trường từ vựng nghề nghiệp trong truyện ngắn của nhà văn sơn nam - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
o

PHAN TÍN HUY
Mssv: 6116179

TRƢỜNG TỪ VỰNG NGHỀ NGHIỆP TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA NHÀ VĂN SƠN NAM

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn

Cán bộ hƣớng dẫn: NGUYỄN THỊ THU THUỶ

Cần Thơ, 2014

1


A. PHẦN MỞ ĐẦU
****

1.

Lý do chọn đề tài
Từ vựng là những đơn vị hiển nhiên, thực tại, có hai mặt hình thức và nội dung,

lớn nhất trong hệ thống ngôn ngữ và nhỏ nhất để tạo câu. Đó là những đơn vị mà với
chúng ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp và tƣ duy thông qua thao tác lựa chọn

công cụ lao động còn khá lạ lẫm với những ai chƣa từng sống ở nông thôn Nam Bộ và
xã hội ngày một phát triển, máy móc hiện đại dần thay thế lao động thủ công, vì những
từ chỉ công cụ lao động này càng lùi dần về quá khứ và còn rất ít ngƣời hiểu biết về nó.
Nghiên cứu đề tài này, hy vọng góp thêm một phần tài liệu tham khảo, góp thêm chút
lửa cho những ai yêu thích, tìm tòi và nghiên cứu lĩnh vực này. Đó là những lý do để
chúng tôi tìm đến Sơn Nam, tìm đến cái nghề trong truyện ngắn của ông để nghiên
cứu.
2.

Lịch sử nghiên cứu
Nói về lí thuyết trƣờng từ vựng thì tác giả Đỗ Hữu Châu là ngƣời có công lớn

nhất đối với việc đƣa khái niệm này vào Việt Nam. Ông đã trình bày lí thuyết này ở
các công trình nghiên cứu của ông nhƣ trong quyển Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt [2, tr.
145]. Tác giả có nói “Tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu
hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể
hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng. Mỗi tiểu hệ thống
ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau
về ngữ nghĩa.”. Trong quyển Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng [4, tr. 243], Đỗ Hữu Châu
nói “trường tự vựng – ngữ nghĩa chỉ bao gồm những tập hợp từ vựng có sự đồng nhất
về ngữ nghĩa xét theo một phương diện nào đấy”.
Trong quyển Giáo trình cơ sở Ngôn ngữ học và tiếng Việt – Nhà xuất bản Giáo
Dục 1997 của Bùi Tất Tƣơm (chủ biên), Nguyễn Văn Bằng – Hoàng Xuân Tâm nói
rằng: [31, tr. 68] “Trường nghĩa là một phạm trù chưa được nghiên cứu nhiều và đang
còn nhiều kiến giải khác nhau về vấn đề xác định các trường nghĩa”. “Việc nghiên cứu

3


trường nghĩa chỉ có ý nghĩa khi nó giúp ích cho việc khai thác vốn từ trong kho từ vựng



