ĐIÈU TRA CÂY THUỐC ĐƯỢC NGƯỜI SÁN CHỈ s ử DỤNG ở
XÃ THANH LÂM, HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH
Pham Thanh Trườnu'
HDKH: Phạm Hà Thanh Tùng^
‘Lớp M1K63, Trường Đại học Dược Hà Nội
^Bộ môn Thực vật, Trường Đại học Dược Hà Nội
Từ khóa: điều tra; cây thuốc; Sản Chỉ; Thanh Lâm; tài nguyên; Sán Chay
Tóm tắt
Sản Chỉ là một trong những dân tộc di cư đến Việt Nam từ lâu đời, có nền
văn hoá đặc sắc tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu đặc biệt là tri thức sử dụng
cây thuốc chữa bệnh. Thanh Lâm là một xã của huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
là nơi cư trú của đông đảo cộng đồng người Sán Chỉ với tỷ lệ khoáng 57%. Mục
tiêu của nghiên cứu là điều tra lập danh sách các cây thuốc, khảo sát hoạt động
sử dụng cây thuốcchữa bệnh và bước đầu điều tra thị trường dược liệu trong xã.
Các phương pháp liệt kê tự do, điều tra theo tuyến và nhập cuộc quan sát và thảo
luận nhóm đã được sử dụng. Kết quả đã thu thập được 177 loài cây thuốc để
phòng và chữa trị 28 nhóm bệnh chứng. Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc của
đồng bào Sán Chỉ ở đây không những mang các giá trị chữa bệnh đơn thuần mà
còn cỏ giá trị kỉnh tế với các hoạt động thu mua dược liệu chủ yếu là Chè hoa
vàng (Camellia sp.), Tài lệch (Millettỉa speciorsa Champ.), Ba kích (Morỉnda
officinalis F.C.How), Kim ngân (Lonicera japónica Thunb.). Các mô hình trồng
dược liệu hàng hóa đãđược triển khai song chưa được nhiều hộ dân tham gia.
Nghiên cứu góp phần tư liệu hoả, bảo tồn tri thức sử dụng cây thuốc chữa bệnh
của dân tộc Sản Chỉ và định hướng đề xuất khai thác và phát triển bền vững
dược liệu trong xã.
Đặt vấn đề
Xã Thanh Lâm, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh với 95% diện tích là đất
lâm nghiệp là nơi cư trú của 6 dân tộc Sán Chỉ, Cao Lan, Dao, Tày, Kinh, Sán
Dìu. Trong đó người Sán Chỉ là đông nhất chiếm khoảng 57% và là cộng đồng có
tri thức sử dụng cây thuốc phong phú song chưa được nghiên cứu. Đe góp phần
vào công tác bảo tồn và phát triển vốn tri thức dân gian và nguồn tài nguyên cây
200
0
s
Bảng 1. Danh mục các nhóm bệnh và nhóm cây thuốc có số loài nhiều nhất
n
Nhóm bệnh/Triệu
chÚTig và nhóm cây
thuốc chữa bệnh
1.
2.
3.
Bệnh ngoài da và ung
nhọt
Bệnh về đường tiêu
hóa
Bệnh cơ xương khóp,
thần kinh
Tần
số
Nhóm bệnh/Triệu
%
11
Bệnh về răng miệng
10
27
15.25
7.
23
12.99
18
5.
14
Bệnh do thời tiết, cảm
%
7.34
6.
Bệnh trẻ em
sổ
13
1 1
Kluk
Q uả
i 1
Ẳa sốua
V ó căỵ
•o-
1
3
N liư a
1 2
Re
■ ■
Giỉí đỄÌp
o
49
50
SỐ loài
100
SỐ loái
Hình 2. Đa dạng về bộ phạiĩ va cách dùng cây tìiuốc của người Sán Chỉ
Cách gọi tên cây
Các tên cây của người Sán Chỉ ở xã Thanh Lâm chủ yếu dựa vào hoặc liên
quan với đặc điểm hình thái, dạng sống, màu sắc, mùi vị, công dụng, cách sử
dụng, nơi thu hái, liên quan đến phong tục hoặc kết họp các yếu tố này với nhau
(bảng 2 ).
