Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG NHÀ
NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Cán Bộ Hướng Dẫn:
Nguyễn Hữu Lạc

Sinh Viên Thực Hiện:
Châu Hoàng Vinh 5075160
Lớp Tư pháp 2- K33

Cần Thơ, tháng 05 năm 2011


Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………….…1
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………...1
2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………….1
3. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………..2
4. Phạm vi nghiên cứu………………………………………………………...2
5. Bố cục đề tài………………………………………………………………...2
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG
CHỨNG NHÀ NƯỚC………………………………………………3

Việt Nam ở nước ngoài……………………………………………….25
2.2 Nội dung hoạt động công chứng nhà nước…………………………….26
2.2.1 Hoạt động của các cơ quan công chứng nhà nước…………………..26
2.2.2 Hoạt động của những người có thẩm quyền thực hiện công chứng nhà nước
………………………………………………………………….....28
2.2.3. Thủ tục thực hiện công chứng……………………………………….29
CHƯƠNG III. THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG ĐỀ XUẤT………………..32
3.1 Thực trạng về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước………….32
3.1.1 Thực trạng về tổ chức thực hiện công chứng nhà nước……………32
3.1.2 Thực trạng hoạt động công chứng…………………………………...36
3.2 Hướng đề xuất…………………………………………………………..44
3.2.1 Xây dựng cơ cấu tổ chức thực hiện công chứng nhà nước…………44
3.2.2 Xây dựng hình thức hoạt động công chứng…………………………46
3.2.3. Hoàn thiện pháp luật về công chứng………………………………..48
PHẦN KẾT LUẬN…………………………………………………………50

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

SVTH: Châu Hoàng Vinh


Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp theo nghĩa rộng và cung cấp chứng cứ
theo hoạt động của tòa án theo nghĩa hẹp, nhằm góp phần bảo đảm quyền lợi,lợi ích
hợp pháp của công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, có tác dụng
góp phần chủ động phòng ngừa các tranh chấp và vi phạm pháp luật, cung cấp tài liệu
có giá trị chứng cứ phục vụ việc giải quyết các tranh chấp, đồng thời góp phần vào việc
duy trì kỷ cương pháp luật trong xã hội.

tồn tại những hạn chế nhất định. Xã hội ngày càng phát triển dẫn đến nhiều trường hợp
phát sinh mà luật không dự liệu trước hết tất cả. Chính vì vậy, đã gây nhiều khó khăn
cho các cơ quan hoạt động công chứng trong việc áp dụng Luật công chứng và khó
khăn cho cả người dân. Do đó, mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tìm hiểu những
quy định của luật công chứng cũng như việc áp dụng Luật trong thực tiễn.
3. Phương pháp nghiên cứu
“Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay”, là một đề
tài thuộc ngành khoa học pháp lý. Do đó, để tìm hiểu người viết đã sử dụng phương
pháp tổng hợp, phân tích , so sánh, phương pháp logic… Bên cạnh đó, để nghiên cứu
đề tài tốt hơn người viết cần sử dụng những tài liệu và phương tiện như : Về tài liệu thì
sử dụng những văn bản pháp luật điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến công chứng,
cũng như các chính sách của nhà nước về công chứng,…
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở
nước ta gồm các vấn đề về khái niệm công chứng, việc tổ chức các cơ quan nhà nước
thực hiện công chứng.
5. Bố cục đề tài
Bố cục đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về tổ chức và hoạt động công chứng nhà
nước
Chương 2: Quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động công chứng
nhà nước ở nước ta hiện nay
Chương 3: Thực trạng và hướng đề xuất