tác của Nguyễn Minh Châu. Tác giả cho ta thấy đƣợc vẻ đẹp hình thức, vẻ đẹp tâm hồn
của ngƣời phụ nữ Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc. Bài viết
đặc sắc, sinh động, hấp dẫn ngƣời đọc.
Nguyễn Thị Vân Anh có bài viết đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 12 – 2012 Đặc
trưng văn hoá vùng miền qua một số tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa thực vật
trong ca dao Nam Trung Bộ [1, tr. 74] đã chứng minh “(…) hệ thống tín hiệu thẩm mĩ
trong ca dao người Việt nói chung và hệ thống tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa
thực vật trong ca dao Nam Trung Bộ nói riêng đều mang đậm hồn quê xứ sở và mang
những giá trị nhân văn sâu sắc của con người Việt Nam nói chung, của cư dân Nam
Trung Bộ nói riêng”.
Gần đây nhất là bài viết của hai tác giả Lê Thị Hà [9, tr. 21] Phân chia các từ
trong trường trang phục theo quan hệ cấp loại và Hà Thị Mai Thanh [26, tr. 27]
Trường nghĩa bộ phận của thực vật vào mùa xuân trong Tổng tập Văn học Nôm Việt
Nam đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống. Lê Thị Hà cho ta cái nhìn khái quát
trƣờng trang phục dựa trên quan hệ cấp loại – loại và phân loại chỉnh thể - bộ phận. Hai
mối quan hệ này đan chéo vào nhau. Bài viết muốn khẳng định trang phục luôn luôn
hiện hữu cùng với cuộc sống con ngƣời, làm đẹp con ngƣời và gắn với sự phát triển
của xã hội. Hà Thị Mai Thanh dựa vào tác dụng, chức năng của các loài thực vật vào
mùa xuân phân nhóm nhƣ cây cảnh: mai, trúc, liễu, cây lấy hoa: mai, lan, đào, quỳnh,
thuỷ tiên, mẫu đơn, cây ăn trái: khế, chuối, cây nông nghiệp: mía, cây thân cỏ và cây
nói chung để thấy đƣợc trƣờng nghĩa bộ phận của thực vật mang những ý nghĩa biểu
trƣng rất phong phú, đa diện và giá trị. Đọc bài viết ta thấy đƣợc sự phong phú, đa
dạng của thế giới thực vật trong thơ nôm và giúp ta tiến gần với thể thơ mang tính quy
phạm và ƣớc lệ.
Qua các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy đề tài Trường từ vựng
người trong truyện ngắn của nhà văn Sơn Nam là một đề tài hoàn toàn mới. Hy vọng
đề tài này sẽ giúp tiếp cận tác phẩm Sơn Nam từ một góc nhìn mới.


Để hoàn thành đề tài Trường từ vựng người trong truyện ngắn của nhà văn Sơn

Nam chúng tôi đã kết hợp nhiều phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ:
Phƣơng pháp thông kê – phân loại: vận dụng phƣơng pháp này, trƣớc hết chúng
tôi khảo sát 45 truyện ngắn của Sơn Nam, thống kê toàn bộ từ vựng chỉ nghề trong
truyện ngắn của ông, sau đó phân loại chúng theo các tiêu chí để làm cơ sở ngữ liệu
phân tích các chƣơng sau.
Phƣơng pháp phân tích – chứng minh – tổng hợp: đây là phƣơng pháp chính để
giải quyết các vấn đề đƣợc đặt ra của luận văn. Trên cơ sở phần thống kê, ngƣời viết
tiến hành phân tích giá trị sử dụng của từng từ vựng đƣợc tập hợp thông qua nội dung
phản ánh của chúng. Cuối cùng là tổng hợp khái quát vấn đề và rút ra những điểm
chung.

6


Phƣơng pháp so sánh – đối chiếu: trong quá trình giải quyết vấn đề, chúng tôi sử
dụng phƣơng pháp so sánh, đối chiếu giữa từ vựng chỉ nghề nghiệp trong truyện ngắn
của Sơn Nam và các nghề thủ công vẫn đang tồn tại ở đồng bằng sông Cửu Long để
xác định những điểm giống và khác nhau giữa chúng, từ đó làm nổi bật giá trị, đặc
trƣng vốn có của mỗi nghề.

