Hoạt động ngữ pháp ngữ nghĩa của hai từ hết và còn trong tiếng việt hiện đại (KL00976) - Pdf 33

Khoá luận tốt nghiệp

SV: Lê Thị La - K29B.Văn

Lời cảm ơn

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô giáo TS. Trần Kim Phượng, người đã trực tiếp giảng dạy và tận
tình hướng dẫn em, giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.
Nhân dịp này em cũng xin được cảm ơn thầy cô trong tổ bộ
môn Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn đã luôn động viên giúp đỡ em.

Hà Nội, tháng 5 năm 2007
Sinh viên

Lê Thị La

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trang: 1


Khoá luận tốt nghiệp

SV: Lê Thị La - K29B.Văn

Lời cam đoan

Trong quá trình làm Luận văn tôi có tham khảo một số nghiên cứu khoa
học của các nhà nghiên cứu với thái độ trân trọng và biết ơn.
Tôi xin cam đoan những kết quả thu được trong khoá luận này chưa
được công bố hay sử dụng trong bất kì khoá luận và công trình nghiên cứu


: Trợ từ

PT

: Phó từ

KT

: Kết từ

QHT

: Quan hệ từ

ST

: Số từ

S

: Chủ ngữ

BN

: Bổ ngữ

PTP Đ

: Phó từ phủ định

điểm phức tạp của loại hình ngôn ngữ này đã đến tính phức tạp trong việc
nghiên cứu và nắm bắt hoạt động ngữ pháp của từ. Do đó lĩnh vực này thu hút
được rất nhiều sự quan tâm của những nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Nhưng cho
dù vậy, vốn từ tiếng Việt vẫn là một kho từ vựng vô cùng phong phú. Nó mở
ra không ít những lối ngỏ thú vị cho những người đi sau muốn tìm hiểu vốn từ
này. Từ Hết và Còn với hoạt động ngữ pháp, ngữ nghĩa của nó là một trong
những lối ngỏ ngư thế.
- Trong rất nhiều từ còn chưa được nghiên cứu như một công trình khoa
học, chúng tôi chọn từ Hết và còn bởi những lý do sau.
+ Trong Tiếng việt Hết và còn là hai từ có phạm vi hoạt động
tương đối, tần số sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau rất cao và linh hoạt.
Đặc biệt mối quan hệ nội bộ giữa hai từ cũng khá phong phú và mang nhiều
điều thú vị. Do đó, việc nghiên cứu tìm hiểu hoạt động ngữ pháp của chúng là
cần thiết để đưa ra các kết luận về những đặc tính từ loại và đặc điểm ngữ
dụng.
+ Trong giới nghiên cứu ngôn ngữ thì chưa có một công trình khoa học
riêng biệt nào tìm hiểu vấn đề này với độ sâu xứng đáng.
+ Đề tài này là thực hiện là điều kiện để người viết có những kiến giải
sâu sắc hơn về hoạt động ngữ pháp của Hếtvà còn. Trên cơ sở đó có
một cái nhìn khái quát hơn về bức tranh từ loại tiếng Việt, nắm vững hiện
tượng chuyển di từ loại cũng như hiện tượng đồng âm của các từ trong Tiếng
Việt.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trang: 4


Khoá luận tốt nghiệp



Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trang: 5


Khoá luận tốt nghiệp

SV: Lê Thị La - K29B.Văn

Tuy nhiên cũng chưa có một công trình nào miêu tả cụ thể hoạt động
của động từ Hết trên cơ sở tổng hợp ngữ liệu cụ thể.
2.1.2. hết - Phó từ
Phó từ Hết (Dùng phụ ttrước động từ, tính từ) là Từ biểu thị ý kết
thúc, không tiếp tục, tiếp diễn, tồn tại của một hoạt động, trạng thái, tính chất.
Trời hết mưa. Hết giận. Nắn lại cho hết cong.
(Trích 434 từ điển Tiếng việt NXB Đ N, TTT Đ - 2004).
Trong một số tài liệu Hết được xếp vào nhóm phó từ chỉ ý kết thúc
hoặc hoàn thành.
Hầu hết Hết Phó từ rất ít được quan tâm và chưa được nghiên cứu
ít các tài liệu chú ý đề cập phân loại nó.
2.1.3. Hết trợ từ
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học có viết: Hết là trợ từ (dùng
ở cuối câu hoặc cuối phần câu có ý phủ định). Từ biểu thị ý nhấn mạnh về
phạm vi không hạn chế của điều vừa phủ định. Không thấy gì nữa hết. Chẳng
đi đâu hết. Không cần gì hết.
- Hết còn được một số nhà ngôn ngữ xếp vào nhóm Trợ từ thể hiện
thái độ dứt khoát: đâu, gì sất, hết
ở vai trò trợ từ Hết cũng chưa dược quan tâm thấu đáo. Lí do có
thể do tính khái quát của các công trình nghiên cứu, hoặc cũng có thể do lí do