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

2

SVTH: Châu Hoàng Vinh



3

SVTH: Châu Hoàng Vinh


Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay
này chúng ta thấy xuất hiện từ thời cổ đại và tồn tại cho tới ngày nay với hình thức là
văn phòng công chứng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.
Đối với hình thức công chứng nhà nước, Nhà nước tổ chức và thực hiện công
chứng chứ không ủy quyền cho tổ chức và cá nhân thực hiện. Là loại hình công chứng
được tổ chức chặt chẽ và hoạt động chuyên nghiệp bằng kinh phí của nhà nước.Tổ
chức công chứng là cơ quan nhà nước, nằm trong bộ máy hành pháp. Công chứng xuất
hiện ở nước ta từ những năm 1930, do tình hình lịch sử và điều kiện kinh tế, xã hội nên
nước ta không thành lập tổ chức công chứng. Năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng ( nay là
Chính phủ) đã ban hành Nghị định 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động công chứng nhà
nước. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên nước ta sử dụng thuật ngữ công chứng nhà
nước: Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của hợp đồng và giấy tờ
theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ
quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội ( sau đây gọi chung là các tổ chức), góp
phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp
đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ. Ngày 29/11/2006, Quốc hội
khóa XI, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật số 82/2006/QH11 quy định về công chứng.
Luật Công chứng đã có hiệu lực và đi vào cuộc sống kể từ ngày 1/1/2007.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Công chứng, công chứng là việc công chứng viên
chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là
hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng
hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Còn chứng thực là việc cơ quan
nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản
chính hoặc chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu

Công chứng nhà nước là hoạt động mang tính chất công, do công chứng viên
thực hiện.
Hoạt động công chứng ở nước ta do nhà nước quản lý về tổ chức, hoạt động
công chứng là hoạt động dịch vụ công, công chứng có nhiệm vụ giúp công dân, tổ chức
thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ bằng các biện pháp pháp lý. So với
hoạt động của cơ quan tư pháp với chức năng thực thi công quyền thì hoạt động công
chứng là hoạt động hỗ trợ tư pháp, cung cấp chứng cứ cho hoạt động tư pháp.
Công chứng ở nước ta có điểm giống nhau so với công chứng của các nước trên
thế giới, là do tổ chức công chứng và công chứng viên thực hiện, hoạt động công
chứng được xem là một trong số các nghề tư pháp, công chứng viên là một chức danh
do nhà nước quy định về tiêu chuẩn chuyên môn, đạo đức. Công chứng viên là người
được giao nhiệm vụ chứng nhận các hợp đồng, giao dịch của công dân và tổ chức,

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

5

SVTH: Châu Hoàng Vinh


Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay
nhằm tạo ra một chứng cứ xác thực có giá trị pháp lý cao ngoại trừ quyết định của tòa
án, tạo sự tin tưởng cho các bên tham gia.
Công chứng viên, nếu là công chức nhà nước hoạt động chuyên trách được
hưởng lương theo nghạch bậc công chứng viên, lệ phí thu được phải nộp vào ngân sách
nhà nước. Khi công chứng viên gây thiệt hại đối với đương sự thì tổ chức công chứng
chịu trách nhiệm dân sự đối với đương sự. Nghị định 75/2000/NĐ-CP( 8/12/2001)
không có điều nào quy định cấm công chứng viên hành nghề tự do, song cũng không
có quy định nào cho phép công chứng viên hành nghề tự do. Đến năm 2006, Luật công
chứng ra đời thì công chứng viên được lựa chọn nơi hành nghề công chứng, trừ công