7


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRƢỜNG TỪ VỰNG
****

1.1.

measured

measurable

Measurement

measuredness

measureless

Measurelessness

measurability

v.v…

Các từ trên có cùng trƣờng cấu tạo từ.
Dựa vào quan hệ ngữ pháp của từ: theo hƣớng này, Muller và Porrig tập hợp các
từ có đặc điểm ngữ pháp giống nhau, nghĩa là có khả năng kết hợp giống nhau với các
từ khác để thành lập trƣờng từ vựng – cú pháp.
Ví dụ:
Trƣờng từ vựng - cú pháp gồm các từ có khả năng kết hợp ở phía trƣớc với the
hoặc a, an hoặc this, that trong tiếng Anh; trƣờng từ vựng – cú pháp các từ có khả năng
kết hợp ở phía trƣớc với rất, hơi, khá, khí và ở phía sau với lắm, quá trong tiếng Việt.
Dựa vào các nét nghĩa phạm trù, các nét nghĩa loại: Ngƣời ta dựa vào các nét
nghĩa phạm trù, nét nghĩa loại để lập các trƣờng từ vựng – ngữ nghĩa. Đây là tập hợp
các từ có quan hệ về mặt ngữ nghĩa.
Ví dụ:
Việc lập các trƣờng từ vựng – ngữ nghĩa dựa vào nét nghĩa nhƣ màu sắc, hoặc
thời gian, hoặc phƣơng hƣớng, hoặc thức ăn, hoặc phƣơng tiện đi lại trên bộ, trên nƣớc.

là từ vựng của một ngôn ngữ.”
“Trường từ vựng ngữ nghĩa là tập hợp các từ và ngữ cố định trong từ vựng
của một ngôn ngữ dựa vào sự đồng nhất nào đấy về ngữ nghĩa.”
Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu: “Trường từ vựng là tập hợp các đơn vị từ
vựng có quan hệ với nhau về ngữ nghĩa” [28, tr. 21].

1.2.

Phân loại trƣờng từ vựng
1.2.1. Trường nghĩa trực tuyến
Trƣờng nghĩa trực tuyến là tập hợp các từ có cùng nghĩa biểu vật hay cấu trúc

biểu niệm khái quát.

Trƣờng nghĩa biểu vật
Vậy nghĩa biểu vật là gì?
“Khái niệm giữ lại trong tư duy một hình ảnh rất khái quát và trừu tượng về sự
vật mà nó phản ánh. Cái hình ảnh khái quát và trừu tượng ấy của sự vật (đúng ra là
của cái chủng loại của sự vật ấy) là sở thị (hay nghĩa biểu vật) trong nghĩa từ.” [31, tr.
61]

10


“Sự vật, hiện tượng, đặc điểm… ngoài ngôn ngữ, được từ biểu thị tạo nên ý
nghĩa biểu vật của từ. Nói như trên dễ gây ra hiểu lầm, cho rằng ý nghĩa biểu vật trùng
hợp hoàn toàn với sự vật, hiện tượng, tính chất…trong thực tế khách quan. Quả nhiên
là trong từ vựng của tất cả các ngôn ngữ, có một bộ phận lớn các từ mà ý nghĩa biểu
vật của chúng trùng hợp với sự vật, biểu tượng, tính chất…ngoài ngôn ngữ. Đó là các
từ nghề nghiệp và thuật ngữ khoa học.” [2, tr. 89].

quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ.
Chính vì ý nghĩa biểu niệm là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, cho nên còn có thể
gọi nó là cấu trúc biểu niệm.” [2, tr. 100].
Nghĩa biểu niệm của từ là hiểu biết về nghĩa biểu vật của từ. Nói nghĩa biểu
niệm là hiểu biết về nghĩa biểu vật, không phải hiểu biết về chính sự vật có thực ở
ngoài đời. Hiểu biết về sự vật ở ngoài đời là khái niệm về sự vật đó. Nhƣ vậy, nếu
nghĩa biểu vật là sự ngôn ngữ hoá sự vật ngoài đời thì nghĩa biểu niệm là sự ngôn ngữ
hoá khái niệm về sự vật. Nhƣ thế cũng có nghĩa là nghĩa còn do quan hệ giữa các nghĩa
biểu niệm trong từ vựng của một ngôn ngữ mà có.
Từ các định nghĩa trên có thể hiểu “Trường nghĩa biểu niệm là một tập hợp các
từ có chung một cấu trúc biểu niệm.” [2, tr. 151]
Cũng nhƣ các trƣờng biểu vật, các trƣờng biểu niệm lớn có thể phân chia thành
các trƣờng nhỏ và cũng có những “miền” với mật độ khác nhau.
Ví dụ:
Trƣờng (vật thể nhân tạo), (phục vụ ăn uống): chén, đũa, muỗng, ly, ấm trà,
bình thuỷ, nĩa v.v…
Trƣờng (vật thể nhân tạo), (vũ khí chiến đấu), (cầm tay): dao, gươm, kiếm, giáo,
mác, phảng, cung, tên v.v…

