Đặc điểm từ ngữ nam bộ trong truyện ngắn của sơn nam - Pdf 33

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ………………………………………………………………

1

NỘI DUNG ……………………………………………………………

12

Chƣơng 1. NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

12

1.1. Vùng đất Nam Bộ …………………………………………………

12

1.2. Phương ngữ Nam Bộ ……………………………………………...

23

1.3. Nhà văn Sơn Nam …………………………………………………

38

1.4. Tiểu kết ……………………………………………………………

43

Chƣơng 2. ĐẶC ĐIỂM CỦA LỚP TỪ ĐỊA PHƢƠNG NAM BỘ


65

2.4. Lớp từ khẩu ngữ ……………………………………………………

71

2.5. Tiểu kết …………………………………………………………….

75

Chƣơng 3. TÁC DỤNG CỦA TỪ ĐỊA PHƢƠNG NAM BỘ
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA SƠN NAM
3.1. Làm nổi bật cảnh sắc của thiên nhiên Nam Bộ ……………………

76

3.2. Miêu tả cuộc sống, con người Nam Bộ ……………………………

79

3.2.1. Miêu tả cuộc sống Nam Bộ ……………………………………

79

3.2.2. Miêu tả con người Nam Bộ ……………………………………

85

3.2.3. Thể hiện phong tục Nam Bộ ……………………………..........

thƣờng đƣợc nhắc đến là Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Anh Đức,
Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng… Những tác giả này sống ở Nam Bộ và
chuyên viết về phƣơng Nam. Họ là kho tư liệu sống về con ngƣời, văn hóa, địa
lý, lịch sử của vùng đất phƣơng Nam. Thông qua truyện, ký cũng nhƣ những
công trình khảo cứu về đất và ngƣời phƣơng Nam của họ, chúng ta hiểu biết
thêm về một thời oanh liệt của ông cha ta trong quá trình khai phá vùng đất mới
này. Các tác giả đã có góc nhìn về vùng đất và con ngƣời phƣơng Nam tạo một
dấu ấn sâu đậm cho độc giả hôm nay và mai sau. Các nhà văn phƣơng Nam đã
vƣợt ra ngoài khuôn khổ của một quốc gia, dân tộc, tạo đƣợc tiếng vang lớn, làm
cho độc giả trong và ngoài nƣớc phải ngƣỡng mộ.
1.2. Nghiên cứu về các nhà văn của văn học Nam Bộ, chúng tôi thấy có
nhiều công trình viết về các tác giả nhƣ Anh Đức, Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang
Sáng và đặc biệt là Sơn Nam. Sơn Nam nổi tiếng với truyện ngắn Hương
rừng Cà Mau, xuất bản năm 1962, tập truyện đƣợc nhiều độc giả đánh giá rất
cao. Hương rừng Cà Mau đã chính thức khẳng định tên tuổi của nhà văn Sơn
Nam, góp thêm cho văn học miền Nam một tiếng nói riêng. Sơn Nam đã hoàn
thành bốn tập hồi kí, hơn 30 chục đầu sách văn học và khảo cứu; số lƣợng
truyện ngắn khoảng 300 truyện; sự nghiệp sáng tác đó chính là những khám
phá về vùng đất Nam bộ, những trang viết mang hơi thở của thiên nhiên, văn
hóa và con ngƣời Nam Bộ.


2
Tác phẩm của ông có nhiều giá trị đặc sắc, đặc biệt về mặt ngôn ngữ. Do
đó, ông không chỉ đƣợc biết đến nhƣ một nhà văn hóa, nhà Nam Bộ học, mà
còn là cuốn từ điển sống về Nam Bộ.
1.3. Lâu nay, nhiều bài nghiên cứu, nhiều công trình khoa học, khi chọn
Sơn Nam làm đối tƣợng nghiên cứu, dƣờng nhƣ đều tập trung khai thác
những giá trị văn hóa Nam Bộ, thiên nhiên Nam Bộ mà ít nghiên cứu về đặc
điểm ngôn ngữ Sơn Nam - một thứ ngôn ngữ đặc Nam bộ.