văn bản của chính phủ được thừa nhận là một nghề tư pháp (Luật công chứng 2006 ).
Hoạt động chứng nhận của cơ quan thực hiện công chứng nhằm bảo đảm an
toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh tế và các quan hệ xã hội khác, góp phần bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan nhà nước, có tác dụng phòng ngừa
các tranh chấp và vi phạm pháp luật. Bên cạnh đó là giá trị thi hành đối với các bên
giao kết, sự hiện diện của công chứng viên, người có trình độ chuyên môn hiểu biết
pháp luật chứng nhận các bên đưa ra những điều khoản đúng pháp luật đã giúp cho
hiệu lực của văn bản công chứng có giá trị cao. Văn bản công chứng buộc công dân, tổ
chức phải tự nguyện thi hành những nghĩa vụ và giúp họ được hưởng những quyền lợi
mà văn bản công chứng xác nhận mà không cần phải thông qua phán xét của Tòa án.
Hoạt động công chứng nhà nước là hoạt động dịch vụ công, tuy không phải là
hoạt động quản lý nhà nước nhưng nó góp phần hỗ trợ tích cực để Nhà nước thực hiện
quản lý các hoạt động giao dịch. Khi nói đến hoạt động công chứng tức là đến việc yêu
cầu chứng nhận và việc chứng nhận. Quá trình chứng nhận là quá trình diễn ra giữa các
chủ thể yêu cầu chứng nhận và chủ thể chứng nhận cùng hoạt động chung nhằm mục
đích phản ánh chính xác nội dung sự việc.
Với những vai trò nêu trên, công chứng có thể được xem là một hoạt động bổ
trợ tư pháp, với nghĩa hẹp là bổ trợ cho hoạt động xét xử của tòa án, với nghĩa rộng là
góp phần duy trì trật tự xã hội.
1.1.3. Phạm vi hoạt động của công chứng nhà nước
Việc xác định phạm vi hoạt động của công chứng hay nói cách khác là xác định
thẩm quyền của cơ quan công chứng được làm những gì, hoạt động trong khuôn khổ
nào. Để xác định được thế nào là việc công chứng thì cần phải căn cứ vào quy định của
pháp luật, người được giao thực hiện và ký văn bản công chứng.
Vấn đề xác định phạm vi công chứng ở các nước có sự khác nhau, tùy theo điều
kiện, hoàn cảnh của từng nước, có hai cách để các nước lựa chọn.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

7

động công chứng, đặc biệt là sự lẫn lộn giữa công chứng và chứng thực dẫn đến quá tải
về bản sao tại các phòng công chứng (theo Báo cáo tổng kết khi xây dựng Luật Công
chứng thì có từ 95 đến 98% công việc của phòng công chứng là chứng nhận bản sao
giấy tờ), khiến người dân và các doanh nghiệp phải mất nhiều thời gian chờ đợi, xếp

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

8

SVTH: Châu Hoàng Vinh


Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay
hàng, vấn nạn “cò công chứng” cũng nhờ đó mà phát triển làm mất uy tín của công
chứng. Để giải quyết tình trạng nêu trên, ngày 29/11/2006 Quốc hội đã thông qua Luật
Công chứng, ngày 18/5/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về
cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. Đây là
bước ngoặc quan trọng trong quá trình phát triển công chứng, chứng thực ở nước ta,
đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho việc phát triển công chứng theo hướng chuyên nghiệp
hóa, dịch vụ hóa và xã hội hóa. Chỉ trong vòng thời gian ngắn triển khai thực hiện, tính
đến 30/09/2010, số tổ chức hành nghề công chứng trong cả nước đã tăng gấp bốn lần
so với trước đó (từ 1992- 6/2007, cả nước có khoảng 84 tổ chức hành nghề công
chứng, hiện nay con số này là 336, trong đó có 128 phòng công chứng và 208 văn
phòng công chứng). Số lượng các hợp đồng, giao dịch mà các tổ chức hành nghề công
chứng trong cả nước đã chứng nhận trong ba năm (01/7/2007 – 30/09/2010) là
1.446.145, tổng phí công chứng thu được gần 550 tỷ đồng, tăng hơn nhiều so với trước
khi có Luật Công chứng. Điều quan trọng là các tổ chức hành nghề công chứng đã có
sự thay đổi lớn trong thái độ, phong cách phục vụ.
Có thể nói rằng luật công chứng ra đời là một bước đột phá trong việc mở rộng
phạm vi công chứng. Cơ quan công chứng và các cơ quan có thẩm quyền chứng thực

