ Tiếng
---------------------------------------------=12=----------------------------------------
*Bớc đầu khoá sát các yếu tố ngữ âm trong thơ Tiếng Viiệt Hồ Chí Minh*
Việt Hồ Chính Minh), "trắng" - "ấm" (Nhớ - Hồng Nguyên). Nh vậy, nếu
nh âm đầu và phần vần trong cấu trúc âm tiết Tiếng Việt bao giờ cũng thực
hiện một chức năng đơn nhất và ngợc nhau (hớng tới sự khác biệt hoặc hớng
tới sự tơng đồng giữa các âm tiết đợc gieo vần) thì thanh điệu có thể đóng
vai trò nớc đôi trong vần thơ: khi thì làm tăng thêm sự khác biệt (và giảm
bớt sự tơng đồng), khi thì tăng thêm sự tơng đồng (và giảm bớt sự khác
biệt) giữa các âm tiết có mặt trong vần thơ.
Trong các vần thơ, chức năng hoà âm của thanh điệu biểu hiện ở chỗ:
Các âm tiết tham gia hiệp vần với nhau bao giờ cũng mang trên nó
hai thanh điệu cùng loại âm điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc). Hai âm tiết có
thể đồng nhất phần nào (còn gọi là phần đoạn tính) nhng thanh điệu không
phân bố theo luật trên thì không bắt vần đợc với nhau và nếu nh vậy chúng
phá vỡ sự hoà âm.
ở thơ Tiếng Việt Hồ Chính Minh trong 89 bài thì thanh điệu đợc
phân bố nh sau:
Nhóm bằng
Cùng thanh
Cùng âm điệu
S. lợng
Tỷ lệ
S. lợng
Tỷ lệ
251
46,83% 230
- Vì nớc cha nên nghĩ đến nhà
Năm mơi chín tuổi vẫn cha già
Chờ cho kháng chiến thành công đã
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta.
(Không đề - trang 217)
"nhà" hiệp vần với "già" cùng thanh huyền, nhóm bằng; "nhà", "già"
hiệp vần với "ta" cùng âm diệu, nhóm bằng.
- Năm hợi đã đi qua.
Năm tý vừa bớc tới.
Gửi lời chúc đồng bào
Kháng chiến đợc thắng lợi
---------------------------------------------=13=----------------------------------------
*Bớc đầu khoá sát các yếu tố ngữ âm trong thơ Tiếng Viiệt Hồ Chí Minh*
(Thơ chúc tết 1948 - Trang 102)
"tới" hiệp vần với "lợi" cùng âm điệu, nhóm trắc.
* Nhận xét:
Theo thống kê trong 89 bài thơ Tiếng Việt của Bác thì có 493 cặp vần
và 43 loạt vần. Trong đó số lợng vần hiệp theo nhóm bằng khoảng gấp 9 lần
nhóm trắc. Có 481 cặp vần và loạt vần bằng, chiếm tỷ lệ khoảng 90%; có 55
cặp vần và loạt vần trắc, chiếm khoảng 10%. Số lợng các âm tiết tham gia
hiệp vần đồng nhất về thanh điệu chiếm tỷ lệ 50,19%; số lợng hiệp vần cùng
nhóm (cùng âm điệu) 267 cặp, chiếm tỷ lệ 49,81%. Số âm tiết hiệp vần cùng
nhóm âm điệu bằng là: 230 cặp, chiếm tỷ lệ 42,91%, cùng nhóm âm điệu
trắc là: 37 cặp, chiếm tỷ lệ 6,9%.