Không những thế, trong số họ còn có ngƣời đặc biệt quan tâm đến việc nghiên
cứu, thống kê, tập hợp những từ rặt miền Nam để soạn thảo ra những quyển
từ điển từ địa phƣơng Nam Bộ có giá trị. Đây là những bƣớc tiến khá mới
trong quá trình nghiên cứu ngôn ngữ vào những năm 1990 trở lại đây khi
ngƣời ta dần dần nhận ra tầm quan trọng của phƣơng ngữ, phƣơng ngữ Nam
Bộ trong tiến trình chuẩn hóa ngôn ngữ tiếng Việt. Trong việc đào sâu nghiên
cứu, thấy đƣợc vẻ đẹp về cả hình thức lẫn nội dung của những cây bút đặc sệt
chất Nam Bộ nhƣ Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Quang Sáng, Trang Thế Hy, Hồ
tĩnh Tâm, Đoàn Giỏi và đặc biệt là Sơn Nam ở khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long, nhờ vào việc vận dụng tinh tế vốn phƣơng ngữ vào sáng tác văn học.
Nó mang theo dấu ấn văn hóa riêng đậm chất Nam Bộ .
2.1. Trƣớc hết chúng tôi đề cập đến công trình Phương ngữ học tiếng Việt
của Hoàng Thị Châu. Ở công trình này, tác giả thể hiện quan niệm của mình về
sự khác biệt từ vựng - ngữ âm giữa hai miền Nam - Bắc với tƣ cách là hai hệ
thống (phần II): biến đổi ngữ âm là sự biến đổi diễn ra đồng loạt trong mọi từ có
âm ấy không ngoại trừ một ngoại lệ nào [7, 70]. Những biến đổi ngữ âm thường
là những âm tố nằm trong giới hạn của hai âm vị kế cận nhau trong hệ thống âm
vị của một ngôn ngữ... các biến thể ngữ âm có thể xuất hiện trong những bối
cảnh ngữ âm phân bố bổ túc... hoặc ở thế không phân bố bổ túc... [7, 71], biến
thể do quy luật ngữ âm có tính chất đều đặn, nhất loạt [7, 72]
Hay tác giả Nguyễn Kim Thản trong Nguyễn Kim Thản tuyển tập đã đề
cập trực tiếp đến phƣơng ngữ Nam Bộ trong bài Thử bàn về một vài đặc điểm
trong phương ngữ Nam Bộ. Ở bài viết này, tác giả đã chỉ ra đƣợc những đặc


4
điểm về từ vựng, ngữ âm đặc trƣng của phƣơng ngữ Nam Bộ. Đặc biệt, bài
viết có sự so sánh giữa phƣơng ngữ Nam Bộ và phƣơng ngữ Bắc Bộ. Từ đó,
giúp độc giả hiểu rõ hơn đặc trƣng của phƣơng ngữ Nam Bộ về biến đổi ngữ
âm: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu.

ngữ từ các thứ tiếng.
Năm 2009, tác giả Trần Thị Ngọc Lang tiếp tục cho ra mắt bạn đọc bài
viết Chức năng văn hóa xã hội của tiếng Việt ở Nam Bộ. Tác giả không chỉ
xem xét phƣơng ngữ Nam Bộ trên bình diện từ vựng mà còn ngữ âm. Đây là
một bƣớc chuyển biến mới, mở rộng hƣớng nghiên cứu cho những ai quan
tâm đến phƣơng ngữ Nam Bộ nói chung. Tác giả bàn trực tiếp đến vấn đề
phát âm của ngƣời Nam Bộ trong ngôn ngữ nói hàng ngày (khẩu ngữ). Tác
giả viết: Ở Nam Bộ do môi trường sống không quá khó khăn, khắc nghiệt nên
cách phát âm khá thoải mái, không có sự cố gắng phân biệt, do vậy số lượng
âm và vần trùng nhau khá nhiều.
Tác giả còn chỉ ra nguyên nhân chính yếu của việc hình thành phƣơng
ngữ Nam Bộ trong sáng tác văn học là do xuất thân của ngƣời sáng tác cùng
với điều kiện địa lí mà họ sinh sống. Từ đó góp phần tạo nên hƣơng vị đặc
biệt và một nét đẹp mộc mạc, dân dã. Mức độ sử dụng các yếu tố của phƣơng
ngữ Nam Bộ cũng thay đổi qua các thời kì. Tác giả viết: Thời kì đầu, do việc
tiếp xúc phương ngữ còn hạn chế nên giọng văn của các tác giả còn đặc sệt
chất Nam Bộ với một phong cách “viết như nói”.
2.2. Gần đây nhất, trên các ấn phẩm nhƣ Ngôn ngữ, Ngữ học trẻ xuất hiện
các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu có sự quan tâm sâu sắc đến tầm quan
trọng của phƣơng ngữ nói chung, phƣơng ngữ Nam Bộ nói riêng đƣợc sử
dụng trong những trƣờng hợp cụ thể.
Tác giả Huỳnh Công Tín trong bài Một số đặc điểm phát âm tiếng Việt
của người Khơ-me Nam Bộ vùng đồng bằng châu thổ (Ngữ học trẻ 1996) đã
bỏ nhiều tâm sức nghiên cứu trƣờng hợp những biểu hiện ngữ âm ở thành
phần phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu. Cùng năm này,
tác giả lại tiếp tục ra mắt bạn đọc bài viết Tiếng Việt và vấn đề phân vùng
phương ngữ [67,30-33]. Đến năm 1997, tác giả lại bàn về Một số hiện tượng