Theo quy định của pháp luật ở nước ta về công chứng thì công chứng là một tổ
chức, là một bộ phận thuộc hệ thống hỗ trợ các cơ quan tư pháp. Phòng công chứng có
tư cách pháp nhân, có trụ sở riêng, có tài khoản riêng và có con dấu theo quy định của
pháp luật. Phòng công chứng có trưởng phòng, phó trưởng phòng, công chứng viên,
chuyên viên và các nhân viên hành chính. Như vậy phòng công chứng hội đủ các điều
kiện là một tổ chức. Cơ quan công chứng hiện nay có đặc thù riêng, không phải là cơ
quan quản lý Nhà nước, không phải là đơn vị sản xuất kinh doanh, không phải là cơ
quan tư pháp mà là đơn vị sự nghiệp thuộc sở tư pháp, có quan hệ chặt chẽ với cơ quan
tư pháp, là một tổ chức áp dụng luật pháp một cách chuẩn mực, người thực hiện hành
vi công chứng là công chứng viên được Nhà nước đào tạo và tuyển dụng. Mục đích
quan trọng mà công chứng viên thực hiện và mong muốn đạt được là tính khách quan,
trung thực, chính xác chứ không phải là mục đích cạnh tranh hay kinh doanh. Nguyên
tắc nhà nước quản lý là nguyên tắc chung cho tất cả các cơ quan tổ chức, nhưng đối với
công chứng, nguyên tắc này thể hiện ở chỗ, Phòng công chứng là một cơ quan nhà
nước hoạt động theo quy chế riêng với mục đích là phục vụ lợi ích công, dịch vụ công,
chứ không hoạt động giống như cơ quan hành chính nhà nước.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

10

SVTH: Châu Hoàng Vinh


Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay
Theo pháp luật hiện hành, hiện nay có hai loại cơ quan khác nhau ở nhà nước ta
thực hiện công chứng là các phòng công chứng nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương và cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài.
Bộ tư pháp quản lý về tổ chức và hoạt động công chứng trong phạm vi toàn
quốc, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý công tác công


Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay
Theo quy định của luật hiện hành, quan hệ giữa công chứng viên và trưởng
phòng công chứng chỉ là quan hệ hành chính khi được phân công thực hiện các việc
công chứng, còn khi thực hiện các hành vi công chứng thì công chứng viên nhân danh
cá nhân mình với tư cách là công chứng viên. Chính vì thế, độc lập trong hoạt động
công chứng là nguyên tắc quan trọng xác định trách nhiệm cá nhân đối với hành vi
công chứng mà mình thực hiện.
1.2.3 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Công chứng ở nước ta hoạt động theo nguyên tắc việc công chứng phải tuân
theo các quy định của pháp luật về công chứng. Thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội
chủ nghĩa trong hoạt động công chứng tức là những người thực hiện hành vi công
chứng và những người yêu cầu công chứng phải nghiêm túc thực hiện và tuân theo
pháp luật khi thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ của mình, đồng thời cơ quan quản lý
công chứng phải thực hiện việc quản lý điều hành, phải tuân thủ đúng các quy định của
pháp luật về công chứng, đảm bảo tính nghiêm minh trong pháp luật. Mọi công dân tổ
chức có quyền yêu cầu thực hiện công chứng trong khuôn khổ pháp luật quy định, bảo
đảm dân chủ và công bằng xã hội, dẫn đến sự thống nhất về kỷ cương, trật tự, hiệu lực
quản lý các hoạt động giao dịch, tránh sự tùy tiện trong hoạt động chứng nhận của
những người có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng. Khi thực hiện công chứng
phải tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật công chứng,
các quy định khác của pháp luật và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ký kết hoặc công nhận. Về mặt pháp lý, hoạt động công chứng nhà
nước giúp cho công dân, tổ chức thực hiện quyền và bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ.
Chính vì thế, những người thực hiện hành vi công chứng có trách nhiệm giải thích cho
họ hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa pháp lý mà họ yêu cầu.
Việc từ chối thực hiện công chứng phải theo đúng các quy định về trình tự, thủ tục mà
luật quy định.