PVA

(A: sự vật tồn tại.
P: thành phần chỉ thời gian, vị trí, nơi chốn.
V: Động từ tồn tại)

và ông lấy VD:

- Trong bút còn mực.
P

V

A

Trong từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học các nhà ngôn ngữ
cũng đồng nhất ý kiến với các nhà ngôn ngữ trên khi đưa ra cách lí giải như
sau: Còn - đg. Tiếp tục tồn tại. VD: kẻ còn, người mất. Còn một tuần lễ
nữa là đến tết. Bệnh mười phần còn ba.
Tiếp tục có, không phải đã hết cả hoặc mất đi. VD: Nó
còn tiền; Anh ta còn mẹ gì.

[TĐTV-(tr.200)].

Tuy nhiên hoạt động này của từ còn mới dừng lại ở việc phân loại
chứ chưa miêu tả một cách cụ thể rõ nét.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trang: 7

hệ đối chiếu tương phản, đồng thời ông còn xét Còn trong vai trò cặp
quan hệ từ: Thà rằng còn hơn chỉ ý quan hệ loại trừ.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trang: 8


Khoá luận tốt nghiệp

SV: Lê Thị La - K29B.Văn

Kết luận: Còn và Hết là hai từ tuy đã được quân tâm nghiên cứu
nhưng còn ở mức độ hạn chế. Cả hai từ đều chưa có một công trình nào bao
quát tìm hiểu cả bốn dạng hoạt động của chúng. Những cơ sở lý thuyết về từ
loại, những kết quả tìm hiểu về hai từ và cả những vấn đề còn tồn tại xung
quanh việc nghiên cứu này là gợi ý và là cơ sở để chúng tôi thực hiện đề tài
này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Trong khoá luận này chúng tôi muốn vận dụng lý thuyết từ loại vào
việc tìm hiểu các dạng hoạt động của từ Hết và Còn đồng thời nhằm
phát hiện bản chất ngữ pháp, tính quy tắc ttrong hoạt động ngữ pháp và sự
hành chức của các từ hết và Còn. Từ đó hiểu sâu hơn về hệ thống từ
loại tiếng Việt, biết cách sử dụng các lớp từ cho đúng quy tắc, hợp phong cách
và chuẩn mực của tiếng Việt hiện đại.
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhirệm
vụ sau:
1. Tìm hiểu những vấn đề xung quanh việc phân định từ loại.
2. Xác dịnh các dạng hoạt đông ngữ pháp, ngữ nghĩa của hai từ hết

- Phương pháp thống kê, phân loại.
- Phương pháp tổng hợp.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp miêu tả
- Phương pháp phân tích
6. Bố cục của khoá luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần nội dung chính của khoá luận
gồm trang chia làm ba chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận chung
+ Chương 2: Miêu tả từ còn.
+ Chương 3: Miêu tả từ Hết So sánh giữa hai từ Hết và Còn.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trang: 10


Khoá luận tốt nghiệp

SV: Lê Thị La - K29B.Văn

B. Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận chung

1.1. Từ loại và sự phân định từ loại

1.1.1. Khái niệm về từ loại tiếng Việt
+ Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp. Đó là
những lớp từ có chung bản chất ngữ pháp, được thể hiện trong các đặc trưng