6

dùng từ địa phƣơng trong quá trình chuẩn hóa ngôn ngữ dân tộc. Tác giả đi
vào khai thác các từ địa phƣơng ở từng giai đoạn đƣợc phản ánh trong văn
học cùng với thực trạng và quan niệm về cách dùng từ địa phƣơng trong văn
học thế kỉ XX. Cuối bài viết tác giả tổng kết: Trên đây chúng tôi vừa sơ lược
trình bày về mức độ và quan niệm của việc sử dụng từ địa phương trong văn
học Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến nay. Qua đó có thể thấy rằng phương ngữ
trong sáng tác văn học Nam Bộ trong suốt một thế kỉ qua đã phát triển và có
những biến đổi rõ rệt, tạo nên một xu hướng chung là hướng tới chuẩn hóa
ngôn ngữ. Xu hướng này thể hiện rất rõ trong việc dùng từ có chọn lọc và hạn
chế hiện tượng sai lỗi chính tả như đã phân tích ở trên [36, 474]. Điều này
cho thấy, tác giả có sự quan tâm đặc biệt về mặt từ vựng phƣơng ngôn trong
tác phẩm văn học với ƣu, nhƣợc điểm của nó trong quá trình chuyển tải nội
dung, nhất là tạo mạch cảm xúc đến ngƣời đọc.
Cuốn sách Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam do Hội khoa học lịch
sử Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Thế giới xuất bản, trên cơ sở tổng
hợp các kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học liên quan nhƣ sử học,
khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học, luật học... ở trong và ngoài nƣớc đã
trình bày một cách khách quan, có hệ thống và cô đọng những tƣ liệu, chứng
cứ cơ bản về lịch sử phát triển của vùng đất Nam Bộ.
2.3. Đáng lƣu ý là các vấn đề: Thiên nhiên và con người Nam Bộ qua
truyện ngắn Sơn Nam, luận văn cử nhân Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh của Đoàn Trần Ái Thi, năm 1996; Đặc
điểm truyện ngắn Sơn Nam giai đoạn 1954 - 1975, luận văn thạc sĩ của Lê
Thị Thùy Trang, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm
2003; Đinh Thị Thanh Thủy với đề tài Văn hóa và con người NamBộ trong
truyện của Sơn Nam, luận văn thạc sĩ tại Trƣờng Đại học khoa học xã hội và
nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Hồng với Nghệ thuật kể
chuyện của Sơn Nam, luận văn thạc sĩ, Trƣờng đại học Vinh, đã đánh giá rất
cao diện mạo, phong cách văn chƣơng của Sơn Nam.



