so sánh trong truyện ngắn của nhà văn nguyễn công hoan - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HOÀNG THỊ TỐ QUYÊN SO SÁNH TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN
CÔNG HOAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Thái Nguyên - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công HoanSố hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên
III.1.1. Nhận xét chung 64
III.1.2. Vai trò của ngôn cảnh trong việc tạo dựng giá trị nhận thức 65
So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công HoanSố hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên

2
III.1.3. Giá trị nhận thức trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan 68
III.2. Phép so sánh với giá trị gợi cảm 71
III. 3. So sánh như là yếu tố tạo nên phong cách tác giả 73
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89


điều này thì người nghệ sĩ (bên cạnh việc tích lũy một vốn sống phong phú,
một trình độ văn hoá cao) họ còn phải luôn luôn đổi mới cách diễn đạt của
mình thông qua những phương tiện và thủ pháp nghệ thuật - đặc biệt là thủ
pháp so sánh.
1.2. So sánh là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo, là một trong những
phương thức chủ yếu để làm cho sự diễn đạt tư tưởng và tình cảm được tốt
hơn, hay hơn. Nghiên cứu phép so sánh - nghĩa là một cách để chúng ta tìm
hiểu nội dung bên trong của tác phẩm và những tư tưởng, tình cảm, những
ngụ ý, tâm sự mà tác giả gửi gắm qua ngôn ngữ trong tác phẩm của mình.
Hiện nay trong lời ăn tiếng nói hàng ngày hay trong các tác phẩm văn
chương, thủ pháp so sánh được sử dụng rất nhiều và trở nên quen thuộc với
mọi người. Chính vì nó đã trở nên quen thuộc như thế, nên các nhà văn, nhà
So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công HoanSố hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên

4
thơ cũng sử dụng nhiều trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình. Vì vậy,
chúng ta rất cần nghiên cứu về phép so sánh một cách có hệ thống để làm nổi
bật giá trị nhận thức và giá trị thẩm mĩ của phương tiện tu từ ngữ nghĩa này.
1.3. Nói đến Nguyễn Công Hoan trước hết là nói đến một bậc thầy
truyện ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại. Thế giới truyện ngắn của
Nguyễn Công Hoan đa dạng, phong phú như một “bách khoa thư”, một “tấn
trò đời” mà đặc trưng là xã hội phong kiến của thực dân Việt Nam nửa đầu
thế kỉ XX.
Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có nhiều nét gần với truyện cười

thơ ca dân gian Trung Quốc, người ta cũng nói tới, cùng với ẩn dụ, lí luận về
so sánh. Các học giả Trung Hoa thường dùng khái niệm “tỉ” và “hứng” như
một phương thức nghệ thuật để chỉ cách nói ví von, bóng gió. Ở Việt Nam,
cho đến nay, đã có hàng loạt nghiên cứu về các phương thức tu từ - trong đó
có so sánh tu từ, tiêu biểu là các tác giả sau: Đinh Trọng Lạc với Giáo trình
Việt ngữ (Nxb GD, 1964), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb
GD, 1996), Phong cách học tiếng Việt (Nxb GD,1998); Cù Đình Tú với cuốn
Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Nxb ĐH ∞ THCN, 1983); Hữu
Đạt với cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại (Nxb ĐHQGHN, 2001).
Trong các công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên, đã hình thành
khái niệm cũng như sự phân loại và xác định giá trị của các phương thức tu từ
nói chung và so sánh tu từ nói riêng. Đây là cơ sở lí thuyết vô cùng quý báu
giúp chúng tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu về phép so sánh trong
truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này được sử dụng đầu tiên để khảo sát, thống kê tần số
xuất hiện và phân loại các kiểu so sánh trong truyện ngắn Nguyễn Công
Hoan, từ đó có được tư liệu để phân tích, miêu tả, nhận xét, đánh giá những
kiểu loại hình thức, đặc trưng về giá trị biểu đạt của đối tượng nghiên cứu.
So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công HoanSố hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên

6
3.2. Phương pháp phân tích, miêu tả

7
Trong luận văn này, phép so sánh sẽ được tìm hiểu với tư cách là một
biện pháp tu từ ngữ nghĩa từ góc nhìn của ngôn ngữ học và phong cách học.
Luận văn sẽ tiến hành phân tích các đặc điểm hình thái – cấu trúc, phân loại
các kiểu so sánh để từ đó thấy được giá trị của phép so sánh trong truyện ngắn
của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
* Luận văn giới hạn phạm vi tư liệu trong Nguyễn Công Hoan toàn tập,
tập I, II – truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn học, 2003.
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Về mặt lí luận
Luận văn là một cố gắng nhằm nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ
thống, theo cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ học - văn học - phong cách
học, về phép so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan.
Những kết quả thu được sẽ góp phần vào việc nghiên cứu phương tiện tu từ
ngữ nghĩa này sâu hơn ở những công trình khoa học tiếp sau.
6.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn sẽ góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu phong cách nhà văn
Nguyễn Công Hoan từ nhiều phương diện khác nhau. Đồng thời luận văn
cũng góp thêm vào hướng tiếp cận mới trong việc nghiên cứu các tác phẩm
văn chương nghệ thuật: đó là con đường khảo sát đi từ thủ pháp nghệ thuật tới
phân tích giá trị nội dung. Cách tiếp cận mới này cũng giúp ích cho các Thày
Cô dạy bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương
Chương I: Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài
So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công HoanSố hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

Hoàng Thị Tố Quyên

9
NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
I.1. Khái quát về truyện ngắn
I.1.1. Khái niệm truyện ngắn
Tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Từ điển tường giải và liên tưởng
tiếng Việt (Nxb Văn hóa thông tin, 1995) đã quan niệm: “Truyện ngắn là tác
phẩm văn học có ít nhân vật tập trung vào một sự kiện duy nhất qua đó thể
hiện, không phải toàn diện, mà chỉ một mặt tâm lí của nhân vật chính trong
một hoàn cảnh riêng biệt”
Trong cuốn giáo trình Lí luận văn học, Phương Lựu (chủ biên) đã trình
bày: Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự. Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm
cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như
truyện cổ, giai thoại, truyện cười, hoặc gần gũi với những bài kí ngắn. Nhưng
thực ra không phải. Nó gần gũi với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự
tái hiện cuộc sống đương thời. Nội dung của truyện ngắn có thể rất khác nhau:
đời tư, thế sự, hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn. Truyện ngắn có
thể kể về một đoạn đời một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân
vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái
nhìn tự sự đối với cuộc đời. Truyện ngắn nói chung không phải vì “truyện”
của nó “ngắn” mà vì cách nắm bắt cuộc sống của thể loại. Tác giả truyện ngắn
thường hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong
quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người. Chính vì vậy trong truyện
ngắn thường rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Nhân vật truyện ngắn thường
là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái

các nhà văn đã vận dụng triệt để mọi phương tiện biểu hiện trong ngôn ngữ
học trong đó không thể không kể đến phép so sánh. Phép so sánh góp phần
mang lại cho ngôn ngữ nghệ thuật tính gãy gọn, rõ ràng, cụ thể và sinh động.
So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công HoanSố hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên

11
Với mỗi độc giả để hiểu hết nhiều tầng ý nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật
chúng ta phải phối hợp các kiến thức liên ngành.
Trong truyện ngắn, các hình thức tổ chức ngôn ngữ bao gồm: Ngôn
ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ xen kẽ “vừa tác giả vừa nhân vật”.
Các yếu tố này đan cài nhau nhằm phản ánh một cách toàn vẹn nhất hiện thực
của xã hội. Vì vậy ngôn ngữ nghệ thuật có nhiệm vụ miêu tả một cách chính
xác những đối tượng được phản ánh, tác động trực tiếp đến người đọc và có
ảnh hưởng kịp thời trong đời sống.
I.2. Khái quát về phép so sánh
I.2.1. Khái niệm so sánh và cấu trúc của phép so sánh
So sánh là một thao tác của tư duy, đem sự vật này đối chiếu với sự vật
khác, để thấy sự tương đồng và khác biệt giữa chúng. Không phải ngẫu nhiên
mà người phương Tây có câu châm ngôn nổi tiếng: “Chân lý chỉ được nhận
thức ra trong sự so sánh”!
Về khái niệm phép so sánh, chúng ta có thể thấy rằng: Những trình bày
của các tác giả bên cạnh những điểm chung cũng có những điểm khác nhau
nhất định và điểm khác nhau chủ yếu là ở các mô hình so sánh được đưa ra.
Các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà trong cuốn giáo trình

