I. Tên sáng kiến:
“Một số biện pháp chỉ đạo công tác tự đánh giá chất lượng giáo dục ở
trường THCS Lê Quý Đôn huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình "
II. Nhóm tác giả:
Họ và tên: Phạm Thị Thu Hoài
Chức vụ: Hiệu trưởng
Trình độ : Đại học Sư phạm
Đơn vị công tác:
Trường THCS Lê Quý Đôn thị trấn Yên Ninh, huyện Yên
Khánh, tỉnh Ninh Bình
Điện thoại: 0918588800
Họ và tên: Nguyễn Thị Phương Thúy
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Trình độ : Đại học Sư phạm
Đơn vị công tác: Trường THCS Lê Quý Đôn thị trấn Yên Ninh,
huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình
Điện thoại: 0916884867
III. Nội dung sáng kiến
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đều biết, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện
nay, giáo dục luôn được xác định là “ quốc sách hàng đầu”, giữ một vị trí quan
trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp
phần xây dựng một nền kinh tế tri thức cho đất nước.
Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta chỉ rõ: “Phát
triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất
chất lượng giáo dục và cấp giấy chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục.
Trong đó, tự đánh giá là khâu đầu tiên và rất quan trọng trong công tác quản lý
chất lượng. Đó là quá trình nhà trường căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá chất
lượng giáo dục tự kiểm tra, tự xem xét, chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu của từng
tiêu chí, xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng và các biện pháp thực hiện để
đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng.
Tự đánh giá thể hiện tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của nhà trường
trong toàn bộ hoạt động giáo dục theo chức năng, nhiệm vụ được giao; đòi hỏi
tính khách quan, trung thực và công khai. Các giải thích, nhận định, kết luận đưa
ra trong quá trình tự đánh giá phải dựa trên các thông tin, minh chứng cụ thể, rõ
ràng, đảm bảo độ tin cậy. Báo cáo tự đánh giá phải bao quát đầy đủ các tiêu chí
trong tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nhà trường. Đây là công việc rất mới nên
các cơ sở giáo dục phổ thông vẫn gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc trong
việc tổ chức triển khai tự đánh giá như: việc mô tả hiện trạng theo các tiêu
chuẩn, tiêu chí chưa sát với nội hàm của chỉ số; chưa xác định được chính xác
điểm mạnh, điểm yếu của nhà trường theo các tiêu chí để từ đó xây dựng kế
hoạch cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục phù hợp.
Là những người cán bộ quản lý trực tiếp ở trường THCS, bản thân chúng tôi
cũng rất băn khoăn và trăn trở là làm thế nào để tìm kiếm được những biện pháp phù
hợp, khả thi, khắc phục những khó khăn, hạn chế, cùng với các trường THCS phấn
đấu hoàn thành tốt công tác tự đánh giá, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Một
số biện pháp chỉ đạo công tác tự đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục ở
3
trường THCS Lê Quý Đôn huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình” để trao đổi
cùng đồng nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc nghiên cứu lý luận về quản lý và KĐCLGD cũng như
5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: sử dụng phương pháp phân
tích, tổng hợp, so sánh…các tài liệu khoa học, các văn kiện của Đảng và pháp
luật của Nhà nước, các văn bản quy định của ngành có liên quan về quản lý chất
lượng và KĐCLGD trường THCS.
5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra, khảo sát thực tế bằng các phiếu hỏi, thu thập thông tin, xử lý
số liệu. Phỏng vấn trực tiếp, tham khảo ý kiến chuyên gia.
- Nghiên cứu thực tế, tổng kết kinh nghiệm các trường THCS đã hoàn
thành công tác tự đánh giá và đã dược đánh giá ngoài ở trên địa bàn huyện Yên
Khánh.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đề tài tập trung nghiên cứu công tác tự đánh giá theo tiêu chuẩn đánh
giá chất lượng của trường THCS Lê Quý Đôn thị trấn Yên Ninh.
- Thời gian 9 tháng: từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015.
7. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:
Đề tài góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận của công tác tự đánh giá
kiểm định chất lượng giáo dục và đúc rút kinh nghiệm về cách thức lưu trữ hồ
sơ thông tin minh chứng, hoàn thiện bộ hồ sơ quản lý của nhà trường, sắp xếp
bộ hồ sơ khoa học dễ tìm, dễ kiếm, góp phần phục vụ cho công tác tự đánh giá
chất lượng giáo dục của nhà trường THCS từng năm học.
Mỗi cá nhân cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường được nâng
cao nghiệp vụ xử lý văn bản, bảo quản lưu trữ hồ sơ và nghiệp vụ soạn thảo văn
bản hành chính đúng quy định.
Bản thân chúng tôi là những người quản lý sẽ tự nâng cao năng lực quản
lý chất lượng giáo dục của nhà trường trong thời gian qua và tự đánh giá để cải
tiến chất lượng quản lý các hoạt động giáo dục trong thời gian tới nhằm tạo hiệu
quả chất lượng giáo dục cao nhất.
5
hưởng của nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố chất lượng của chính nhà trường như:
chất lượng hoạt động quản lý, chất lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang
thiết bị trường học và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường, có thể
khái quát các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục gồm:
- Hoạt động tổ chức và quản lý của nhà trường.
- Đội ngũ cán bộ, giáo viên.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
- Hoạt động giữa nhà trường với gia đình, xã hội.
- Kết quả học tập, rèn luyện của học sinh.
7
Nhiều quốc gia trong quá trình đánh giá các nhà trường đã thực hiện công
tác KĐCLGD để xác nhận và công nhận chất lượng dạy và học của các nhà
trường như: Nhật Bản, Hàn Quốc,... Các hiệp hội KĐCLGD ở các nước này đã
xây dựng bộ tiêu chuẩn, tiêu chí để công nhận mức độ đạt chuẩn của các nhà
trường so với chuẩn quy định.
Ở nước ta cũng đã có nhiều học giả nghiên cứu và đề cập đến KĐCLGD
giáo dục đại học như: Nguyễn Đức Chính với “Kiểm định chất lượng trong giáo
dục đại học” [7]; Đặng Bá Lãm với “Kiểm tra và đánh giá trong dạy - học đại
học” [12],...
Việc xây dựng một cơ quan chịu trách nhiệm về KĐCLGD đã được Bộ
GD&ĐT quan tâm, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục đã được
thành lập theo Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003 của Chính phủ. Sự
ra đời của Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục đánh dấu một thời kỳ
mới của sự phát triển trong hệ thống đảm bảo chất lượng và kiểm định chất
lượng ở Việt Nam.
Ngày 12/5/2009, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã có Thông tư số 12/2009/TTBGDĐT về việc ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục
trường THCS với 7 tiêu chuẩn và 47 tiêu chí bao hàm các hoạt động của trường
CLGD”.
Đánh giá ngoài là hoạt động đánh giá của các lực lượng bên ngoài nhà
trường, có thể là của cấp trên, đồng cấp, cha mẹ học sinh, dư luận xã hội và quan
trọng nhất là của đoàn đánh giá ngoài.
1.2.2. Chất lượng
Chất lượng là khái niệm phức tạp, đến hiện nay có nhiều các tiếp cận khác
nhau khi đưa ra các định nghĩa về chất lượng.
Định nghĩa chung nhất: Chất lượng là sự tuân thủ chuẩn quy định, là sự
phù hợp của sản phẩm so với mục đích đã đề ra.
1.2.3. Chất lượng giáo dục
Khái niệm CLGD được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào
chủ thể đánh giá: người học, người dạy, cha mẹ học sinh, các cơ quan quản lý,
vào từng cấp học, bậc học, ngành học, thời điểm đánh giá và tình trạng phát
triển kinh tế xã hội ở mỗi giai đoạn cụ thể của đất nước.
9
Nhiều quốc gia sử dụng khái niệm “CLGD là sự đáp ứng với mục tiêu
giáo dục”. Đối với Việt Nam, theo Quy định về tiêu chuẩn đánh giá CLGD
trường THCS: “CLGD trường THCS là sự đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu giáo
dục phổ thông và giáo dục trung học cơ sở được quy định tại Luật Giáo dục”.
