Thành phần vi sinh vật gây hại chủ yếu trên thóc bảo quản ở áp suất thấp và biện pháp xử lý - Pdf 33

Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành Dự trữ Nhà nước thực hiện một nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan
trọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, lượng thóc và gạo dự trữ thuộc
ngành Dự trữ quản lý là rất lớn theo đề án chiến lược DTNN giai đoạn 2010 –
2020 trình Chính Phủ, hiện tại và những năm tiếp theo chúng ta vẫn giữ
nguyên số lượng lương thực bảo quản khoảng 200.000 tấn, tiếp đến
khoảng 800.000 tấn phấn đấu đến năm 2020 đạt được 1.200.000 tấn. Tổng
lượng thóc gạo phải đủ để phục vụ yêu cầu cấp bách của Quốc gia khi xảy
ra thiên tai hoặc chiến tranh.
Trước năm 2008, ngành DTNN vẫn bảo quản thóc chủ yếu theo
phương thức truyền thống, đó là đóng bao xếp lô (đối với các tỉnh Miền
Nam ) hoặc đổ rời trong kho Cuốn, kho Tiệp, kho A1 (đối với các tỉnh Miền
Bắc, Miền Trung) và để thông thoáng tự nhiên. Với phương thức bảo quản
này mức độ tổn thất về lượng và đặc biệt suy giảm về chất lượng là tương đối
lớn: Hao hụt thóc bảo quản từ 1-2 năm ở Miền Bắc lên tới 2,6% (cao hơn tỷ lệ
hao hụt theo định mức 0,8- 0,9%/ năm); đối với thóc bảo quản đóng bao ở
Đồng bằng Sông Cửu Long cao gấp đôi hao hụt thóc bảo quản đổ rời ở Miến
Bắc, chỉ trong 1 năm đã hao hụt 2,8- 3,0%. Kết quả điều tra về chất lượng
thóc xuất kho ở một số vùng kho thuộc Đồng bằng Trung du Bắc Bộ: tỷ lệ hạt
bị nhiễm mốc sau 12 tháng bảo quản có thể biến động từ 50- 60%, sau 24
tháng cá biệt có kho lên tới 90% hạt bị nhiếm mốc. Tỷ lệ hạt biến vàng đối với
thóc sau 24 tháng bảo quản từ 1- 5% [16]
Ngành DTNN rất quan tâm đến công tác nghiên cứu nhằm tìm ra các
gải pháp khắc phục hạn chế của công nghệ bảo quản thóc. Từ những năm
1

1





1.2.1. Mục tiêu
- Xác định hệ vi sinh vật trên thóc bảo quản áp suất thấp và mức độ
nhiễm VSV của thóc bảo quản trong điều kiện áp suất thấp;
- Có số liệu về hiện trạng nhiễm aflatoxin trên thóc bảo quản trong điều
kiện áp suất thấp;
- Nghiên cứu các biện pháp xử lý nấm mốc trong phòng thí nghiệm
1.2.2. Nội dung nghiên cứu
- Xác định mức độ nhiễm VSV của thóc bảo quản trong điều kiện áp suất
thấp;
- Định tên đến loài của những giống nấm mốc gây hại chủ yếu;
- Khảo sát sự nhiễm aflatoxin trên thóc bảo quản trong điều kiện áp suất
thấp;
- Xác định được các chủng vi khuẩn (Baccilllus), nấm men tồn tại trên
thóc bảo quản trong điều kiện áp suất thấp
- Đề xuất biện pháp xử lý nấm mốc trên thóc bảo quản áp suất thấp trong
phòng thí nghiệm.