Nh vậy, trong thơ Bác, vần bằng chiếm u thế. Điều đó khẳng định
Đồng nhất các nguyên thuộc dòng trớc
Các nguyên âm hiệp vần cùng dòng trớc
Đồng nhất các nguyên âm thuộc dòng sau KTM
Các nguyên âm hiệp vần cùng dòng sau KTM
Đồng nhất các nguyên âm thuộc dòng sau TM
Các nguyên âm hiệp vần cùng độ mở
Các nguyên âm hiệp vần không có quan hệ âm vị học
Các nguyên âm hiệp vần có quan hệ khác dòng
Các nguyên âm hiệp vần cùng dòng sau TM
Nguyên âm /a/ hiệp vần với nguyên âm khác dòng
Ví dụ:
Số lợng
98
25
239
49
67
13
9
9
26
1
Tỷ lệ
18,28%
4,66%
44,59%
9,1%
"xuân" hiệp vần với "gần" là cặp vần có chung nguyên âm thuộc
dòng sau, hơi hẹp, không tròn môi, nguyên âm ngắn / /
"lòng" hiệp vần với "công" là cặp vần có cùng nguyên âm thuộc dòng
sau, tròn môi, nhng khác nhau về độ mở / /, /o/.
- Xuân về xin có một bài ca
Gửi chúc đồng bào cả nớc ta
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi
Tin mừng thắng trận nở nh hoa.
(Thơ chúc tết 1967)
"ca", "ta", "hoa" là một loạt vần đồng nhất nguyên âm /a/ thuộc dòng
sau, rộng, không tròn môi.
- Đã làm cách mệnh chớ lôi thôi
Cách mệnh thì ta cách tới nơi
Trớc phải dành quyền cho cả nớc
Sau ra cách mệnh cả bầu giời.
(Đã làm cách mệnh - trang 128)
"thôi", "nơi", "giời" là một loạt vần có chung nguyên âm thuộc dòng
sau, nhng khác nhau về dáng môi /o/, / /
- Diên Hồng thề trớc thánh minh
Lòng dân đã quyết hy sinh rành rành.
(Bài ca Trần Hng Đạo - trang 133)
"minh" hiệp vần với "sinh" là cặp vần đồng nhất nguyên âm /i/ thuộc
dòng trớc, không tròn môi.
- Hồn ơi, hồn có linh thiêng
Hãy cùng ngời sống báo đền nớc non.
* Từ kết quả khảo sát trên chúng tôi thấy:
- Trong hiệp vần, các âm chính hiệp vần đồng nhất hoàn toàn chiếm
vị trí chủ đạo: 75,37%.
- Các nguyên âm hiệp vần có cùng bậc âm sắc khoảng 15%.
- Các nguyên âm hiệp vần có cùng bậc âm lợng ít: 2,42%.
- Số lợng nguyên âm hiệp vần không có quan hệ âm vị học và khác
dòng ít: 1,68%.
3. Các loại vần trong thơ Tiếng Việt Hồ Chính Minh
3.1. Phân loại giữa vào vị trí của vần.
3.1.1. Vần lng:
Do sự phân biệt các thể thơ trong thơ Tiếng Việt Hồ Chính Minh khá
rõ cho nên sự phân chia thành hai loại vần chân và vần lng cùng phụ thuộc
vào kết cấu thể loại của các bài thơ có mặt trong tập thơ. Trong các bài thơ
làm theo thể loại lục bát và song thất lục bát vần lng chiếm số lợng lớn và
hiệp vần theo những quy tắc tuyền thống.
Ví dụ:
- Bắc Nam nhơ cội với cành
Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng
Rồi đây thống nhất thành công
Bắc Nam ta lại vui trong một nhà
Mấy lời thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân.
(Thơ chức tết 1964 - trang 115)
"cành" hiệp vần "tranh", "công" hiệp vần với "trong", "na" hiệp vần
với "là" đều là những cặp vần lng theo thể thơ lục bát.
- Nếu ai muốn đến dành đất Việt
Đa dân ta giết sạch trơn
Ví dụ:
Đảng ta vĩ đại nh biển rộng, nh núi cao.
Ba mơi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình
(Đảng ta - trang 232)
"cao" hiệp vàn với "bao".