1.2.4. Quản lý
Quản lý là một dạng lao động xã hội, gắn liền và phát triển cùng với lịch
sử phát triển của nhân loại. Quản lý là lao động đặc biệt, điều khiển các hoạt
động lao động, nó có tính khoa học và nghệ thuật cao đồng thời nó là sản phẩm
có tính lịch sử, tính đặc thù. Quản lý là cách thức tác động có tổ chức, có mục
đích của chủ thể quản lý lên chủ thể bị quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ
chức, nhân lực, tài lực và vật lực, bằng năng lực phẩm chất, uy tín của người
quảnlý (cơ quan quản lý) nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ
hội của tổ chức nhằm đạt được mục đích, thỏa mãn mục tiêu quản lý.
kiểm soát chất lượng, bảo đảm chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn
khổ hệ thống chất lượng”.
Quản lý chất lượng tuân thủ các nguyên tắc:
- Nguyên tắc đồng bộ
- Nguyên tắc toàn diện
- Nguyên tắc kiểm tra, đánh giá
- Dựa trên cơ sở pháp lý
“Quản lý CLGD về thực chất là quá trình định hướng và kiểm soát chất
lượng quá trình giáo dục, với những tác động liên tục nhằm duy trì và nâng cao
chất lượng hoạt động của toàn hệ thống giáo dục quốc dân và từng nhà trường”
1.2.7. Quản lý trường THCS
Trường học là một hệ thống xã hội mà ở đó tiến hành quá trình giáo dục,
đào tạo.
Quản lý trường học bao gồm quản lý các quan hệ giữa nhà trường với xã
hội và quản lý hành chính trong nhà trường (quản lý bên trong hệ thống).
Cấp THCS thuộc bậc học trung học, là cấp học nối liền bậc TH và cấp
THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trường THCS có từ lớp 6 đến lớp 9,
trẻ em bước vào lớp 6 THCS là 11 tuổi, trường THCS gắn liền với địa bàn dân
cư xã, phường, thị trấn hoặc liên xã, là trung tâm văn hoá của địa phương,chịu
11
sự quản lý trực tiếp của phòng GD&ĐT, sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng,chính
quyền xã.
Hiệu trưởng nhà trường là người chịu trách nhiệm cao nhất về quản lý
trường THCS, giúp việc cho hiệu trưởng có một số phó hiệu trưởng. Hiệu
trưởng, phó hiệu trưởng do phòng GD&ĐT đề nghị UBND huyện bổ nhiệm.
Hiệu trưởng là thủ trưởng và có thẩm quyền cao nhất về chuyên môn và hành
chính trong nhà trường, chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên về trên
đào tạo (đầu ra) và các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo theo các chuẩn
mực được quy định, là hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục sẽ đạt tiêu
chuẩn, tiêu chí đề ra và tránh các sai sót trong quá trình giáo dục. Hoạt động chủ
yếu của KĐCLGD nhằm công nhận các cơ sở giáo dục đã đạt các chuẩn mực
quy định.
KĐCLGD là hoạt động đánh giá chất lượng giáo dục nhằm xác định mức
độ đạt mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục của nhà trường, góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục. Đây chính là biện pháp quản lý nhà nước đối với nhà
trường làm cho nhà trường chuẩn hóa để đạt chất lượng quốc gia.
1.3.2. Kiểm định chất lượng giáo dục trường THCS
- Theo Luật số 38/2005/QH 11 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 từ ngày 05/05 đến ngày 14/06/2005 đã
thông qua Luật Giáo dục và Điều 17 KĐCLGD có nêu:
“KĐCLGD là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục
tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và CSGD khác.Việc
KĐCLGD được thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nước và đối với từng cơ sở
giáo dục. Kết quả KĐCLGD được công bố công khai để xã hội biết và giám
sát”.
Bộ trưởng Bộ GD-ĐT có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện KĐCLGD:
- “ Chỉ thị số 46/2008/CT-BGDĐT ngày 05/08/2008 của Bộ GD-ĐT về
việc tăng cường công tác đánh giá và KĐCLGD: Xác định năm học 2009- 2010
là “Năm học đánh giá CLGD”.