3

3


Phần II

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT THÓC GẠO Ở VIỆT NAM

Từ chỗ phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực, đến năm 1989 cùng

3.810
7.445
36.149
4.063
7.329
35.833
5.254
7.325
35.849
4.642
7.201
35.867
4.580
7.600
38.725
4.670
4


2009

7.200

38.913

5.800

2.2. TỔN THẤT LƯƠNG THỰC TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN

Bên cạnh những thành tựu đạt được của nền nông nghiệp nước ta nói

đủ nuôi 120 triệu người trên 1 năm. Riêng các nước có trình độ bảo quản thấp
thì thiệt hại lớn hơn nhiều.
Điều kiện nóng ẩm ở Việt Nam đã tạo điều kiện tốt cho côn trùng, vi
sinh vật sinh trưởng phát triển và phá hoại cây trồng trên cả đồng ruộng cũng
như trong bảo quản. Đồng thời nó còn thúc đẩy các hoạt động sống của hạt và
nông sản phẩm khác như quá trình hô hấp, quá trình nảy mầm, gây ra những
biến đổi hoá học trong nông sản làm giảm chất lượng nông sản. Sự hư hỏng
sản phẩm dưới dạng hao hụt trọng lượng, biến đổi hoá học ở chất đạm, chất
đường, tinh bột. Theo GS.TS Lê Doãn Diên (1994) tổn thất sau thu hoạch
nước ta là không thể tránh khỏi vì vậy để giảm thiệt hại xuống tối thiểu là hết
sức cần thiết và có ý nghĩa kinh tế xã hội to lớn [6]
Có nhiều nguyên nhân gây ra tổn thất lương thực trong quá trình bảo quản.
Theo kết quả của FAO thì nguyên nhân chính là do quá trình hô hấp của hạt,
do vi sinh vật, chuột và côn trùng gây nên, trong đó chuột chiếm 35-72% và
côn trùng chiếm 36- 43%.[48]
Bên cạnh những tổn thất do chuột và côn trùng gây ra thì tổn thất do vi
sinh vật gây ra cho thóc cũng không nhỏ, nó vừa làm giảm khối lượng đồng
thời làm biến đổi chất lượng thóc trong quá trình bảo quản. Đặc biệt một số
loài nấm mốc sản sinh ra độc tố (mycotoxin) ảnh hưởng đến sức khoẻ con
người, vật nuôi [1] Để tránh các tác động cơ lý, hạt gạo được bảo vệ bởi một
lớp vỏ trấu bên ngoài nhưng do bề mặt không trơn nhẵn và có lớp lông cứng
đã tạo điều kiện cho bào tử nấm bay tự do trong không khí dễ được giữ lại
trên bề mặt vỏ. Một số loài nấm có thể phát triển vào cả trong phôi và nội nhũ
hạt. Khi gặp điều kiện thuận lợi chúng phát triển một cách nhanh chóng làm
biến đổi protein, làm thay đổi màu sắc, mùi vị, giảm giá trị dinh dưỡng và có
thể sản sinh mycotoxin tuỳ thuộc vào từng loài [44] Các nhà khoa học đã
6

6



nidudans,

Penicillium citseoviride
16-17

Aspergilusl oryze, Aspergilus fumigatus, Aspergillus
niger, Penicillium notatum, Penicillium islandianm,

17-18

Penicillium urticae

Fusarium, Rhizopus
Cũng theo Claude Moreau [24] khi nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm
tới quá trình phát triển của nấm mốc giống Aspergillus và Penicillium đã cho
thấy khi độ ẩm tăng thì tốc độ phát triển của Penicillium tăng còn của
Aspergillus giảm [24].
7

7


Độ ẩm tương đối của không khí miền Bắc nước ta khá cao, trung bình
là 85%, khô nhất cũng đạt 75%. Đây là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật
phát triển. Theo Vũ Quốc Trung và Lê Thế Ngọc [32], nếu để thóc tiếp xúc
với không khí có độ ẩm 100% thì sau 4 ngày mốc mọc trắng trên bề mặt hạt
và hạt thóc có mùi hôi mốc. Ở độ ẩm tương đối của không khí 85% sau 4
ngày những hạt còn xanh non, lép đã bị mốc. Ở độ ẩm tương đối của không
khí từ 65 - 70% thì sau 2 tháng bảo quản thóc không hề bị mốc, hạt vẫn sáng