http//www.dantri.com có bài viết của Lê Phƣơng, Lê Bá Lƣ, Sơn Nam - Nhà
văn, nhà khảo cứu văn hóa, đã đánh giá cao vị thế, phong cách của Sơn
Nam… Một số tác giả khác cũng có bài viết đánh giá, nhận xét về nhà văn
Sơn Nam. Tác giả Nguyễn Mạnh Trinh với bài viết Sơn Nam, ông già Ba Tri
của đồng bằng Nam Bộ đã có cách nhìn bao quát, ấn tƣợng đầy chiêm
nghiệm: Sinh hoạt một thuở của những ngƣời di dân Nam Bộ đƣợc sống lại
trong Hương rừng Cà Mau. Những câu hò trong Con Bảy đƣa đò mang tâm
tình của ngƣời đi khai hoang. Mùa nƣớc nổi những đàn trâu bò phải di chuyển
lên vùng cao, một nét đặc thù của ngƣời miền đồng bằng trong Mùa len trâu.
Cũng nhƣ với Một cuộc biển dâu, ngƣời chết trong mùa lụt phải thủy táng chứ
không thể chôn đƣợc dƣới ba thƣớc đất. Rồi, đóng gông ông thầy Quýt, rồi
cây huê xà, ngƣời ác với những mƣu mô lẫn lộn ở cạnh ngƣời hiền và rốt
cuộc cũng là lẽ trả vay của trời đất tuần hoàn.
Những nhân vật như ông Từ Thông, như lục cụ Tăng Liên, như bác Vật
Xà Bông, như cậu xã Nê, như ông Tư Đức, như Ông Tiên sư tổ giăng câu,…
có nhiều nét sống thực nhưng cũng có nhiều nét của những chuyện kể của
những tò mò muốn tìm những nét đặc sắc của một thời đã được ghi dấu trên
lịch sử… Nhân vật của Sơn Nam có nét dân gian, gần cận với sinh hoạt bình
dân nên người đọc dễ hòa mình vào tâm cảm của họ…
Trong khi đó, theo nhà thơ Hoài Anh: Không cứ biên khảo, nghiên cứu
ngay cả truyện ngắn ông cũng viết bằng giọng kể giản dị như có người ngồi
nghe trước mặt mình. Điều này ta thấy rõ trong Hương rừng Cà Mau. Vùng
đất lục tỉnh với Sơn Nam như đất vườn quê ông. Ông là một lão nông dân cày


9
ruộng văn chương, hiểu cặn kẽ ngóc ngách thửa ruộng của mình. Tức là, nhà
thơ đã nhìn nhận Hương rừng Cà Mau với góc nhìn gần với thi pháp truyện
ngắn hiện đại mà cụ thể là giọng kể.

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm các lớp
từ trong một số truyện ngắn của nhà văn Sơn Nam, cụ thể là trong tập truyện
ngắn Hương rừng Cà Mau tập 1, tập 2 và tập 3 (65 truyện)
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Thống kê các lớp từ địa phƣơng Nam Bộ đƣợc nhà văn Sơn Nam sử dụng
trong tác phẩm nhƣ: danh từ riêng chỉ tên nhân vật, từ định danh địa hình
sông nƣớc, từ miêu tả vận động của dòng nƣớc, từ chỉ phƣơng tiện di chuyển
trên sông nƣớc, từ chỉ hoạt động của ngƣời dân miền sông nƣớc, từ chỉ sản
vật vùng sông nƣớc…
- Tập trung làm nổi bật những nét đặc sắc về cách dùng từ ngữ Nam Bộ
trong truyện ngắn của Sơn Nam.
4. Phạm vi tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Tư liệu khảo sát
Trong đề tài này, chúng tôi khảo sát ngôn ngữ của 65 truyện trong
Hương rừng Cà Mau (3 tập) nhằm góp phần thấy đƣợc đóng góp của tác giả
về mặt ngôn ngữ.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đề ra, chúng tôi sử dụng những
phƣơng pháp chủ yếu sau:
- Phƣơng pháp thống kê ngôn ngữ học để thu thập và phân loại tƣ liệu.
- Dùng các thủ pháp phân tích, miêu tả và tổng hợp để làm nổi bật đặc
sắc ngôn ngữ truyện ngắn của Sơn Nam.
- Dùng phƣơng pháp so sánh đối chiếu để nhận diện cá tính ngôn ngữ
truyện ngắn của Sơn Nam.
5. Đóng góp của đề tài