Hiện nay, các nhà nghiên cứu khi làm thao tác phân định từ loại đã
tương đối thống nhất với đặc trưng và coi là hai tiêu chí để phân định.
b. Tiêu chuẩn phân định từ loại Tiếng việt
Hai tiêu chuẩn phân định:
- Đặc trưng ý nghĩa khái quát.
- Đặc trưng về hình thức ngữ pháp
b.1. Trong đó, YNNP khái quát được hiểu là loại ý nghĩa phạm trù, có
mức độ khái quát cao, do đó là ý nghĩa chung cho các từ thuộc cùng một
nhóm cùng một loại từ.
Ví dụ: - Các từ: Sách, vở, nhà, xe có ý nghĩa khái quát chỉ thực thể
xếp vào các loại danh từ.
- Các từ: Đi, chạy, nhảy. có ý nghĩa khái quát chỉ hành động,
dạng âm động xếp vào loại động từ.
Như vậy, ý nghĩa ngữ pháp khái quát là căn cứ quan trọng hàng đầu để
phân định từ loại.
Tuy nhiên nếu chỉ căn cứ vào tiêu chí này việc phân định sẽ dẫn đến
chủ quan và thiếu tính hệ thống, tiêu chí thứ hai sẽ bổ sung và hoàn thiện cơ
sở cho việc phân định từ loại Tiếng việt.
b.2. Đặc điểm về hình thức ngữ pháp: Tiếng việt thuộc loại hình ngôn
ngữ đơn lập, từ không biến hình. Do đó, YNNP của từ không biểu thị ở bản
thân dạng thực từ mà thường biểu thị ra bên ngoài tức là trong khả năng kết
hợp các từ, trong hoạt đông ngữ pháp của chúng. Vì vậy khi nói đến phương
diện hình thức ngữ pháp của từ tiếng Việt, cần phải xem xét khả năng kết hợp
và chức năng cú pháp của từ.
Thứ nhất, khả năng kết hợp các từ có khả năng tham gia vào một kết
hợp có nghĩa. Xét khả năng kết hợp của từ là xét xem: Từ dó có khả năng làm
thành tố chính hay thành tố phụ của một cụm từ chính phụ, Xét xem từ đó có

Trường ĐHSP Hà Nội 2


+ Phụ từ (định từ, phó từ)
+ Kết từ (quan hệ từ)
+ Tiểu từ (trợ từ và tình thái từ)

Sơ đồ hệ thống phân loại từ tiếng Việt:

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trang: 13


Khoá luận tốt nghiệp

SV: Lê Thị La - K29B.Văn

Vốn từ tiếng việt

Thực từ

Thể từ

hư từ

vị từ

danh từ

động từ

Tính từ

Trợ từ

Tiểu từ

Thán từ

VD: Thực từ: Bàn, ghế; Ba, mẹ; tốt, xấu; đi, đứng
Hư từ: Rất, hơi, không, chẳng, chưa, đà, sẽ đang, vẫn, cứ, còn
1.2. Một số loại từ cơ bản:

1.2.1. Từ loại động từ
1.2.1.1. Khái niệm:
Động từ là những thực từ chỉ quá trình, các dạng vận động của sự vật,
thực thể có sự vật tính.
1.2.1.1. đặc điểm:
a. Về ý nghĩa ngữ pháp khái quát.
- Động từ là những thực từ chỉ các dạng vận động khác nhau của sự vật,
thực thể.
Quá trình vận động có thể là hoạt động, hành động (ý nghĩa hành
động); Có thể là trạng thái, cảm nghĩ (ý nghĩa trạng thái); có thể là quá trình
biến đổi hoặc là vận động ban phát

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trang: 14


Khoá luận tốt nghiệp

SV: Lê Thị La - K29B.Văn


1.2.1.3. Phận loại động từ
Động từ được chia làn hai lớp con: + Lớp động từ không độc lập.
+ Lớp động từ độc lập.
* Động từ không độc lập
- Động từ không độc lập là những động từ trống nghĩa biểu thị tình thái
vận động qúa trình nhưng tự thân chưa mang ý nghĩa trọn vẹn.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trang: 15


Khoá luận tốt nghiệp

SV: Lê Thị La - K29B.Văn

- Các tiểu loại: + Động từ tình thái.
+ Động từ quan hệ.
Trong đó còn được xếp vào loại động từ không độc lập, chỉ qua hệ
tồn tại, Hết cũng được xếp vào nhóm động từ này.
+ Động từ tồn tại biểu thị sự tồn tại, xuất hiện hoặc tiêu biến của một sự
vật, đối tượng.
Đặc điểm ngữ pháp: Nhóm động từ này đòi hỏi một bổ tố đi sau để nêu
rõ đối tượng sự vật tồn tại.
Nhóm động từ chỉ quan hệ tồn tại gồm: Còn, có, biến, mất, sinh ra
1.2.2. Từ loại phụ từ (phó từ)
1.2.2.1. Khái niệm
Phụ từ là những hư từ, phụ từ không có chức năng sở chỉ mà chỉ có chức
năng dẫn xuất, sở biểu về tình thái.