1.2.2. Trường nghĩa tuyến tính
Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Các từ trong một trường tuyến tính là những từ
thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại văn bản. Phân tích ý nghĩa của chúng,
chúng ta có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và
tính chất của các quan hệ đó”. (…) “Cùng với các trường nghĩa dọc, trường nghĩa
biểu vật và trường nghĩa biểu niệm, các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ
những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và
những đặc điểm hoạt động của từ.” [2, tr. 159].

12


Chúng tôi xin khái quát sơ lƣợc về vùng đất Nam Bộ. Vùng đất này trƣớc đây
gọi là Chân Lạp hay còn gọi là Cao Miên, Campuchia. Sau này đƣợc gọi là Gia Định,

13


tức là Nam Bộ của ta ngày nay, bao gồm cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Từ hồi
mấy thế kỷ trƣớc công nguyên thì đất này đã đƣợc khai phá. Chúng tôi chỉ nói về Nam
Bộ trong giai đoạn Trịnh – Nguyễn phân tranh. Nam Bộ là vùng đất màu mỡ, trù phú,
tài nguyên khoáng sản phong phú, dồi dào. “Các tiên hoàng liệt thánh triều ta chưa
rảnh để mưu tính việc xa nên tạm để đất này cho Cao Miên ở, đời đời xưng là Nam
Phiên, lo việc triều cống không bao giờ dứt” [7, tr. 109]. Lúc ấy địa đầu của Gia Định
là Mô Xoài (Bà Rịa) và Đồng Nai (Biên Hoà). Thế kỷ XVII là thời kỳ Trịnh – Nguyễn
phân tranh. Tình trạng mất mùa hạn hán liên miên ở miền Trung, vì vậy dân số dìu dắt
nhau tản cƣ vào phƣơng Nam, tìm nơi làm ăn sanh sống. Họ bắt đầu khai khẩn đất
hoang, lập ra những làng ngƣời Việt đầu tiên trên vùng đất Nam Bộ. Dần dà, không
quay về nơi “chôn nhau cắt rốn” mà họ xem đây là quê hƣơng thứ hai sống hài hoà với
thiên nhiên. Một mặt thì họ đấu tranh để duy trì vốn bản sắc văn hoá riêng của dân tộc
mình, mặt khác thì họ cũng dần thay đổi một số nếp cũ để tiếp nhận nếp sống mới cho
phù hợp với môi trƣờng sống mới.
Năm 1679, Tổng binh thành Long Môn (Quảng Đông) của triều Minh là Dƣơng
Ngạn Địch cùng Phó tƣớng là Hoàng Tấn và Tổng binh là Trần Thƣợng Xuyên cùng
Phó tƣớng là Trần An Bình cử binh phản Thanh phục Minh. Tuy nhiên, do tƣơng quan
lực lƣợng không cân xứng nên hai Tổng binh đem binh lính xuống thuyền chạy sang
nƣớc Nam cầu cứu. Thấy vậy triều đình ta cho họ tới Nông Nại (tức Đồng Nai ngày
nay) để làm ăn, khai thác đất đai. Sau đó, bọn Long Môn họ Dƣơng đem binh thuyền
tiến nhanh vào cửa Xoài Rạp (Soi Rạp) và cửa Đại, cửa Tiểu rồi dừng chân tại xứ Mỹ
Tho thuộc trấn Định Tƣờng. Còn Tổng binh họ Trần thì tiến vào cửa Cần Giờ rồi đồn
trú tại xứ Bàn Lân thuộc Đồng Nai. Ngày ngày đất đai mở rộng, thành lập phố chợ
đông đúc, giao thƣơng buôn bán tấp nập.

Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm (1901-1963) công bố Luật 10/59 - Lê máy
chém đi khắp miền Nam, nhằm khủng bố phong trào đấu tranh đòi thi hành hiệp định
Gienève, thống nhất đất nƣớc thì Sơn Nam bị bắt và giam ở nhà tù Phú Lợi gần hai
năm (1960-1961). Ra tù, ông tiếp tục làm báo, viết văn ở Sài Gòn. Sau năm 1975, Sơn
Nam tiếp tục hoạt động văn học. Ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, trong Ban
Chấp Hành Hội liên hiệp văn học nghệ thuật và Ban Chấp Hành Hội nhà văn thành phố
Hồ Chí Minh.
Bằng vốn sống và sự trải nghiệm thực tế, Sơn Nam đã có nhiều công trình khảo
cứu, biên khảo công phu về địa dƣ, phong tục, tập quán ở miền đất cực Nam của tổ

15


quốc và đặc biệt là tính cách con ngƣời vùng đất Nam Bộ mang một sắc thái riêng, hấp
dẫn, sinh động, lôi cuốn ngƣời đọc bằng ngôn từ dung dị đời thƣờng mang đậm màu
sắc Nam Bộ. Chính vì thế, ông đƣợc coi là nhà Nam Bộ học có uy tín. Các tác phẩm
chính của ông nhƣ: Nói về miền Nam (1967), Thiên Địa hội và cuộc Minh Tân (1971),
Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973), Tìm hiểu đất Hậu Giang (1974), Gia Định xưa
(1984), Lịch sử An Giang (1988), Lăng Ông Bà Chiểu và lễ hội dân gian (1990),
Nguyễn Trung Trực (viết chung với Lê Đình Kỵ, 1987), Đình miếu và lễ hội dân gian
(1992), Văn minh miệt vườn (1992), Bến Nghé xưa (1992), Đồng bằng sông Cửu Long
– Nét sinh hoạt xưa (1993), Biển cỏ miền Tây (1993), Người Sài Gòn (1994) v.v…
Về lĩnh vực sáng tác, tiểu thuyết chính: Chim quyên xuống đất (1963), Ngôi nhà
mặt tiền (1992), Âm dương cách trở (1993), truyện ngắn Bên rừng cù lao Dung đƣợc
Giải thƣởng Văn nghệ Cửu Long của Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ (19511952) và ký sự Tây dầu đỏ (1953-1954). Đặc sắc nhất là tập truyện ngắn Hương rừng
Cà Mau (1967), với 18 truyện ngắn đã đƣa ngƣời đọc đến với những kênh rạch chằng
chịt, đồng nƣớc mênh mông và một thế giới chim muông, cầm thú, cá tôm đặc trƣng
của xứ sở Cà Mau. Nơi đây, con ngƣời còn phải vật lộn với thiên nhiên với thú dữ để
giành lấy miếng cơm manh áo v.v… tất cả in đậm tính cách con ngƣời Nam Bộ gân
guốc, mãnh liệt, tài ba và trí dũng, vừa hào phóng, trọng nghĩa khinh tài, cởi mở, hồn

động, công cụ lao động, nguyên liệu lao động và tất cả những lớp từ này có mối quan
hệ với nhau về nghĩa thì đƣợc gọi là trƣờng từ vựng nghề nghiệp.
Ngoài lớp từ trung tâm này, nói đến trƣờng từ vựng nghề nghiệp ngƣời ta còn
liên tƣởng đến những từ chỉ sản phẩm, nguyên liệu có liên quan đến nghề nghiệp,
những con ngƣời lao động nghề nghiệp, những tính chất, đặc thù của nghề nghiệp