Qua khảo sát 89 bài thơ Tiếng Việt của Bác, chúng tôi thấy có 421
cặp vần lng.
3.1.2. Vần chân:
Trong thơ Tiếng Việt của Bác có nhièu kiểu vần chân:
- Đó là vần chân kiểu lục bát:
Cảm ơn bà biểu gói cam
Nhận thì không đúng, từ làm sao đây!
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai ?
(Cảm ơn ngời tặng cam - trang 210)
Trong bài thơ trên "đây" hiệp v ần với "cây"
- Đó là vần chân kiểu song thất lục bát:
Đế quốc Pháp thật là khắc nghiệt.
Làm dân ta nh điếc nh mù,
Làm ta dở dại dở ngu,
Biết gì việc nớc biết đâu việc đời.
(Khuyên đồng bào mua báo "Việt Nam độc lập" - trang 145)
Trong đoạn thơ trên "mù" hiệp vần với "ngu"
Hoà bình thống nhất quyềt thành công.
(Thơ chúc tết 1962 - trang 113)
Trong bài thơ trên có hai loạt vần:
"giới", "khởi", "tới", "lợi" hiệp vần với nhau,
"hồng", "phong", "Đông", "công" hiệp vần với nhau.
Qua khảo sát 89 bài thơ Tiếng Việt của Bác chúng tôi thấy có 115 cặp
vần và loạt vần chân.
* Nh vậy, qua sự khảo sát trên chúng tôi có kết quả nh sau:
Trong thơ Tiếng Việt Hồ Chính Minh có 421 cặp vần và loạt vần lng
, 115 cặp vần và loạt vần chân. Vần lng chiếm tỷ lệ rất lớn, khoảng
gấp 3 lần vần chân. Trong vần chân, vần liền là nhiều nhất.
Loại vần
Vần chân
Vần lng
Số lợng
115
421
Tỷ lệ
24%
76%
Có thể so sánh với thơ Tố Hữu theo số liệu khảo sát của Nguyễn Thị
Hằng - Luận văn 1999 (145 bài trong 6 tập: Từ ấy; Việt Bắc; Gió lộng; Ra
trận; Máu và hoa; Một tiếng đờn) để thấy đợc sự khác nhau trong cách gieo
vần của hai hồn thơ lớn dân tộc.
Loại vần
chi phối theo một quy luật chung nhằm làm cho vần thơ đạt tới một "vẻ
đẹp" nhất định. Quy luật chung đó là: Tất cả các yếu tó âm thanh trong một
âm tiết đợc gieo vần cần phải nằm trong mối liên quan chế ớc và bù đắp lên
nhau, tạo cho các âm tiết cùng gieo vần không để nỗi khác biệt nhau quá và
cũng không đợc giống nhau hoàn toàn. Bảo đảm đợc sự công bằng đó trong
khi gieo vần, vần thơ sẽ đạt tới sự hài hoà âm điệu, thực hiện có hiệu quả
chức năng gắn nối các dòng thơ với nhau. Phần mở đầu âm tiết (âm đầu)
chính là bộ phận thờng chịu sự chuyển đổi nhiều nhất để tạo nên sự khác
biệt cần thiết giữa các âm tiết cùng gieo vần. Trong khi đó các bộ phận vần
(bao gồm đỉnh vần và cuối vần) của âm tiết đóng vai trò hoàn toàn khác: nó
gờng nh bao giờ cũng cố giữ lại cho vần thơ sự tơng đồng càng nhiều càng
tốt. Phần vần trong các âm tiết gieo vần có thể lập lại hoàn toàn, trong trờng
hợp này ta có các vần chính. Phần vần trong các âm tiết gieo vần có thể có
sự khác nhau chút ít hoặc ở đỉnh vần, hoặc ở cuối vần, trong trờng hợp này
ta có các vần thông. Phần lớn các vần thông đều đợc thiết lập theo quy tắc là
giữ lại sự đồng nhất hoàn toàn ở cuối vần trong khi có thể cho phép âm đỉnh
vần xê dịt theo mức độ âm lợng, tức là theo độ mở rộng hẹp. Trong trờng
hợp các yếu tố trong phần vần của các âm tiết gieo vần có sự khác nhau quá
nhiều, trong trờng hợp đó ta gọi là vần ép.