11

Lái, cảng Hiệp Phƣớc, cảng Phú Mỹ... Hệ thống sông Cửu Long đã đóng vai
trò rất quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng sông Cửu Long mà
diện tích lên tới 39. 34 km² [32]. Nam Bộ là nơi gặp gỡ của các tuyến giao
thông đƣờng biển quốc tế, Việt Nam với Đông Nam Á, Việt Nam với phƣơng
Tây, ngã ba đƣờng Thái Bình Dƣơng - Ấn Độ Dƣơng. Nam Bộ là nơi gặp gỡ
của những điều kiện tự nhiên thuận tiện, gần xích đạo nhƣng mùa hè không
quá nóng và ẩm nhƣ miền Bắc ở sâu trong lục địa, không quá khô và quanh
năm không bao giờ bị bão lớn nhƣ miền Trung.
Khí hậu Nam Bộ mang tính chất nhiệt đới gió mùa, thời tiết có hai
mùa: mùa mƣa và mùa nắng. Ở Nam Bộ, từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa mƣa,
những tháng còn lại không mƣa gọi là mùa khô nên hầu nhƣ nơi đây nóng
quanh năm và không có mùa đông. Riêng đồng bằng sông Cửu Long, từ tháng
8 trở đi thƣờng có lũ lụt, ngập khoảng 25% diện tích (Đồng Tháp, An


13
Giang,…) và nhiệt độ trung bình cả năm là 260C. Các ngành kinh tế nhƣ
nông, lâm, ngƣ nghiệp, nhất là nông nghiệp trồng lúa nƣớc phát triển rất thuận
lợi nhờ đất đai màu mỡ, thời tiết điều hòa. Bên cạnh phèn chua, nhiễm mặn,
ngập úng vào mùa mƣa, thiếu nƣớc vào mùa nắng luôn luôn là những thách
thức cho vùng đất nơi đây.
Hiện nay, vùng đất Nam Bộ có thế mạnh về nông nghiệp, công
nghiệp, thƣơng mại - dịch vụ, thủy sản lớn nhất nƣớc ta với 19 tỉnh thành.
Vùng đất hơi cao ở vùng phía Đông Bắc, thƣờng đƣợc gọi là miền Đông Nam
Bộ, độ cao trung bình từ vài chục mét đến khoảng 200 nét trên mực nƣớc
biển. Miền Đông Nam Bộ có 6 tỉnh thành là Bình Phƣớc, Bình Dƣơng, Tây
Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh. Còn miền
Tây Nam Bộ có 13 tỉnh thành nhƣ: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng
Tháp, An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng,
Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ và hàng trăm đảo lớn nhỏ, có đƣờng biên giới bộ

cƣ vào lập nghiệp ngày càng đông. Năm 1698, Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu
Cảnh vào lập phủ Gia Định; Chúa Nguyễn là ngƣời bảo hộ cho quá trình khai
phá và thiết lập chủ quyền ở Nam Bộ một cách hòa bình hữu nghị.
Trên vùng đất Nam Bộ, Chúa Nguyễn đã thi hành chính sách khuyến
khích đặc biệt đối với việc khai phá đất hoang, cho phép ngƣời dân biến
ruộng đất khai hoang đƣợc thành sở hữu tƣ nhân. Trƣớc làn sóng tự phát di cƣ
vào Nam tìm đất sinh sống của đông đảo những ngƣời nông dân Thuận Quảng, Chúa Nguyễn cho ngƣời đứng ra tổ chức các cuộc di cƣ này và lập
thành các xã, thôn, phƣờng, ấp của ngƣời Việt. Chúa Nguyễn đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho những địa chủ giàu có ở Thuận - Quảng đem tôi tớ và chiêu
mộ nông dân lƣu vong vào đây khai hoang lập ấp, chính sách này đƣợc thực
thi lâu dài và nhất quán nhƣ một phƣơng thức khai hoang chủ yếu ở Nam Bộ.
Lực lƣợng khai hoang chủ yếu là lƣu dân ngƣời Việt và một bộ phận những
ngƣời dân gốc Chăm Pa, Chân Lạp. Ngoài ra, một số lính đồn trú, một số
ngƣời Trung Quốc, ngƣời dân tộc thiểu số khác cũng đƣợc sử dụng vào việc
khai khẩn và canh tác.