độ ẩm hạt phải 19 – 20% thì nấm mốc mới phát triển mạnh [25].
2.3.3. Chất lượng của khối hạt
Thành phần dinh dưỡng của thóc với 63% tinh bột, 7.9% protein, 2.2%
lipit, 9.9% xenlulose, 5.7% tro, 11,9% nước [10], là điều kiện vô cùng thuận
lợi cho nấm mốc phát triển. Hạt thóc có cấu tạo gồm 5 phần: vỏ trấu, mày
thóc, vỏ hạt, nội nhũ và phôi. Tuy vỏ trấu là phần nghèo chất dinh dưỡng
nhất, độ ẩm thấp nhất nhưng bù lại do nó là phần nằm ngoài cùng của hạt mà
bề mặt của nó lại thô ráp, xù xì nên những bào tử bay lơ lửng trong không khí
rất dễ bị giữ trên bề mặt hạt. Còn nội nhũ là phần có độ ẩm cao nhất lại giàu
dinh dưỡng nên rất dễ bị nấm mốc xâm nhập. Theo OU (1985) thì bào tử
nấm mốc có thể sống trên bề mặt hạt và sợi nấm có ở trong mô của nội nhũ,
phôi và mày hạt .
Các tạp chất trong khối hạt là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt là các
tạp chất hữu cơ (rơm rác, các hạt cỏ, xác sau mọt, trấu, hạt lép và các hạt lạ
khác) là môi trường thuận lợi cho vi sinh vật, sâu mọt phát sinh và phát triển.
Trong quá trình bảo quản, các tạp chất hữu cơ thường hút ẩm nhanh hơn,
nhiều hơn, do vậy nấm mốc cũng như sâu mọt thường xuất hiện trước tiên
trong các tạp chất hữu cơ sau đó phát triển lây lan ra toàn khối hạt. Vì vậy
muốn bảo quản thóc được an toàn trước khi nhập kho thóc phải được làm
sạch các tạp chất. Tỷ lệ tạp chất cho phép lẫn trong thóc đưa vào bảo quản
không quá 2% [23]
2.4. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ VI SINH VẬT GÂY HẠI TRÊN THÓC
9

9


2.4.1 Tác hại của vi sinh vật trên thóc
Do sự gây hại và lan truyền của vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây
bệnh bạc lá mà loại vi khuẩn này đã được nhiều nước quan tâm. Nó là đối

Nấm Fusarium moniliforme gây bệnh trên hạt và trên bông lúa gây thiệt hại
lớn về diện tích lúa ở Nhật Bản (50% diện tích) và Ấn Độ (15% diện tích).
Nấm xâm nhiễm ở phía ngoài của vỏ hạt, phôi và nội nhũ của hạt lúa trong
bảo quản. Tất cả những hạt lúa bị nấm xâm nhiễm đều biến màu. Phần lớn các
hạt bị nhiễm bệnh đều không nảy mầm, một số hạt nảy mầm được sau đó sẽ
chết
Thóc thương phẩm, được bảo quản trong điều kiện không thích hợp thì
nấm mốc phát sinh, phát triển làm giảm chất lượng của thóc một cách
nghiêm trọng. Sự giảm chất lượng của thóc được thể hiện ở một số đặc điểm:
thóc có mùi hôi mốc, chua, có vị đắng của mốc. Nấm mốc phát triển trên thóc
lấy chất dinh dưỡng từ thóc bằng cách tiết ra các enzym làm thuỷ phân các
chất như: protein, lipit, tinh bột, vitamin tạo ra các chất có khối lượng phân tử
thấp hơn. Chính điều này làm giảm giá trị dinh dưỡng của thóc. Ngoài ra
chúng còn làm hạt bị bở mục, dễ đớn nát, tỷ lệ thành phẩm có thể giảm đi 10
– 20% .
Bên cạnh việc nấm mốc gây hư hỏng, thối rữa, làm hỏng, giảm chất
lượng và giá trị sử dụng còn có rất nhiều loài nấm mốc tiết ra độc tố gây bệnh
cho con người. Một số loại nấm có khả năng sinh ra độc tố như: Aspergillus
flavus, Aspergillus paraciticus thuộc họ nấm cúc sinh độc tố aflatoxin,. Đây là
loài nấm khá phổ biến, có thể tìm thấy trên khắp địa cầu, đặc biệt là các nước
nhiệt đới.
Nấm Penicillium sản sinh độc tố ochratoxin, Fuarium sinh độc tố zeralenon
và trichothecences [9].
Điều kiện sản sinh aflatoxin.
Khả năng sinh độc tố của các chủng Aspergillus flavus và Aspergillus