+ Phó từ: Các phụ từ đi kèm với động tính từ: Còn, vẫn, cứ, đã, sẽ.
Phó từ: Phó từ thường dùng kèm với thực từ. Chúng biểu thị ý nghĩa
quan hệ giữa các quá trình và đặc trưng với thực tại, biểu thị ý nghĩa về cách
thức nhận thức và phản ảnh
Đặc diểm: + Phó từ không có khả năng làm trung tâm ngữ nghĩa ngữ
pháp trong kết hợp thực từ. Rất ít phó từ có khả năng làm thành phần chính
trong câu. Phần lớn các phó từ có vị trí không dứt khoát, rõ dàng (có loại cô
định và di động).
* Phó từ được chia làm 11 nhóm nhỏ. Trong đó còn là phó từ chỉ ý
tiếp diễn đồng nhất; Hết là phó từ chỉ ý kết thúc hoặc hoàn thành.
- Phó từ chỉ ý tiếp diễn tương tự biểu thị quá trình đặc trưng hay kéo
đài, liên tục hoặc lặp lại, trên cơ sở đồng nhất. Chúng có khả năng kết hợp cả
đsộng từ và tính từ, bổ sung ý nghĩa cho các vị trí về ý kéo dài hoặc tiếp diễn.
Vị trí, chúng luôn đứng trước các vị từ. Các từ thuộc nhóm từ này là: cũng,
cùng, vẫn , còn , cứ Các từ này còn có khả năng kết hợp các yếu tố cùng
nhóm hoặc các lớp phó từ khác để cùng bổ sung ý nghĩa cho vị từ.
Ví dụ: Cũng vẫn cứ đang còn lo lắng về tình trạng sức khoẻ của bà ấy
(Tr 72 từ loại tiếng việt hiện đại Lê Biên)
- Phó từ chỉ ý kết thúc hoặc hoàn thành: biểu thị ý kết thúc không còn
tiếp tục, tiếp diễn, tồn tại của một hoạt động, trạng thái, tính chất. Các từ
thuộc nhóm này là: Xong, rồi, hết. Chúng kết hợp với cả động từ và tính từ. Vị

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trang: 17


Khoá luận tốt nghiệp

SV: Lê Thị La - K29B.Văn



Khoá luận tốt nghiệp

SV: Lê Thị La - K29B.Văn

1.2.4. Trợ từ:
1.2.4.1. Khái niệm:
Căn cứ vào chức năng tình thái từ biểu thị thì: trợ từ là những từ dùng
trong câu biểu thị ý nghĩa tình thái, bằng cách nhấn mạnh vào từ, kết hợp từ..
có nội dung phản ánh liên quan với thực tại mà người nói muốn lưu ý người
nghe
(NPTN Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung tr. 144)
1.2.4.2. Đặc điểm
- Trợ từ diễn đạt những mối quan hệ có tính chất bộ phận giữa người nói
với nội dung phát ngôn, với từng bộ phận của phát ngôn.
- Vị trí: Trợ từ thường không có vị trí cố định ở trong câu nhưng nó
thường tương ứng với chỗ ngừng hay những chỗ ngắt đoạn khi phát ngôn.
- Số lượng: Trợ từ có số lượng không lớn
- Phận loại: + Trợ từ có tác dụng nhấn mạnh
+ Trợ từ tình thái
* Vị trí của trợ từ: Trợ từ nhấn mạnh không có vị trí cố dịnh nhưng nó luôn
đứng trước bộ phận cần nhấn mạnh. Trợ từ tình thái thường không có vị trí cố
định trong câu, song ta có có thể xét một số vị trí của trợ từ sau:
+ Trợ từ đứng ở đầu hoặc giữa câu
Ví dụ: Ngay cả, ngay, cái, những, đích thịa, à, thế, đấy.
+ Trợ từ đứng ở cuối câu.
hết là trợ từ đứng ở cuối câu thể hiện thái độ dứt khoát: đâu, gì rất,
hết. (NPTV tr)


này còn trở thành một quan hệ từ.
2.2. Hoạt động ngữ pháp ngữ pháp của từ Còn

2.2.1. Động từ còn
2.2.1.1. ý nghĩa ngữ pháp khái quát
Các nhà ngôn ngữ đã thống kê còn là động từ với các ý nghĩa chỉ sự
tiếp tục và tồn tại và tiếp tục có, không phải đã hết cả hoặc mất đi.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trang: 20


Khoá luận tốt nghiệp

SV: Lê Thị La - K29B.Văn

Ví dụ: - Kẻ còn người mất
- Nó còn tiền
Và khi nghiên cứu sâu hơn về còn với vai trò là động từ, các tác giả
Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung đã xếp còn vào nhóm ĐT không độc
lập chỉ quan hệ tồn tại (xuất hiện tồn tại hoặc tiêu biến).
Ví dụ: Như anh đã biết đấy, em còn hai tay, anh Nhân còn hai chân, cả
hai chúng em phải dựa vào nhau mà sống

[4,95]