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

đồng, giao dịch bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc tổ
chức, cá nhân tự nguyện yêu cầu công chứng. Thông qua hoạt động nghề công chứng,
công chứng viên là người góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của người yêu cầu công chứng khi tham gia giao kết các hợp đồng, giao dịch tại
tổ chức hành nghề công chứng. Do vậy, việc tuân thủ hiến pháp, pháp luật; khách
quan, trung thực; chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng; tuân theo

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

13

SVTH: Châu Hoàng Vinh


Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay
đạo đức hành nghề công chứng là nguyên tắc không thể thiếu đối với hoạt động hành
nghề công chứng trong giai đoạn hiện nay; trong trường hợp biết hoặc phải biết việc
công chứng hoặc nội dung công chứng là trái pháp luật, đạo đức xã hội thì không được
thực hiện công chứng. Đây là nội dung quan trọng quyết định tính xác thực trong hoạt
đông công chứng. Nguyên tắc hành nghề công chứng đưa công chứng viên vào khuôn
phép pháp luật khi hành nghề, đó là: phải thật sự khách quan, trung thực, không thiên
vị, không vì lợi ích cá nhân, sự quen thân làm ảnh hưởng đến lợi ích người khác, không
công chứng hợp đồng, giao dịch có nội dung trái đạo đức xã hội. Công chứng viên phải
luôn coi trọng uy tín của mình đối với công việc chuyên môn, không thực hiện những
hành vi làm tổn hại đến danh dự cá nhân, thanh danh nghề nghiệp, không sử dụng trình
độ chuyên môn, hiểu biết của mình trong công việc để trục lợi, gây thiệt hại cho người
yêu cầu công chứng. Nguyên tắc hành nghề công chứng trong Luật công chứng quy
định công chứng viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng.
Nguyên tắc này đề cao nhiệm vụ, trách nhiệm, vai trò của công chứng viên khi thi hành
công việc được giao. Đồng thời, đây cũng là nguyên tắc để công chứng viên cần thận

hội đồng công chứng các khu vực. Hội đồng công chứng các khu vực chịu sự giám sát
của Tòa thượng thẩm. Mô hình công chứng được thiết lập theo mô hình công chứng hệ
La tinh, công chứng viên đứng ra tổ chức và điều hành mọi hoạt động của văn phòng
công chứng, chịu trách nhiệm về hành vi công chứng.
1.3.2 Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước từ 1945- 1991
Sau cách mang tháng tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra
đời. Ngày 1/10/1945, Bộ trưởng Bộ tư pháp đã ký nghị định bổ nhiệm ông Vũ Quý Vỹ
mang quốc tịch Việt Nam làm công chứng viên tại văn phòng công chứng ở Hà Nội,
nghị định quy định các luật lệ cũ về công chứng vẫn được thi hành, trừ những điều
khoản không phù hợp với nền độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa Việt Nam. Có thể
nói đây là tổ chức công chứng đầu tiên của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tổ
chức công chứng mang đậm dấu ấn của công chứng Pháp.
Ngày 15/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành sắc lệnh 59/SL ấn định
thể lệ về thị thực các giấy tờ. Theo sắc lệnh này, việc thị thực chỉ là thủ tục hành chính,
quyền thị thực các giấy tờ trước đây giao cho lý trưởng các làng và trưởng phố ở thành
thị thì nay giao về ủy ban nhân dân của làng hoặc ủy ban nhân dân hàng phố. Ủy ban
làm nhiệm vụ thị thực phải là ủy ban nơi trú quán của một hoặc các bên đương sự lập
khế ước; đối với bất động sản phải là ủy ban nơi có bất động sản đó thị thực, nếu có
nhiều bất động sản ở nhiều nơi thì giấy tờ lập ra về những bất động sản ấy phải do ủy
ban mỗi nơi có bất động sản đó thị thực. Các ủy ban thị thực phải chịu trách nhiệm về
việc thị thực, khi xảy ra thiệt hại đến tư nhân vì sự thực không đúng, công quỹ của làng
hay của hàng phố phải bồi thường. Ngày 29/2/1952, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