Căn cứ vào sự hoà âm nh đã trình bày, chúng tôi chia các vần thơ
trong thơ Tiếng Việt của Bác làm 3 loại sau đây:
3.2.1. Vần chính:
Qua khảo sát phần thơ Tiếng Việt của Bác chúng tôi thấy kết quả nh
sau: Trong 89 bài có tất cả 536 cặp vần và loạt vần thì trong đó có 417 cặp
vần và loạt vần chính, chiếm tỷ lệ 77,8%.
Ví dụ:
-
Không có việc gì khó
đây:
- Nguyên âm /a/ hiệp với với nguyên âm khác dòng cùng âm cuối
đồng nhất hoặc cùng nhóm, thanh điệu giống nhau hoặc cùng âm điệu.
- Âm chính đồng nhất, âm cuối cùng nhóm, thanh điệu gống nhau
hoặc cùng âm điệu.
- Kết quả khảo sát: Trong 89 bài thơ Tiếng Việt của Bác chúng tôi
khảo sát có 96 cặp và loạt vần thông, chiếm tỷ lệ 17,91%.
Ví vụ :
Nếu chúng ta
Biết đồng lòng
Thì việc đó
Quyết thành công.
(Hòm đá - trang 181)
Hoặc ví dụ trong bài:
Chung quanh lạnh ngắn một màu,
Hoa chen lá phủ, trên đầu bóng cây,
Chim từng lũ, thú từng bầy,
Thú kêu inh ỏi chim bay là là.
Trong đoạn thơ trên "màu" hiệp vần với "đầu", "bày" với "bay" đều là
những vần thông
Trong khổ thơ trên "lòng" hiệp vần còng "công" là vần thông vì có sự
đồng nhất âm cuối, thanh điệu, âm chính cùng dòng sau, tròn môi, chỉ khác
nhau về độ mở.
---------------------------------------------=20=----------------------------------------
bảng sau:"
Loại vần
Vần chính
Vần thông
Vần ép
Số lợng
417
96
23
Tỷ lệ
77,8%
17,91%
4,29%
Có thể so sánh với thơ Tố Hữu để thấy đợc sự tơng đồng và khác biệt
giữa hai hồn thơ cách mạng lớn của dân tộc (145 bài trong 6 tập của Tố
Hữu)
TT
Tác giả
Hồ Chí Minh
Tổ Hữu
Vần chính
77,8%
69,94%
Các loại vần
trắc.
* Qua khảo sát chúng tôi thấy trong 536 cặp vần và loạt vần thì có
481 cặp vần và loạt vần bằng, chiếm tỷ lệ 90% và 55 cặp vần và loạt vần
trắc, chiếm tỷ lệ khoảng 10%. Nh vậy, số lợng vần hiệp theo nhóm bằng
khoảng gấp 9 lần nhóm trắc.
Ví dụ:
-
Hỡi ai con cháu Hồng Bàng
Chúng ta phải viết kết đoàn mau mau
(Ca sợi chỉ - trang 179)
Câu thơ trên "Bàng" hiệp vần với "đoàn" là cặp vần bằng.
-
Chim từng lũ, thú từng bầy
Thú kêu inh ỏi, chim bay là là.
Giọng khe róc rách dới nhà,
Bên tờng cảnh vẽ bức hoa bên mình.
(Cảnh rừng Pắc bỏ - trang 201)
Trong doạn thơ trên "bầy" hiệp vần với "bay", "nhà" với "hoa" đều là
những vần bằng.