- Quy định về quy trình và chu kỳ KĐCLGD CSGD phổ thông ban hành
kèm theo Quyết định số 83/2008/QĐ-BGDĐT ngày 31/12/2008 của Bộ
GD&ĐT đã nêu rõ:
13
“ Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông” là hoạt động đánh giá
3
Và Thông tư số 42/2012/TT- BGDĐT ngày 23/11/2012 của Bộ trưởng
Bộ GD-ĐT đã Quy định cụ thể như sau:
Điều 20. Quy trình kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục
Quy trình kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục gồm các bước sau:
1. Tự đánh giá của cơ sở giáo dục.
2. Đăng ký đánh giá ngoài của cơ sở giáo dục.
3. Đánh giá ngoài cơ sở giáo dục.
4. Công nhận cơ sở giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục và cấp
giấy chứng nhận chất lượng giáo dục.
Điều 21. Chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục
1. Chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục là 5 năm, tính từ
thời gian ký quyết định cấp giấy chứng nhận chất lượng giáo dục.
2. Cơ sở giáo dục được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục cấp
độ 1 và cấp độ 2 theo Điều 31 của Quy định này, sau ít nhất 2 năm học được
thực hiện tự đánh giá, đăng ký đánh giá ngoài để đạt cấp độ cao hơn.
Điều 22. Điều kiện thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục của cơ sở
giáo dục
Cơ sở giáo dục được thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục khi có đủ
các điều kiện sau:
1. Có đủ các khối lớp học.
2. Có ít nhất một khoá học sinh đã hoàn thành chương trình giáo dục phổ
thông, hoặc ít nhất một khoá học viên đã hoàn thành chương trình giáo dục
thường xuyên để lấy văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của
tất cả các khối lớp học có tại cơ sở giáo dục.
Điều 23. Quy trình tự đánh giá
Quy trình tự đánh giá của cơ sở giáo dục gồm các bước sau:
1. Thành lập hội đồng tự đánh giá.
cầu; công bố báo cáo tự đánh giá; lưu trữ cơ sở dữ liệu về tự đánh giá của cơ sở
giáo dục;
b) Chủ tịch hội đồng chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động của hội
đồng, phân công nhiệm vụ cho từng thành viên; phê duyệt kế hoạch tự đánh giá;
thành lập nhóm thư ký và các nhóm công tác để triển khai hoạt động tự đánh
16
giá; chỉ đạo quá trình thu thập, xử lý, phân tích minh chứng; hoàn thiện báo cáo
tự đánh giá; giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai tự đánh giá;
c) Phó chủ tịch hội đồng thực hiện các nhiệm vụ do chủ tịch hội đồng phân
công, điều hành hội đồng khi được chủ tịch hội đồng uỷ quyền;
d) Thư ký hội đồng, các uỷ viên hội đồng thực hiện công việc do chủ tịch
hội đồng phân công và chịu trách nhiệm về công việc được giao.
3. Hội đồng tự đánh giá được đề nghị hiệu trưởng (giám đốc) thuê chuyên
gia tư vấn để giúp hội đồng triển khai tự đánh giá nếu cần thiết. Chuyên gia tư
vấn phải có hiểu biết sâu về kiểm định chất lượng giáo dục và các kỹ thuật tự
đánh giá.
Qua việc nghiên cứu ở trên, chúng tôi có thể rút ra một số nội dung cơ bản
sau:
1. CLGD là có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà trường, trong đó có
trường THCS, là mục tiêu phấn đấu không mệt mỏi của thầy và trò.
2. KĐCLGD là con đường có hiệu quả trong việc tạo động lực cho các
trường học đảm bảoCLGD của chính mình. KĐCLGD không chỉ xác định cho
các trường định hướng chất lượng mà còn chỉ rõ con đường để đạt chất lượng đó
như thế nào.