17


v.v… Tuy nhiên, do sự quy định về dung lƣợng của luận văn và thời gian nghiên cứu
hạn hẹp, luận văn này chỉ tập trung những nhóm từ nghề nghiệp chủ yếu:
(1) Nhóm từ vựng chỉ nghề nghiệp
(2) Nhóm từ vựng chỉ thao tác lao động
(3) Nhóm từ vựng chỉ công cụ lao động
(4) Nhóm từ vựng chỉ nguyên liệu – đối tƣợng – sản phẩm của nghề nghiệp

2.2. Phân loại trƣờng từ vựng nghề nghiệp trong truyện ngắn Sơn Nam
2.2.1. Nhóm từ vựng chỉ nghề nghiệp
Khi nói đến Sơn Nam là nghĩ ngay đến Nam Bộ, vùng đất cây lành trái ngọt,
ruộng lúa phì nhiêu với hệ thống sông ngòi chằng chịt có phù sa bồi đắp do hai con
sông Tiền và sông Hậu, bởi Ông đã dành trọn cuộc đời mình để điểm tô cho vùng đất
này bằng những công trình khảo cứu, những tác phẩm nổi tiếng đậm chất Nam Bộ. Tác
phẩm của ông phản ánh cuộc sống của dân “tứ chiếng”, từ nhiều nơi và do nhiều
nguyên nhân tụ hội về đây. Họ đã đấu tranh sinh tồn bằng nhiều nghề khác nhau. Khảo
sát 45 truyện ngắn của nhà văn Sơn Nam, chúng tôi thống kê đƣợc những nghề sau:
(1)

Nghề bắt cá

(2)


(10)

Nghề gác cu

(11)

Nghề câu cọp

(12)

Nghề câu rắn

(13)

Nghề đánh cọp

(14)

Nghề đốt rừng

18


(15)

Nghề nông

(16)


(24)

Nghề làm mướn

(25)

Nghề làm khô

(26)

Nghề làm mắm

(27)

Nghề chài cá

(28)

Nghề làm ruộng

(29)

Nghề săn khỉ

(30)

Nghề nuôi cá

(31)


(39)

Nghề nấu cao khỉ
Có thể chia những từ chỉ nghề trên ra làm sáu nhóm chính:
(1) Nhóm từ chỉ các nghề gắn với sông nƣớc, khai thác sản vật tự nhiên sông

nƣớc: bắt cá, bắt rắn, bắt trăn, bắt sấu, câu rắn, câu sấu, bắt cua, móc cua, câu cua,

19


bắt ba khía, chài lưới, bắt lươn, chài cá, nuôi cá, giăng câu, cắm câu, bắt rùa, làm khô,
làm mắm.
(2) Nhóm từ chỉ các nghề gắn với rừng tự nhiên: câu cọp, đánh cọp, đốt rừng,
săn heo rừng, săn khỉ, nấu cao khỉ, bắt chim, đốn củi, gác cu, ăn ong.
(3) Nhóm từ chỉ các nghề gắn với phát triển sản xuất nông nghiệp: làm ruộng,
làm rẫy, nghề nông, gặt lúa.
(4) Nhóm từ chỉ các nghề tiểu thủ công nghiệp: làm kẹo đậu phộng, đươn cà
ròn.
(5) Nhóm từ chỉ nghề gắn với đời sống tinh thần: hát huê tình.
(6) Nhóm từ chỉ các nghề khác: ăn trộm, thầy nò, làm mướn, chăn trâu.
Tìm hiểu đặc điểm của từng nghề, chúng tôi giải nghĩa rõ ràng, chi tiết các từ
chỉ nghề trên.
Hệ sinh thái rừng nguyên sinh và sông ngòi kênh rạch chằng chịt nhƣ ở Nam Bộ
sản sinh ra nhóm nghề (1).
Nghề chài cá, chài lưới là nghề bắt cá bằng lƣới, mép ngoài lƣới gắn nhiều cục
chì, quăng xuống nƣớc úp cá.
Nghề câu cua là nghề dùng cần câu bằng tre, độ dài vừa phải, có dây và lƣỡi
câu, lấy cá làm mồi nhử cua. Khi cua tìm thấy thức ăn, nó sẽ kẹp mồi lại bằng cái càng
lớn. Lúc này ngƣời câu cua nhắc nhẹ cần câu lên khỏi mặt nƣớc và dùng cái vợt lƣới cỡ