11

11




nhóm tác giả này tiến hành trên thức ăn gia đình (lấy mẫu lương thực thực
phẩm tại các gia đình) cũng thấy có 30-50% số mẫu có độc tố aflatoxin [12].
Ở Việt Nam, Aspergillus flavus và aflatoxin đã được phát hiện trên
nhiều loại lương thực, thực phẩm với các tần xuất và các tỷ lệ khác nhau trên
các sản phẩm và vùng địa lý khác nhau. Aspergillus flavus và aflatoxin cũng
được phát hiện trên một số vị thuốc cổ truyền có nguồn gốc thực vật. Các
aflatoxin cũng được xác định trên khô dầu lạc và trên thức ăn gia súc và gia
cầm [9].
2.4.2 Nghiên cứu về thành phần vi sinh vật trên thóc
Ở nước ta trước đây các nghiên cứu về thành phần vi sinh vật gây hại
trên thóc bảo quản còn rất ít, chủ yếu tập trung nghiên cứu thành phần vi sinh
vật gây hại trên cây lúa ngoài đồng ruộng
Vi sinh vật gây hại trên hạt thóc không chỉ là nguyên nhân giảm chất
lượng, số lượng nó còn là nhân tố làm giảm sản lượng lúa gạo nếu đó là thóc
làm giống [20].
Đối với vi khuẩn trên hạt lúa theo những nghiên cứu của TS Nguyễn
Văn Tuất (1996) cho thấy triệu trứng bệnh bạc lá do vi khuẩn Xanthomonas
oryzae trên vỏ hạt lúa và gạo là các vết đốm xám rải rác, hạt lép, không nảy
mầm. Vi khuẩn Pseudomonas glumae (hay Burkholderia glumae) gây thối hạt
thóc. Đây là loại bệnh truyền qua hạt lúa đã gây đáng kể cho ngành sản xuất
lúa [31].
Kết quả điều tra thành phần nấm bệnh trên hạt lúa giống của Phạm
Thị Thoa và Trần Đình Nhật Dũng (2000) cho thấy các giống lúa sản xuất tại
vùng Đồng bằng Sông Hồng trong vụ Đông Xuân năm 1999- 2000 đã nhiễm
một số loài nấm như: Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Microdochium
oryzae, Fusarium moniliform, Rhizoctonia solani, Pyricularia oryzae.

13

Hệ nấm mốc trên thóc
Theo Christensen [37], các loại nấm mốc trên lương thực nói chung và
thóc nói riêng chia thành 2 hệ: hệ nấm mốc ngoài đồng và hệ nấm mốc trong

14

14


bảo quản
Hệ nấm mốc ngoài đồng
Những loại nấm mốc này xâm nhiễm vào các hạt lương thực hay hạt
giống trước thu hoạch, trong khi lúa đang phát triển ở ngoài đồng ruộng hay
sau khi lúa được cắt nhưng trước khi đập hạt. Ở Bangladesh khi nghiên cứu
nấm trên hạt lúa ở ngoài đồng cho thấy có nấm Aspegillus heteromoplus,
Aspegillus

niger,

Cladossporium

cladosporiodes,

Curvularia

lutana,

Drechslera oryzae, Fusarium moniliforme, Nigrospora oryzae, Alternaria
padwickii. [20]
Ở Nigeria khi phân tích 16 mẫu hạt người ta đã phát hiện thấy có các