3. Tự đánh giá là một khâu quan trọng và giữ vai trò then chốt của quá
trình thực hiện KĐCLGD, nó liên quan đến toàn bộ công tác quản lý CLGD, là
biện pháp để nâng cao CLGD nhà trường.
trường liên tục đạt danh hiệu tập thể lao động tiên tiến, tiên tiến xuất sắc được
Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh Ninh Bình, Sở GD&ĐT Ninh
Bình, UBND huyện, Phòng GD&ĐT huyện Yên Khánh tặng cờ thi đua, Bằng
khen và Giấy khen.
Đặc biệt trong 03 năm học vừa qua, thực hiện lời dạy của Bác: “Dù khó
khăn đến đâu cũng phải thi đua Dạy tốt - Học tốt”, thầy và trò trường THCS Lê
Quý Đôn đã không ngừng phấn đấu, nâng cao chất lượng dạy và học và đã đạt
được nhiều kết quả đáng khích lệ, thể hiện ở bảng vàng thành tích trong các mặt
18
hoạt động. Năm 2013, trường được SGD&ĐT Ninh Bình công nhận danh hiệu
trường học thân thiện, học sinh tích cực loại xuất sắc. Năm 2014, trường được
UBND tỉnh Ninh Bình công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia. Tỷ lệ học sinh xếp
loại hạnh kiểm khá, tốt hằng năm đều đạt trên 99%. Tỷ lệ học sinh xếp loại học
lực khá, giỏi đạt từ 60% trở lên, nhiều học sinh đạt giải cao trong các kì thi học
sinh giỏi hoặc các cuộc thi giao lưu cấp huyện, cấp tỉnh và các cuộc thi khác do
các cấp tổ chức.
2.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên của
trường THCS Lê Quý Đôn, thị trấn Yên Ninh, huyện Yên Khánh trong 05
năm gần đây:
2.2.1. Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
Bảng 01: Thống kê đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên của
trường trong 05 năm
Năm học
Năm học
Năm học
3,00
2,77
0,069
0,078
0,098
1,149
1,028
16
19
20
15
15
03
02
04
2009-2010 2010-2011
2011-2012
2012-2013
2013-
19
2014
Tổng số
- Khối lớp 6
- Khối lớp 7
- Khối lớp 8
- Khối lớp 9
Nữ
Dân tộc
Đối tượng chính
403
84
90
110
119
194
0
357
sách
08
04
03
01
01
Khuyết tật
09
11
05
04
04
Tuyển mới
84
85
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
tốt nghiệp
119
106
85
71
79
- Nữ
67
46
41
Nội trú
Tỷ lệ bình quân
học sinh/lớp
Tỷ lệ đi học
đúng độ tuổi
- Nữ
- Dân tộc
Tổng số học sinh
Tổng số học sinh
giỏi cấp tỉnh
20
Tổng số học sinh
giỏi quốc gia
0
0
0
0
0
100%
2011-2012
2012-2013
2013-2014
Khối lớp 6
03
03
02
02
Khối lớp 7
03
03
03
02
Khối lớp 8
03
03
03
03
Khối lớp 9
03
03
03
03
Cộng
12
12
2013-
2010
2011
2012
2013
2014
Tổng số
15
15
15
15
Phòng học kiên cố
0
12
12
12
Phòng học bán kiên cố
0
0
0
0
Phòng học tạm
15
03
chức tập huấn, chỉ đạo hoạt động đánh giá CLGD kịp thời.
- Trước khi tổ chức KĐCLGD, trường đã hoàn thành việc xây dựng
CSVC đạt chuẩn Quốc gia và đã được cấp bằng công nhận trường đạt chuẩn
Quốc gia bậc THCS (04/2014), CSVC nhà trường qua đó đã được nâng cấp một
bước, các loại hồ sơ chuẩn bị cho việc kiểm tra chuẩn Quốc gia đó cũng đều là
những loại hồ sơ cần thiết, quan trọng đáp ứng một phần cho KĐCLGD lần này.
- Đa số đội ngũ cán bộ quản lý, GV, NV có sự đoàn kết nhất trí, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và nhất là các thành viên Hội đồng tự đánh
giá có tinh thần trách nhiệm cao, biết phân tích, tổng hợp, đánh giá khách quan
CLGD của nhà trường.