như ý muốn của bác. Rồi bác thọt cho nó đui hai con mắt” [17, tr. 115]. Nghề này rất
nguy hiểm thậm chí mất mạng.
Nghề câu rắn – trong truyện Con rắn ri voi Sơn Nam có nói về nghề này, chúng
tôi trích vài đoạn văn để mô tả về nghề câu rắn của Bảy Đăng: “Ông ngồi một chỗ, thả
cần câu xuống nước, tay ôm cần như ông Khương Thượng trên thạch bàn. Kế bên có
chai rượu (…) Lão nốc một hơi rồi để chai rượu xuống bãi cỏ. Chai rượu nằm hơi
nghiêng, không đậy nút (…) Từ mé nước, một con rắn ri voi trườn lên….đến gần miệng
chai rượu rồi thập thò, rút lui như hoảng sợ. Bảy Đăng nâng chai rượu, nhểu vài giọt
xuống nước, trên cỏ. Con rắn… hăng hái bò trườn, đến gần miệng chai. Bàn tay lanh
lẹ của Bảy Đăng chụp xuống, bỏ rắn vào giỏ”[17, tr. 61].
Nghề bắt rắn, bắt trăn – số lƣợng của mỗi loài vô cùng phong phú nên hình
thành nghề bắt rắn, bắt trăn.

21


“Hết mùa cá dại, anh xoay qua bắt trăn, bắt rắn” [16, tr. 126]
Nghề bắt lươn - dùng ống tre đặt rải rác trên các cánh đồng, bên trong ống tre
có cái hom và mồi nhử lƣơn. Con lƣơn chui vào thì không thể chui ra.
Nghề bắt ba khía – ba khía là loài sống ở biển, cứ vài tháng là có một ngày hội
ba khía, tức là ngày chúng bắt cặp, số lƣợng vô cùng lớn. Tận dụng ngày này, ngƣời
nông dân bắt mang về làm mắm ba khía.
Nghề bắt rùa, bắt cá – nguồn lợi thuỷ hải sản vô cùng phong phú, đa dạng về
chủng loại, giàu có về sản lƣợng mà hình thành các nghề này. Trong tác phẩm Cấm bắt
rùa qua lời thoại của Thầy đội Bình và Bảy Đặng cũng đủ để chứng minh cái nghề
hình thành bất chợt nhƣ thế nào: “ – Chú Bảy rành nghề bắt rùa quá! – Đâu phải là
nghề. Bất chợt vậy thôi. Rùa xứ này nhiều quá mạng, tôi không muốn bắt hết. Con nào
quá nhỏ, tôi liệng bỏ. Còn rùa quạ thì tôi lựa toàn là rùa cái, rùa quạ đực ốm nhôm
nhốt chật chỗ” [16, tr. 20].
Nghề bắt cá - trong tác phẩm Con cá chết dại cũng nói lên nguồn lợi cá tôm

-

Đứng im, đừng chạy bất tử cọp khinh dễ. Rủi bề gì thì trèo lên ngọn cây.
Nhớ cầm cây cần câu này trong tay. Cầm thật chắc, đừng sợ, run tay.