Aspergillus fumigatus, Penicillium và Mucor; thành phần nấm trên hạt bảo
quản ở trong kho tăng theo thời gian lưu trữ
2.5 BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ NẤM VÀ VI KHUẨN TRÊN HẠT
2.5.1. Biện pháp vật lý

Biện pháp vật lý là biện pháp mang tính trị liệu và an toàn cho lúa gạo
trong quá trình bảo quản [2].
Biện pháp vật lý quan trọng đầu tiên phải kể đến là biện pháp làm khô
đến độ ẩm an toàn nhằm hạn chế sự phát triển của nấm mốc. Để làm giảm
hàm lượng nước của hạt có thể sử dụng nguồn năng lượng mặt trời hoặc
phương pháp sấy nhân tạo, phương pháp sấy lúa với không khí nóng, sấy đối
lưu, sấy bức xạ… Khi sử dụng nguồn năng lượng mặt trời và phương pháp sấy
nhân tạo lại có nhược điểm :
+ Trong vụ thu hoạch đôi khi không có ánh sáng mặt trời hoặc trời mưa
nhiều ngày làm cho việc phơi hạt gặp khó khăn, tốn thời gian, tốn nhân công.
+ Sấy nhân tạo chỉ phù hợp với số lượng hay sản xuất tập trung, không
hoặc ít phù hợp với sản xuất nhỏ và cá thể.
Một biện pháp vật lý khác cũng được sử dụng, đó là chiếu xạ. Biện
pháp chiếu xạ (tia cực tím, tia gama, tia X, …) có thể diệt một số loại vi

16

16


khuẩn, nấm mốc để làm giảm sự thiệt hại do chúng gây ra. Các tia này làm
biến đổi cấu trúc chủ yếu của các axit amin, axit nucleic, protein của vi sinh
vật làm ngừng quá trình phân chia tế bào nấm mốc … Hầu hết các loài nấm
mốc đều bị tiêu diệt ở liều lượng 45kGy (1 kGy = 1kJ/kg). Tuy nhiên xử lý
chiếu xạ chỉ có tác dụng tại thời điểm xử lý, sau đó nếu không bảo quản thóc

Do tính chất an toàn của một số hoá chất, đặc biệt là axit hữu cơ: axit
17

17


sorbic, axit propionic, axit acetic, axit benzoic, các muối natri và canxi của
chúng như canxi propionat hay natripropionat, ở liều 1 - 3% các axit hoặc
muối của axit trên có thể ức chế sự phát triển của nấm mốc trong thời gian
dài.
Xử lý vi khuẩn và nấm men mốc bằng NH3:
Hiện nay người ta sử dụng NH3 ở dạng khí nén được bơm tuần hoàn
vào các thùng chứa ngô bằng thép (metal silo) hoặc trong các túi P.E có thể
chứa tới 20-30 tấn ngô. Ngô có hàm lượng aflatoxin 750ppb sau 13 ngày xử
lý, NH3 với nồng độ 1,5 % ở nhiệt độ 320c đã làm giảm xuống còn 7ppb.
Nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm (Northern Regional Research
Laboratory, ARS, USDA) được tiến hành để khử aflatoxin trong ngô bị
nhiễm tự nhiên bằng cách sử dụng dung dịch hoặc khí NH3. Mặc dù hiệu quả
của việc xử lý xông hơi khử trùng NH3 chưa bao giờ được phổ biến bởi vì khó
kiểm soát lượng amoniac,
Nghiên cứu sử dụng NH3 diệt trừ nấm mốc trên ngô : có độ ẩm 26% và
12% được xử lý bằng NH3 2 % và 0,5% tương ứng theo khối lượng khô của
ngô. Sục NH3 ở cả hai nồng độ đã ức chế một số loại nấm mốc như
Aspergillus, Penicillium, Fusarium, Trichoderma, và Rhizopus. nhiễm bên
ngoài và số lượng vi khuẩn có xu hướng giảm.
Ngô xử lý bằng NH3 trong 14 ngày ở 26 -30oC. Phân tích tổng số vi
khuẩn hiếu khí, nấm mốc và nấm men, bên trong hoặc do lây nhiễm theo
phương pháp của Bothast et aI. (1).
Thí nghiệm 1: xử lý của NH3 2.0% trên hệ vi sinh vật gây hại trên ngô .
Giống ngô ban đầu có 2,0 X 103 vi khuẩn/gam và 7,9 X 104 mốc và nấm