Như vậy còn mang ý nghĩa chỉ quan hệ tồn tại (có tính qúa trình)
giữa các thực thể, quá trình hay đặc trưng. Quá trình ở đây chưa đầy đủ, chưa
trọn vẹn. Sự tồn tại của sự vật hiện tượng được diễn tả có tính quá trình cho

hợp với các phụ từ (phó từ), các phó từ này vừa làm rõ ý của động từ còn
vừa tạo thêm sự khu biệt về thời gian (thì) ý nghĩa tồn tại mà còn mang
theo.
Ví dụ: 1. Chiếc ghế cắt tóc

không còn nữa

[ 17, 128]

[PT phủ định)
2. Nhưng anh ấy đã chẳng còn nữa [ 17, 148]
[ đã: phó từ thời gian
Chẳng: phó từ phủ định]
3. lúc tôi vẫn còn là một đứa học trò lêu têu[ 17,546]
(PT chỉ ý tiếp diễn thống nhất)
4. Chúng tôi vẫn còn mỗi đứa một nơi
- Nếu như các thành tố đi sau của DT xét về mặt chức vụ ngữ pháp là
những định ngữ thì các thành tố đi sau của ĐT xét về mặt chức vụ cú pháp là
những bổ ngữ. Về mặt cấu tạo, các bổ ngữ ấy có thể được cấu tạo là DT hoặc
cụm DT hoặc đại từ.
+ Bổ ngữ là danh từ
1. thì tôi giả tôi giả hai xu
Nhưng y làm gì còn xu! y cúi mặt nước mắt ròng ròng
(Đòn chồng Nam Cao)
3. Nó còn tiền, chúng tôi còn thời gian
+ Bổ ngữ là cụm danh từ
Ví dụ: 1.Trong nháy mắt, trước mắt tôi chỉ còn một khoảng phá nước
trống không

Trường ĐHSP Hà Nội 2

BN

Và đây chính là dấu hiệu để nhận diện động từ còn; còn chỉ là
động từ khi và chỉ khi đi sau nó là danh từ, cụm danh từ, đại từ.
* Một số kết hợp từ quen thuộc của động từ còn
Trong quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy có một kết hợp từ được sử
dụng rất thường xuyện cả trong văn chương và trong đời sống đó là kết hợp từ
chỉ còn
Chỉ là phó từ biểu thị phạm vi được hạn định không có gì thêm hoặc
không có gì, không có ai khác nữa.
Ví dụ:

1. Nó chỉ đọc truyện ngắn thôi
PT

DT

2. Chỉ còn anh và em
PT

Cụm từ đẳng lập

3. Chỉ còn 5 phút nữa là hết giờ
PT

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Số từ

Trang: 23

[ 17, 279]

Ta có thể khái quát mô hình như sau:
Khuôn hình 1: Chỉ còn + DT/CDT
Khuôn hình 2: Chỉ còn + Số từ
Chú ý: Khi :chỉ còn + ĐT/ TT thì còn lúc này giữ vai trò là phó
từ chứ không còn là động từ như kết hợp chúng ta vừa nêu.
Ví dụ: Nó chỉ còn thấy trước mặt toàn màu đen của đêm tối.
PT

2.2.1.3. Chức vụ cú pháp
Lê Biên trong Từ loại tiếng Việt hiện đại [Tr 29+ 30] đã chỉ ra rằng:
ở tiếng Việt chức vụ của từ ở trong câu có quan hệ mật thiết với khả năng kết
hợp của từ trong cấu trúc của ngữ. Về một mặt nào đó, chính khả năng kết hợp
của từ trong ngữ cùng với chức vụ của từ trong câu tiếng việt là thể hiện đặc
trưng phân bố về chức vụ, tạo thành một cơ sở chung là đặc trưng cú pháp của

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trang: 24


Khoá luận tốt nghiệp

SV: Lê Thị La - K29B.Văn

từ tiếng Việt là thể hiện đặc trưng phân bố về chức vụ, tạo thành một cơ sở
chung là đặc trưng cú pháp của từ tiếng Việt, khác với các ngôn ngữ Âu châu
Nếu chức năng phổ biên và thường trực của danh từ (ngữ danh từ) là
làm CN và BN (hơn 90% câu đơn tiếng Việt có CN là DT) thì chức năng phổ

b. Câu tồn tại
Còn trong mẫu câu tồn tại , thì ý tồn tại không nhằm thể hiện, làm rõ
sự tồn tại của thực thể được nêu ra ở phần BN (danh từ, cụm danh từ)
Kiểu câu:

Tr v B

=> Tr còn + DT/ cụm DT
BN

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trang: 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status