-
Chúc mừng đồng bào năm mới,
Đoàn kết thi đua tiến tới,
Hoàn thành kết hoạch ba năm,
Thống nhất nớc nhà thắng lợi.
(Thơ chúc têt 1959 - trang 110)
-
Những đồ ăn xối ở thì
Chúng làm chúng hởng lẽ gì xa nay.
(Quốc tế ca - trang 127)
Trong câu thơ trên vần "i" trong cặp âm tiết hiệp vần "thì", "gì" là vần
mở.
Qua khảo sát thơ Tiếng Việt của Bác chúng tôi thấy trong 536 cặp
vần và loạt vần thì có 223 cặp vần và loạt vần mở, chiếm tỷ lệ 41,62%.
3.4.2. Vần nửa mở: là những vần có cấu tạo phức tạp, bao gồm một
yếu tố nguyên âm tính ở đỉnh vần và các yếu tố bán nguyên âm tính ở vị trí
kết vần.
Ví dụ:
Tiến lên ! Chiến sỹ đồng bào,
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn !
(Thơ chúc têt 1969)
ở ví dụ trên, vần trong cặp âm tiết hiệp vần "bào", "nào" là những vần
nửa mở.
-
Pháp dân nức tiếng xa nay
---------------------------------------------=23=----------------------------------------
*Bớc đầu khoá sát các yếu tố ngữ âm trong thơ Tiếng Viiệt Hồ Chí Minh*
ở ví dụ trên vần "ông" trong "công" và vần "ung" trong
"chung" là những vần nửa khép.
-
Xuân này kháng chiến đã năm xuân,
Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công
(Thơ chúc tết 1951)
Trong hai câu thơ trên vần "uân" trong "xuân" và vần "ân" trong
"gần" là những vần nửa khép.
-
Diên Hồng thề trớc thánh minh,
Lòng dân đã quyết hy sinh rành rành.
(Bài ca Trần Hng Đạo)
Cặp vần "inh" trong "minh" và "sinh" là vầp nửa khép.
-
Mấy phen sông Nhị núi Lam
Thanh gơm yên ngựa Bắc, Nam tung hoành.
(Lịch sử nớc ta)
Cặp vần "am" trong "Lam" và "Nam" là vần nửa khép.
---------------------------------------------=24=----------------------------------------
*Bớc đầu khoá sát các yếu tố ngữ âm trong thơ Tiếng Viiệt Hồ Chí Minh*
Qua khảo sát chúng tôi thấy có 19 cặp vần khép, chiểm tỷ lệ 3,54%.
* Nh vậy, qua việc khảo sát vần trong thơ Tiếng Việt Hồ Chính Minh
dựa vào cách kết thúc âm tiết chúng tôi thu đợc bảng kết quả sau:
Loại vần
Vần mở (vần đơn)
Vần nữa mở
Vần nửa khép
Vần khép
Số lợng
223 cặp vần và loạt vần
36 cặp vần và loạt vần
258 cặp vần loạt vần
19 cặp vần và loạt vần
Tỷ lệ
41,62%
6,71%
48,13%
3,54%
Vậy, từ bảng kết quả khảo sát chúng ta thấy hai loại vần đợc Bác sử
dụng nhiều nhất là vần nửa khép và vần mở. Nh ta đã biết vần nửa khép là
những vần có cấu âm kết thúc là các phụ âm mũi /
/. Tính chất
âm học của các phụ âm này là các phụ âm vang (thanh tính). Do đó những
vần cũng nh những âm tiết kết thúc bằng các phụ âm này có thể gợi cảm
giác âm vang, có thể tạo nên biểu tợng ngữ âm. Thơ Bác là thơ kêu gọi,
tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, động viên tinh thần cách mạng cho quân và
dân ta nên Bác đã triệt để sử dụng loại vần nửa khép bởi vì loại vần này có