Ông Cai di khuất dạng trong rặng cây thưa thớt rồi trở ra với con cọp theo sau.
Ông nói to:
-

Làm như người câu cá. Cái đùi heo là miếng mồi.” [16, tr. 10]

Nghề gác cu là nghề bắt chim cu rừng bằng cái lồng, bên trong lồng để vào con
chim cu mồi, ngoài lồng có lƣới chụp. Chim cu ghét nhau tiếng gáy nên cu mồi cất
tiếng gáy sẽ thúc giục cu rừng đến giao chiến và sập bẫy.
Nghề đốn củi là nghề chặt những cây gỗ to mang về bán hoặc làm cột cất nhà.
Nghề này khá vất vả “Hừng sáng, họ đi vào rừng đốn củi. Gặp cây nào to lớn, ngay
thẳng họ hạ xuống lột vỏ, ngâm bùn chôn giấu để làm cột nhà, bán với giá đắt hơn.”
[17, tr. 22].
Nghề đốt rừng – trong tác phẩm Cấm bắt rùa, Sơn Nam nói nghề đốt rừng là để
bắt rùa.
“Bảy Đặng là tay bợm nhậu, chuyên nghề đốt rừng để bắt rùa” [16, tr. 23]
Nghề săn khỉ, nấu cao khỉ là hai nghề đƣợc nhà văn Sơn Nam nhắc đến trong
truyện Cao khỉ U Minh.

23


Nghề săn khỉ - đuổi bắt hoặc giết chúng. Nghề nấu cao khỉ trong tác phẩm có
nói nhƣ sau: “đập đầu lột da, mổ bụng, lóc thịt để lấy xương khỉ làm thuốc. Họ bỏ
xương khỉ vào một cái chảo thật to, nấu với nước, nấu ngày nấu đêm, thỉnh thoảng, họ

đối với nghề này thì Sơn Nam từng nhận định: “Làm ruộng là nghề căn bản. Người
chuyên nghề này gọi là dân ruộng. Dân ruộng nhiều kinh nghiệm, làm ăn kỹ lưỡng,
dám đầu tư vốn liếng và công sức cả gia đình vào, trúng mùa năng suất cao hơn người
khác, năm thất bát thiệt hại cũng ít” [18, tr. 97].
Nghề làm rẫy là nghề gieo trồng các loại cây ngắn ngày, nhƣ: trồng khoai, trồng
cà, trồng hành, tỉa bắp, tỉa đậu v.v…
Nghề gặt lúa – là cắt để thu hoạch lúa đã chín vàng bằng lƣỡi hái.
“Mấy người gặt lúa, giăng câu họ thức nói chuyện sáng đêm để nói chuyện một
mình, nói chuyện hai mình” [16, tr. 120].
Không chỉ phát triển sản xuất nông nghiệp mà những ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp (4) cũng đƣợc hình thành và mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho ngƣời nông
dân Nam Bộ thời bấy giờ nhƣ:
Nghề đươn cà ròn – là nghề đƣơn đệm, đƣơn vỏ xách, đƣơn manh, đƣơn nón
bằng cọng bàng. Cọng bàng là một loại cỏ, thân thẳng đứng rất đặc trƣng của vùng đất
Nam Bộ mà từ lâu đã đi vào trong ca dao.
“Bàu Gõ trên cỏ dưới bưng
Nhổ bàng đươn đệm em đừng đi đâu”
(ca dao)
Hay
“Trắng da vì bởi mẹ cưng
Đen da vì bởi lội bưng nhổ bàng”
(ca dao)
Hay
“Bông xanh mà lá cũng xanh
Em đi cấy lúa cho anh nhổ bàng”
(ca dao)
Để thuận lợi trong việc tạo tác sản phẩm, ngƣời ta mang cọng bàng phơi vài
nắng để cọng bàng dai hơn, không bị bở. Theo Sơn Nam nhận định thì đây là nghề
“không tốn sức lực, con nít trên mười tuổi có thể tiếp tay đươn cái mình cà ròn. Khó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status