trơn
khoẻ
kịch liệt
như
như
hơn
phết mỡ
vâm
trận trước
Nghĩa là mô hình cấu trúc so sánh đầy đủ sẽ là:
A (t) tss B
Tuy nhiên, trên thực tế, tuỳ từng trường hợp người ta có thể đảo trật tự
so sánh hoặc bớt một yếu tố trong mô hình; cụ thể là ta có 5 biến thể của mô
hình cấu trúc so sánh trên:
1. Đảo trật tự so sánh: (t) A tss B
Ví dụ:
Chòng chành như nón không quai
Như thuyền không lái như ai không chồng
(Ca dao)
2. Bớt cơ sở so sánh: A tss B
Ví dụ:
Ai về ai ở mặc ai
So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công HoanSố hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên



14
định nghĩa như sau: “So sánh thường được hiểu là đưa một sự vật ra đối
chiếu về một mặt nào đó với một sự vật khác khác loại nhưng lại có đặc điểm
tương tự mà giác quan có thể nhận biết để hiểu sự vật đưa ra đó dễ dàng
hơn”. Như vậy, theo Nguyễn Thế Lịch điều kiện để một so sánh tu từ tồn tại
là hai sự vật đem ra đối chiếu phải khác loại. Tác giả cũng đưa ra một cấu trúc
so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố giống như Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái
Hoà ở trên, cụ thể là:
- Yếu tố cần so sánh hay yếu tố được/bị so sánh (YTĐ/BSS): (A)
- Yếu tố biểu thị thuộc tính của sự vật, nêu rõ phương diện so sánh
(YTPDSS): (t)
- Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh (YTQH): (tss)
- Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS); (B)
Do đó mô hình cấu trúc so sánh (CTSS) hoàn chỉnh sẽ là:
1. YTĐ/BSS
2.YTPD
3.YTQH
4. YTSS
Mặt
đẹp
như
hoa
Đặc điểm của từng yếu tố trong mô hình trên được tác giả Nguyễn Thế
Lịch trình bày cụ thể như sau:
+ Đối với yếu tố được so sánh, về nguyên tắc bất luận là sự vật, hiện
tượng gì cũng có thể đem ra so sánh. Chẳng hạn:
- So sánh người, sự vật:
Em như cây quế giữa rừng
Thơm tho ai biết, ngát lừng ai hay

Con mắt em liếc như là dao cau.
(Ca dao)
So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công HoanSố hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên

16
Chú ý rằng: từ là trong CTSS có giá trị tương đương từ như, nhưng là đem
đến cho cấu trúc này sắc thái khẳng định khác với như mang sắc thái giả
định.

Ví dụ:
“Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Toả nắng xuống lòng sông mát lấp loáng”.
(Tế Hanh, Nhớ con sông quê hương)
Các cặp từ có quan hệ hô ứng bao nhiêu…bấy nhiêu.
Ví dụ:
Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu
(Ca dao)
+ Yếu tố cuối cùng của CTSS là YTSS. Đây được xem là yếu tố quan
trọng nhất của CTSS vì nó là chuẩn của so sánh (mà không có chuẩn thì
không thành so sánh). Chính vì thế nó là yếu tố không thể thiếu trong CTSS.
Sự xuất hiện của yếu tố này là kết quả của quá trình quan sát, liên tưởng, lựa
chọn và thông qua quá trình đó nó có thể bộc lộ ra sắc thái tâm lí, tư duy, văn
hóa của dân tộc.