15
Trải qua quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc lâu dài của dân tộc, lãnh thổ
và biên giới của Việt Nam ngày càng đƣợc củng cố và từ lâu đã trở thành thực
thể thống nhất từ Bắc chí Nam, trong đó có vùng đất Nam Bộ. Với truyền
thống kiên cƣờng, bất khuất và tinh thần lao động cần cù của cả dân tộc, các
thế hệ ngƣời Việt đã viết nên những trang sử hào hùng trong quá trình xây
dựng, bảo vệ và phát triển vùng đất Nam bộ, góp phần làm rạng rỡ non sông,
đất nƣớc Việt Nam.
Trong cuốn sách Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam, các tác giả đã
nghiên cứu lịch sử Nam Bộ bắt đầu từ văn hóa Óc Eo và nƣớc Phù Nam,
nghĩa là từ khi nhà nƣớc đầu tiên ra đời trên vùng đất này vào đầu Công
nguyên. Cuốn sách đã trình bày quá trình nƣớc Phù Nam suy sụp, vùng đất
Nam Bộ thuộc lãnh thổ nƣớc Chân Lạp từ thế kỷ VII cho đến thế kỷ XVI, rồi

- Việt Nam do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Thế
giới xuất bản, phát hành cuối năm 2006.
Khi thực dân Pháp xâm lƣợc Việt Nam năm 1858, đánh chiếm Nam Bộ,
ngƣời dân Nam Bộ đã đoàn kết kháng chiến chống ngoại xâm. Đặc biệt, từ khi có
Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo (1930), nhân dân Nam Bộ đã kiên cƣờng chiến
đấu góp phần vào thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám và tiến hành hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đi đến thắng lợi hoàn toàn, cùng nhân dân
cả nƣớc xây dựng Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ từ ải Nam quan đến mũi Cà Mau và văn bản các hiệp ƣớc quốc tế cũng đã
khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ.
Nhƣ vậy, là đến năm 1945 các nƣớc láng giềng với Việt Nam, trong đó
có Campuchia đã ký các văn bản pháp lý chính thức công nhận vùng đất Nam
Bộ là của Việt Nam. Đến năm 1949, vùng đất Nam Bộ vốn từng bị triều Nguyễn
nhượng cho Pháp đã đƣợc trả lại bằng một văn bản có giá trị pháp lý. Chính phủ
Pháp đã khẳng định những cơ sở lịch sử và luật pháp của văn bản này với Vƣơng
quốc Campuchia. Từ đó về sau chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam bộ đƣợc
tất cả các hiệp định có giá trị pháp lý quốc tế thừa nhận nhƣ Hiệp định Giơneve
(1954) giữa nƣớc ta và Pháp ký, Hiệp định Pari (1973) giữa nƣớc ta và Mỹ ký
cũng đƣợc cộng đồng quốc tế thừa nhận. Như vậy, bằng bao xương máu, hy


17
sinh, nhân dân Nam bộ và cả nước đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của
Mỹ; giữ vững độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, thống nhất
giang sơn. Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, biết bao thế hệ và hàng
triệu người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã đổ máu hy sinh để bảo vệ độc
lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trước mọi âm mưu xâm chiếm hoặc chia
cắt đất nước, dù chỉ là một tấc đất, trong đó có vùng đất Nam bộ, toàn thể cộng
đồng dân tộc Việt Nam đều không tiếc máu xương cầm súng đứng lên bảo vệ chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình [22, 61].