lượng thuốc hóa học trong sản phẩm.
+ Dễ gây ra tính kháng thuốc của các vi sinh vật gây bệnh
2.5.3. Biện pháp sinh học

Biện pháp sinh học đã được nghiên cứu từ nhiều năm, rất có triển vọng

19

19


và được quan tâm đặc biệt do tính ưu việt là an toàn cho nông sản, cho người
và gia súc so với các loại hóa chất, hơn nữa nó có thể phân hủy nhanh và
không gây ô nhiễm môi trường. Biện pháp sinh học để phòng trừ nấm được
nghiên cứu theo 3 hướng chính [11]:
2.5.3.1. Biện pháp sử dụng các siêu kí sinh (kí sinh bậc 2):
Đó là những vi sinh vật sống kí sinh trên cơ thể vi sinh vật gây bệnh. Ví
dụ như nấm Verticillium sống kí sinh trên bào tử nấm gỉ sắt cà phê Hemileia
vastatrix, nấm Cicinnobolus ceratit kí sinh làm tan hủy sợi nấm và cơ quan
sinh sản của nấm phấn trắng [18] .
2.5.3.2. Sử dụng các vi sinh vật đối kháng và chất kháng sinh của chúng
Qua nghiên cứu, các nhà khoa học ở Nhật Bản đã tìm ra một số chủng
Bacillus subtilis có khả năng ức chế sự phát triển của nấm mốc Aspergillus
flavus sản sinh aflatoxin và quá trình tổng hợp aflatoxin của chúng. Nấm
Trichoderma harzianum ức chế tiêu diệt nấm Botrytis cinnea hại cà chua [18].
2.5.3.3. Sử dụng fitonxit , hợp chất từ thảo mộc
Dùng các loại lá cây có sẵn trong thiên nhiên để chống nấm mốc trong
thực phẩm : như dùng lá cây xoan hoặc lá hoa cúc vàng để xông vì cả hai loại
lá cây này đều có tinh dầu, axit formic. Đó là những chất sát khuẩn, kháng
khuẩn. khi xông bằng hai loại lá này thì ngô có độ ẩm 10-13%, có thể kéo dài

Cũng theo V.Molegar và P.Narasimham, các thành phần trong tinh dầu
như citral, cinanic aldehyde và cittronelal ức chế sự phát triển của các loại
nấm Aspergillus niger, Fusarium oxyrum và Penicillium ở nồng độ 0,33g
tinh dầu trên 500g hạt, còn menthol và rượu tecpen ức chế được Rhizopus
stolonifore và Mucor sp ở nồng độ 200µg/ml không khí tương đương với
0,66g tinh dầu /500g thóc [45]
2.6 PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN THÓC DỰ TRỮ QUỐC GIA Ở ĐIỀU KIỆN ÁP
SUẤT THẤP