- Hội đồng tự đánh giá của trường đã có Kế hoạch tự đánh giá một cách
cụ thể như: Phân công phân nhiệm từng thành viên, chi phí cho các hoạt động tự
đánh giá, CSVC phục vụ tự đánh giá, dự kiến thông tin minh chứng cần thu
thập, thời gian biểu hoạt động tự đánh giá . . .
2.3.2 Những khó khăn
- Khối lượng hồ sơ, công việc, số liệu cần tập hợp đánh giá chất lượng
trong thời gian dài đến 5 năm, trong khi vừa phải thực hiện kế hoạch tự đánh
giá, chuẩn bị cho việc KĐCL của cấp trên, trường đồng thời phải hoàn thành
công việc quản lý, giảng dạy thường xuyên đòi hỏi toàn trường bỏ ra nhiều công
sức, tranh thủ thời gian mới có thể hoàn thành cùng một lúc. Một số loại hồ sơ
liên quan từ nhiều năm trước đây (khi chưa có chủ trương KĐCLGD) vì nhiều
lý do mà còn nằm rải rác trong cá nhân GV, các tổ chức trong nhà trường không
thể ngày một, ngày hai mà tập hợp được thành hệ thống, đầy đủ theo các yêu
cầu của các tiêu chuẩn đề ra. Quy trình thực hiện việc tự đánh giá với khối
lượng, số lượng hồ sơ văn bản, văn kiện báo cáo cần tập hợp rất nhiều, theo yêu
22
cầu rất cao, quy định chặt chẽ, đòi hỏi nhà trường, đội ngũ CB, GV, NV phải
xem xét, thực hiện, xử lý, đánh giá, trình bày tiêu tốn rất nhiều công sức, thời
tuyền, nâng cao nhận thức về chủ trương, sự cần thiết và mục tiêu thực hiện
KĐCLGD, thống nhất nhận thức trong toàn trường, chuyển nhận thức thành
quyết tâm thực hiện.
Trường đã tham mưu với các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, phối
hợp với các ban, ngành trong địa phương cùng tham gia phổ biến, tuyên truyền
về mục tiêu, ý nghĩa của việc thực hiện công tác KĐCLGD ở nhà trường phổ
thông.
2.4.2. Đánh giá chung việc thực hiện công tác tự đánh giá ở trường THCS
Lê Quý Đôn:
Công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động tự đánh giá của nhà trường đúng
theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT hướng dẫn chi tiết,
tổ chức tập huấn cụ thể cho các tổ, nhóm công tác phù hợp với thực tiễn nhà
trường .
Tuy nhiên chất lượng, hiệu quả công tác tự đánh giá của nhà trường chưa
đồng đều, vẫn còn một số ít các tổ nhóm có kết quả thực hiện chưa đáp ứng
những yêu cầu đặt ra.
* Ưu điểm:
- Các tổ, nhóm công tác của nhà trường cơ bản đã nhận thức đầy đủ về ý
nghĩa của công tác tự đánh giá.
- CBQL, GV, NV nhà trường, các thành viên hội đồng tự đánh giá cơ bản
nắm được kỹ thuật tự đánh giá, có ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện
nhiệm vụ tự đánh giá.
- Nhiều nhóm công tác đã thực hiện khá tốt, hoàn thành các công việc có
chất lượng, đảm bảo tiến độ.
* Những mặt còn hạn chế, tồn tại:
- Việc xây dựng kế hoạch tự đánh giá, tiến độ thực hiện các nội dung công
việc trong quy trình tự đánh giá chưa được tốt do phân công nhiệm vụ cho các
thành viên chưa sát với năng lực thực hiện; phân bổ thời gian cho các nội dung
công việc chưa hợp lý.
tiễn; công tác lưu trữ thiếu khoa học, thất lạc nhiều minh chứng…
Công tác chỉ đạo còn có những bất cập: trường có kế hoạch nhằm định ra lộ
trình để trường đạt tiêu chuẩn CLGD vào năm 2015 nhưng chưa có quyết tâm
cao do bị những khó khăn chi phối.
25