Những ngƣời nông dân có mặt ở vùng đất Nam Bộ là những ngƣời
nông dân đến từ miền Trung, miền Bắc. Tuy buổi đầu lập nghiệp trên vùng
đất hoang sơ trăm đắng ngàn cay, bởi rừng thiêng nƣớc độc, ngƣời nông dân
thiếu cả công cụ, phƣơng tiện lao động... nhƣng mọi ngƣời đều kiên cƣờng
bám trụ đến đây thì ở lại đây/ trăm năm bám rễ xanh cây không về. Bám rễ
xanh cây không chỉ có nghĩa là lao động sáng tạo ra của cải vật chất, mà sự
xanh cây bám rễ còn chỉ mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời từ bốn phƣơng hội
tụ trên mảnh đất Nam Bộ ấm áp tình ngƣời. Tấm lòng ngƣời nông dân Nam
Bộ xƣa nay luôn đức độ bao dung, sẵn sàng tha thứ cho những ai biết hối cải
lỗi lầm, nhƣng cũng không tha thứ cho kẻ gian ác, điêu ngoa. Họ coi trọng
nhân nghĩa, với lòng thƣơng ngƣời bao la vô tận, nhƣng họ cũng rất ghét bọn
gian tà, xu nịnh, những kẻ tham phú phụ bần. Nếu ai là ngƣời lƣơng thiện có
đạo đức, sống trung thực, nhân nghĩa dẫu từ nơi đâu đến với xóm làng Nam
bộ thì cũng đƣợc ngƣời nông dân đón tiếp thân tình theo đúng nghĩa tứ hải
giai huynh đệ, sẵn sàng cƣu mang giúp đỡ ngƣời đói rét, bệnh tật anh em như
thể tay chân hay là Bầu ơi thương lắy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng
chung một giàn nhƣ dân gian ta thƣờng nói.
Nam Bộ là vùng đất của sự tiếp xúc văn hóa. Khi nghiên cứu về Nam
Bộ, dễ nhận thấy diện mạo văn hóa hết sức đặc sắc của Nam Bộ đƣợc biểu
hiện ra ở chỗ: một mặt, xuất hiện những hiện tƣợng, những đặc điểm riêng chỉ
có ở Nam Bộ, không thấy ở bất cứ vùng miền nào; nhƣng mặt khác, những
hiện tƣợng, những đặc điểm ấy vẫn là sự tiếp nối, hơn nữa, còn là một sự tiếp
nối làm sâu sắc, phong phú thêm truyền thống văn hoá Việt. Cái đặc sắc ấy là


19
do Nam Bộ đi đầu trong tiếp xúc văn hóa, xét trong tƣơng quan với cả nƣớc.
Ngay từ thời kỳ khai phá vùng đất mới này ở các thế kỷ XVII - XVIII, những
truyền thống văn hoá Việt, Khmer, Hoa, Chăm,... đã gặp gỡ nhau, đan xen và
hòa trộn với nhau. Do vậy, Nam Bộ là nơi gặp gỡ của cƣ dân nhiều tộc ngƣời

Hảo. Các hiện tƣợng này chính là những đối tƣợng thích hợp nhất cho sự
phân tích nhằm lý giải vì sao những truyền thống văn hóa có gốc gác khác
nhau có thể kết hợp đƣợc với nhau nhuần nhuyễn đến nhƣ vậy. Công việc đó
chẳng những góp phần giúp ta hiểu thêm về con ngƣời và văn hóa Nam Bộ,
hiểu thêm sức mạnh của truyền thống văn hóa Việt, đồng thời còn gợi cho
chúng ta suy nghĩ thêm về con đƣờng hội nhập với thế giới hôm nay. Góc
nhìn mới về văn hóa vùng đất mới, quyển Nho giáo ở Gia Định đã lý giải
đƣợc điều đó một cách tƣờng minh. Nho giáo ở Gia Định xuất phát từ con
người Việt Nam ở Nam Bộ thời Đàng Trong đã mang trong hành trang Nam
tiến của mình một loại Nho giáo được dân tộc hóa qua ba thế kỷ... Cũng phải
kể tới bộ phận được du nhập theo chân những di thần nhà Minh Trung Hoa
tìm tới tị nạn chính trị [37]. Từ đó, Nho giáo ở Nam Bộ có bản sắc riêng, có
giá trị riêng và song hành với sự phát triển của địa phƣơng và dân tộc.
Nho giáo đƣợc xem nhƣ mạch chủ đạo để đối chiếu, phân tích với ảnh
hƣởng của Phật giáo, văn hóa Đông Nam Á, văn hóa Tây phƣơng, văn hóa
các dân tộc bản địa trong cuộc sống hỗn dung của cộng đồng các dân tộc ở
Gia Định và Đàng Trong nói chung. Từ phƣơng pháp tiếp cận đó, tác giả cuốn
sách Nho giáo ở Gia Định đã phát hiện và lý giải nhiều hiện tƣợng văn hóa
thú vị của vùng đất phía Nam nhƣ: tìm hiểu truyền thuyết về các ông đạo ở
miền Tây Nam Bộ mà đặc biệt là các nhân vật có liên quan với giáo phái Bửu
Sơn Kỳ Hƣơng từ nửa sau thế kỷ XIX đến 1945, có thể tìm thấy vô số ví dụ
về bùa ngải phù phép, nhƣng nhìn chung loại ma thuật này thƣờng có nguồn
gốc Đông Nam Á, chứ ít có liên hệ với pháp thuật của các đạo sĩ Trung
Hoa… Chẳng hạn, dƣới thời Pháp thuộc, khi các mâu thuẫn kinh tế - xã hội
thuộc địa đã định hình vẫn còn sự xuất hiện các tôn giáo nhƣ đạo Cao Đài
năm 1926, rồi Phật giáo Hòa Hảo năm 1939, trong đó, Cao Đài mang dáng
dấp một hội đoàn có khuynh hƣớng chính trị ôn hòa của tầng lớp trên nhƣng