15

SVTH: Châu Hoàng Vinh




GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

16

SVTH: Châu Hoàng Vinh


Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay
tiêu chuẩn công chứng viên, giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Nghị định
45/HĐBT ra đời đánh dấu một sự tiến triển mới của mối liên hệ giữa hoạt động phòng
ngừa tranh chấp và hoạt động tài phán, tổ chức hoạt động công chứng thay thế công
việc của ủy ban nhân dân về công chứng, đối với những nơi chưa thành lập Phòng
công chứng thì ủy ban nhân dân được tiếp tục thực hiện một số việc công chứng. Tuy
nhiên, sự phát triển các quan hệ gia đình với điều kiện nền kinh tế thị trường bắt đầu
phát triển dẫn đến Nghị định 45/HĐBT trở nên không phù hợp. Ngày 18/5/1996, Chính
phủ đã ban hành Nghị định 31/CP về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước thay
thế cho Nghị định 45/HĐBT. Do nhu cầu phục vụ sự phát triển kinh tế, xã hội của đất
nước, ngày 08/12/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định 75/2000/NĐ-CP về công
chứng, chứng thực. Nghị định này quy định về phạm vi công chứng, chứng thực, tổ
chức Phòng công chứng, nguyên tắc hoạt động, thủ tục, trình tự thực hiện việc công
chứng, chứng thực, công tác chứng thực của ủy ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh và ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân, tổ chức về công chứng, đồng
thời tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng. Ngày 29/11/2006,
Luật Công chứng ra đời đưa ra định hướng đúng đắn về xã hội hóa hoạt động công
chứng. Bên cạnh các phòng công chứng nhà nước thì các văn phòng công chứng ra đời,
đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân, tổ chức trong các giao dịch dân sự. tác phong
phục vu, lề lối làm việc cũng tốt hơn, bớt đi tình trạng cửa quyền, khó khăn của các
phòng công chứng trước kia.

Theo quy định của Luật Công chứng thì Phòng công chứng có tư cách pháp
nhân. Hoạt động công chứng là hoạt động đặc thù riêng, ngoài chức năng công chứng
thì Phòng công chứng không còn chức năng nào khác. Để đảm bảo hoạt động công
chứng được khách quan, chính xác đòi hỏi Phòng công chứng phải có vị trí độc lập,
hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tuy hoạt động độc lập, song Phòng công
chứng cũng có những nét riêng, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập trên
cơ sở đề nghị của Sở Tư pháp, trong một tỉnh, thành phố có thể có nhiều Phòng công
chứng, các Phòng công chứng độc lập với nhau trong hoạt động và có thẩm quyền như
nhau. Là cơ quan đặt dưới sự quản lý của Sở Tư pháp nhưng Phòng công chứng khác
với phòng chuyên môn của Sở Tư pháp ở điểm Phòng công chứng có tư cách độc lập,
có vị trí chức năng nhiệm vụ riêng, nơi trực tiếp giải quyết các việc công chứng, ngoài

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

18

SVTH: Châu Hoàng Vinh


Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay
công chứng viên ra không ai được phép thực hiện các việc công chứng; Phòng công
chứng không phải là cơ quan tham mưu giúp việc cho Sở Tư pháp.
Về cơ cấu tổ chức, Phòng công chứng do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
thành lập, được quy định là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp. Trưởng Phòng công
chứng phải là công chứng viên và do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức. Tên gọi của Phòng công chứng theo số thứ tự thành lập và tên
của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Phòng công chứng được thành lập (Điều
24 Luật công chứng). Việc thành lập Phòng công chứng do Sở Tư pháp xây dựng Đề
án trên cơ sở xét thấy nhu cầu công chứng của địa phương. Đề án thành lập quy định
cần nêu rõ các vấn đề như sự cần thiết thành lập Phòng công chứng, dự kiến về tổ