Như diều gặp gió
Như nước vỡ bờ
(Thành ngữ)
Với kiểu cấu trúc so sánh này, gánh nặng ngữ nghĩa dồn cả vào yếu tố
đem ra làm chuẩn để so sánh. Vì thế, yếu tố này thường là phải do một
ngữ (chứ không phải một từ) thể hiện.
Tác giả Nguyễn Hữu Đạt trong giáo trình “Phong cách học tiếng Việt
hiện đại” đã định nghĩa như sau về so sánh: “So sánh là đặt hai hay nhiều sự
So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công HoanSố hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên

18
vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra các sự giống nhau
và khác biệt giữa chúng” [19, tr294]. Theo tác giả, về thực chất, phép so sánh
tu từ là dùng thuộc tính hay tình trạng của sự vật hay hiện tượng này giải
thích cho thuộc tính, tình trạng của sự vật khác.
Tác giả đưa ra mô hình khái quát của phép so sánh là:
A - X - B
trong đó:
- A: Cái chưa biết được đem ra so sánh
- B: Cái đã biết được đem ra để so sánh
- X: Phương tiện so sánh được biểu thị bằng các từ: như, giống như, là,
như là, tựa hồ, bằng, hơn, kém…
Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, X có thể có mặt hoặc vắng mặt. Khi X
vắng mặt người ta có thể nhận diện được A và B nhờ vào dấu phẩy ngăn cách

A1, A2…- B1, B2
Ví dụ:
Bác ngồi đó lớn mênh mông
Trời cao biển rộng, ruộng đồng nước non
(Tố Hữu, Sáng tháng Năm)
+ So sánh có từ so sánh
Mô hình: A – X – B
Biến thể: A – X – B1, B2
A1, B1 – X – B
A1, B1 – X – B1, B2
So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công HoanSố hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên

20
Ví dụ:
Lũ Đế quốc như bầy quỷ sống
Nướng người ăn, nhảy nhót, reo cười
(Tố Hữu, Theo chân Bác)
Đáng chú ý là quan niệm của tác giả Cù Đình Tú về phép so sánh. Nếu
như các tác giả đã dẫn trên nói chung đều xếp phép so sánh vào nhóm các
biện pháp tu từ ngữ nghĩa, thì riêng Cù Đình Tú lại xếp nó vào nhóm của
những phương thức chuyển nghĩa là ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá và một phần
nào đó trong các phương thức tượng trưng, liên dụ, phúng dụ. Mặc dù tác giả
cũng khẳng định rằng về thực chất thì so sánh không phải là chuyển nghĩa,
song theo tác giả thì nó lại là cơ sở của nhiều phương thức chuyển nghĩa về so

cầu về mặt nội dung:
1. Tài liệu so sánh là những đối tượng quen thuộc và khác loại.
2. Phát hiện ra một cách chính xác nét cá biệt giống nhau giữa những
đối tượng khác loại.
Về cấu tạo của so sánh tu từ, theo tác giả cù Đình Tú, bao giờ nó cũng
phô bày hai vế: vế so sánh và vế được so sánh. Mỗi vế này có thể gồm một
hoặc nhiều đối tượng và gắn với nhau, tạo thành những kiểu hình thức so sánh
sau:
+ A như (tựa như, như là…) B
Ví dụ:
Đôi ta làm bạn thong dong
Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng.
(Ca dao)
+ A bao nhiêu B bấy nhiêu
Ví dụ:
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”
(Ca dao)
+ A là B
So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công HoanSố hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên

22
Ví dụ:
Em là con gái Bắc Giang (khẳng định)
Em như là con gái Bắc Giang (không khẳng định)


23
+ So sánh để miêu tả
Ví dụ:
Ánh nắng tháng năm rát như lửa chàm vào mặt
(Ngô Tất Tố)
+ So sánh để đánh giá
Ví dụ:
Thế địch như lửa, thế ta như nước
(Hồ Chí Minh)
+ So sánh để biểu lộ tình cảm
Ví dụ:
Chúng ta hãy phấn đấu như mùa xuân, với nhiệt tình như ánh nắng
(Hồ Chí Minh)
+ So sánh liên tiếp
Ví dụ:
Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu.
(Ca dao)
+ So sánh phát triển
Ví dụ:
Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày
(Ca dao)
+ So sánh hơn - kém
Ví dụ:
Ngọc nào bằng tay em
(Tố Hữu)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status