2.6.1. Cơ sở khoa học của phương pháp
21

21


Hoạt động sống (hoạt động trao đổi chất) của hạt và sinh vật trong khối
hạt chỉ diễn ra ở điều kiện áp suất khí quyển bình thường là 760mmHg (tương
đương 1atm, cột nước áp kế có chỉ số bằng 0).
Khối thóc được bảo quản trong điều kiện áp suất thấp, nghĩa là lượng
không khí trong khe hở khối thóc và trong các mao quản tế bào hạt còn lại ít
(tuỳ theo áp suất cao hay thấp) do đó hoạt động sinh lý của hạt, điển hình là
hoạt động hô hấp xảy ra không đáng kể. Sự phát sinh và phát triển của vi sinh
vật trong khối hạt cũng bị ức chế vì tế bào mất nước dần, khô sinh lý. Côn
trùng trong khối hạt bị chết hoàn toàn vì hô hấp bị đình chỉ.
2.6.2. Các yêu cầu và điều kiện của phương pháp bảo quản
2.6.2.1. Yêu cầu đối với kho bảo quản
Thóc bảo quản đổ rời trong điều kiện áp suất thấp có thể triển khai trong
tất cả các loại hình kho hiện có của hệ thống kho dự trữ (kho cuốn, kho A1,
kho Tiệp...)
Kho dùng bảo quản thóc phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Ống hút khí: Dùng để chuyển dòng khí trong khối thóc ra ngoài. Ống
hút khí thường làm từ ống nhựa PVC cứng; một đầu ống nối với ống dẫn khí
bằng cút thu, phần ống bên ngoài lô thóc tạo thành cửa hút khí dài khoảng 30
cm có gắn van khóa khí cách cửa hút từ 10 cm đến 15 cm. Cửa hút khí có
đườg kính phù hợp đảm bảo độ kín khít khi nối với thiết bị hút khí. Tùy theo
kích thước kho và khối lượng thóc chứa có thể bố trí một hoặc hai cửa hút khí cho một lô
thóc.

23

23


Hệ thống ống dẫn, hút khí đảm bảo không bị gãy, bẹp và biến dạng
dưới tác động của quá trình nhập, xuất, bảo quản; dễ gia công (cắt, khoan lỗ, ghép
nối...).
3. Thiết bị hút khí và thiết bị xác định độ kín khí
- Thiết bị hút khí: Thường là máy hút bụi có công suất đảm bảo hút
được không khí trong lô thóc đạt áp suất âm tối thiểu là 1000 Pa (Pascan).
- Thiết bị xác định độ kín khí: Bằng áp kế (manomet) có cấu tạo là một
ống thuỷ tinh hoặc ống nhựa trong suốt được uốn theo hình chữ U. Mỗi nhánh
dài từ 30 cm đến 35 cm, đường kính 5 mm. Giữa hai nhánh đặt một thước
chia vạch tới mm. Đổ nước đến giữa thân ống; vị trí mực nước thăng bằng
giữa hai thân ống tương ứng với vạch số 0 của thước (nên pha màu vào nước
để dễ quan sát). Toàn bộ ống và thước được gắn cố định trên tấm gỗ có giá đỡ
hoặc có móc để treo.
2.6.2.3.Y êu cầu đối với thóc nhập kho bảo quản
Là thóc mới thu hoạch và đảm bảo các yêu cầu về chất lượng theo quy
định tại Tiêu chuẩn ngành TCN 04:2004 Thóc dự trữ quốc gia – Yêu cầu kỹ
thuật do Bộ Tài chính ban hành kèm theo Quyết định số 35/2004/QĐ-BTC

Kiểm tra nhập kho
Lập phiếu KCS theo
xe hàng
Cân thóc đổ rời
100%

Xác định chiều cao khối hạt
Tính lượng màng PVC, PP
Đổ thóc vào kho

Dán kín lô hàng

Hút chân không

Kiểm tra độ kín

Kiểm tra định kỳ
Xử lý biến động

Xuất kho

Sơ đồ: Quy trình bảo quản thóc ở điều kiện áp suất thấp

25

25


Trích đoạn Nấm Ustilaginoidae virens ( Cooke.) Tak. Khảo sát sự hình thành độc tố aflatoxin trên các mẫu thóc thí nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status