21


22
láng, lung, bưng, biền, đầm, đìa, trấp, vũng, trũng, gành, xáng, vịnh, bàu...;
nước lớn, nước ròng, nước đứng, nước nhửng, nước rông, nước rặc, nước
lên, nước xuống, nước nhảy, nước chụp, nước rút, nước nổi, nước lụt, nước
lềnh, nước cạn, nước xiết, nước xoáy, nước ngược, nước xuôi... Vì vậy, sông
nƣớc đã trở thành một yếu tố cấu thành đặc trƣng của văn hoá nơi đây.
Về tín ngƣỡng, Nam Bộ là vùng đất phong phú nhất về tín ngƣỡng tôn
giáo ở Việt Nam, ngƣời Việt Nam Bộ cũng dành ƣu tiên cho đạo Phật, kết hợp
với tín ngƣỡng vạn vật hữu linh và thờ cúng tổ tiên. Nam Bộ là một vùng đất
mới, nhƣng Nam Bộ cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử - văn hoá nhƣ Văn miếu
Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh ở Đồng Nai, di tích Rạch Gầm - Xoài
Mút, di tích Ấp Bắc, luỹ Pháo Đài, lăng Hoàng Gia, lăng Trƣơng Định, lăng Tứ
Kiệt ở Tiền Giang, Văn Miếu ở Vĩnh Long,... Gần đây, một số địa phƣơng ở
Nam Bộ đã tiến hành phục dựng, trùng tu các di tích này để tôn vinh những
ngƣời có công đối với lịch sử và văn hoá của vùng đất phƣơng Nam.
Nam Bộ cũng là một vùng đất mà giao lƣu, tiếp biến văn hoá đã và
đang diễn ra với tốc độ rất nhanh. Hệ quả là hầu nhƣ không có hiện tƣợng văn
hoá nào ở nơi đây còn nguyên chất thuần Việt mà luôn có bóng dáng của
những nền văn hoá khác, đã hội tụ nơi đây trong hơn ba thế kỷ qua. Có thể
nói, giao thoa văn hoá chính là một trong những bản sắc của văn hoá Nam Bộ,
nó khiến cho văn hoá Nam Bộ vừa tƣơng đồng, lại vừa khác biệt với cội
nguồn của nó là văn hoá Việt ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là văn hoá Nam bộ chỉ là con số
cộng các luồng văn hoá đã hội tụ nơi đây. Trong quá trình giao thoa văn hoá,
cƣ dân Việt nơi đây đã không tiếp thu trọn gói các nền văn hoá khác mà chỉ
những yếu tố đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần để bổ sung vào hành
trang văn hoá mang theo. Vì vậy, văn hoá Việt nơi đây không tự đánh mất
mình mà chỉ tái tạo các giá trị văn hoá mà vùng đất này thu nạp đƣợc theo
hƣớng làm cho nó thích ứng với văn hoá Việt, với nhu cầu của ngƣời Việt

xin nêu ra một vài định nghĩa của các nhà nghiên cứu với những cách hiểu và
lí giải khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Văn Tu thì: Từ địa phương không ở



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status