viên. Khi thực hiện các việc công chứng, trưởng phòng công chứng thực hiện với tư
cách là công chứng viên. Quy định này nhằm đảm bảo sự thống nhất và làm việc có
hiệu quả đồng thời tăng cường trách nhiệm cá nhân của trưởng phòng công chứng.
Trưởng phòng công chứng trực tiếp phân công công việc cho phó trưởng phòng, công
chứng viên và các nhân viên hành chính. Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương ra quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm trưởng phòng công chứng.
Trưởng phòng công chứng phải được lựa chọn trong số các công chứng viên, chịu
trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của cơ quan.
Phòng công chứng không phải là cơ quan thực hiện theo chế độ thủ trưởng. Ở
Phòng công chứng, người được giao thực hiện hành vi công chứng là công chứng. Khi
thực hiện công chứng, công chứng viên độc lập tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm
cá nhân trước Nhà nước về hành vi thực hiện công chứng của mình. Trưởng phòng
công chứng không chi phối hoạt động chuyên môn của công chứng viên, khi thực hiện
hành vi công chứng giữa công chứng viên và trưởng phòng công chứng là bình đẳng
với nhau.
Công chứng viên là chủ thể thực hiện hành vi công chứng chứ không phải là
Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng. Trước đây các Nghị định của Chính
phủ quy định về công chứng chưa làm rõ được vị trí nêu trên của công chứng viên;
cách thức tổ chức công chứng nhà nước như trước đây khiến cho người dân và các cơ
quan, tổ chức chỉ nghĩ đến Phòng công chứng như là chủ thể duy nhất của hoạt động
công chứng, còn công chứng viên chỉ là một công chức hành chính làm việc trong
Phòng công chứng. Trưởng phòng công chứng hầu như là người chịu trách nhiệm
chính trong hoạt động công chứng của Phòng và có quyền rất lớn đối với công chứng
viên.
Tại Điều 7 của Luật công chứng quy định: Công chứng viên là người có đủ tiêu
chuẩn theo quy định của Luật này, được bổ nhiệm để hành nghề công chứng. Như vậy,

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

20

bằng cử nhân Luật bất kể đang công tác ở đâu hoặc chưa có việc làm đều được tham
gia đăng ký học các khoá đào tạo nghề công chứng. Bên cạnh đó, Luật công chứng
cũng có quy định ưu tiên cho một số nghề trong lĩnh vực tư pháp được miễn đào tạo
nghề công chứng khi muốn trở thành công chứng viên như: “những người đã là thẩm

GVHD: Nguyễn Hữu Lạc

21

SVTH: Châu Hoàng Vinh


Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay
phán, kiểm sát viên, điều tra viên, luật sư đã hành nghề từ 3 năm trở lên, giáo sư, phó
giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật, đã là thẩm tra viên cao cấp ngành toà án, kiểm
tra viên cao cấp ngành kiểm sát, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng
viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật” được miễn đào tạo nghề công chứng (Điều 15).
Như vậy, Luật công chứng đã mở rộng cho nhiều thành phần, đối tượng được tham gia
khi muốn trở thành công chứng viên để hành nghề công chứng. Những người có các
chức danh trên cũng được Luật công chứng quy định cho miễn nhiệm tập sự hành nghề
công chứng (Điều 17).
Đối với tiêu chuẩn phải có thời gian tập sự nghề công chứng là quy định mới
được đưa vào Luật công chứng. Việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và nắm
bắt thực tế, làm quen với công việc khi bước vào hành nghề công chứng là vấn đề
không thể thiếu được của người muốn trở thành công chứng viên. Điều 16 Luật công
chứng quy định: “Người có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng thì
được tập sự tại một tổ chức hành nghề công chứng. Thời gian tập sự hành nghề công
chứng là mười hai tháng, kể từ ngày tập sự tại tổ chức hành nghề công chứng. Người
tập sự hành nghề công chứng phải đăng ký tại Sở Tư pháp nơi có tổ chức hành nghề
công chứng mà mình tập sự”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status