Sổ
1
Dạng sông
cây
112
m ế:
%
63,28
2
Mô tả đặc điêm
Nơi thu hái
Kích thước
Mùi
9
Không có ý nghĩa
6
7
bô
cây
Tý lệ
%
11
6,21
10
5,65
5
2,82
9,04
10
dạng sống và công dụng để dạy cho người ở nhà. Ngoài ra, một số người còn có
khả năng tự biết về cây thuốc qua nằm mơ thì sẽ không truyền nghề cho ai.
Ý thức bảo vệ cây thuốc trong quá ừình thu hái của người Sán Chỉ ở xã
Thanh Lâm là chưa cao. Khi đi lấy thuốc, cả người dân và thầy lang thường lấy
hết cả rễ nếu có thể. Đồng thời họ cũng chưa có ý thức tái sinh, bảo vệ hay trồng
lại, trồng thêm cây con cạnh những cây đã chặt vì họ cho rằng cây rừng còn rất
nhiều.
Khi ốm, ngoài việc dùng thuốc, người Sán Chỉ còn có 1 số nghi lễ cúng
bái cho các đối tượng khác nhau như; ‘‘Lời slạnh ” (cho người già), “Sun văn ”
(cho thanh niên), “Mó văn ” (cho trẻ em).
Điều ừa thị trường dược liệu
Hoạt động làm thuốc truyền thống
Hoạt động làm thuốc trong xã vẫn giữ nguyên ữạng thái sơ khai, trong đó
người Sán Chỉ chỉ khám bệnh và bốc thuốc tại nhà chứ không bán thuốc tại các
chợ phiên. Thông thường một thôn có 2 - 3 thầy lang hoặc người biết nhiều cây
thuốc. Đặc biệt, người dân không coi làm thuốc là nghề kiếm tiền chính mà chỉ là
nguồn thu nhập phụ kết hợp với các hoạt động kinh tế cơ bản khác là làm nông
nghiệp, lâm nghiệp.
Hoạt động buôn bán, thu gom dược liệu
Từ 5 năm ữở lại đây có nhiều đợt thương nhân Trung Quốc đến địa bàn
thu mua dược liệu bao gồm chủ yếu là Chè hoa vàng {Camellia sp.), Tài lệch
{Millettia speciorsa Champ.), Ba kích {Morinda officinalis F.C.How), Kim ngân
{Lonicera japónica Thunb.), Hoàng đằng {Fibraurea tinctoria Lour.). Đặc biệt là
Chè hoa vàng. Theo những NCCT, lúc mới bắt đầu sang thu mua, người Trung
Quốc chỉ thu mua hoa với giá khoảng từ 50.000 - 70.000 đồng/lkg. Sang năm
đã trình bày ở mục 3.2) làm cho một số cây khác nhau nhưng lại có tên gọi giống
nhau.
Kết quả cũng cho thấy rễ cây chỉ chiếm 7,9% các loài được sử dụng. Tuy
nhiên thói quen khi thu hái của người Sán Chỉ ở xã là trừ các cây to không lấy
được hết thì họ mới để lại còn không họ sẽ lấy hết cả cây lẫn rễ. Điều này cho
thấy cách Idiai thác của đồng bào là chưa thật sự bền vững.
Kết luận
về đa đạng các loài cây thuốc
Đã lập được danh mục 167 tên cây cỏ làm thuốc theo tiếng địa phương.
Đã thu được 177 mẫu cây thuốc khác nhau theo danh mục, trong đó có trong đó
có 82 loài được giám định sơ bộ đến loài, 78 loài được giám định sơ bộ đến chi,
10 loài được giám định sơ bộ đến họ và 7 loài chưa giám định được tên khoa học.
về tri thức sử dụng
Đã tư liệu hóa được 28 nhóm bệnh được phòng và chữa bởi 177 loài, đồng
thời mô tả được các phong tục về cây thuốc và bệnh tật của người Sán Chỉ ở xã
Thanh Lâm, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
về trị trường dược liệu
Hoạt động buôn bán dược liệu tại các chợ phiên Đạp Thanh và Thanh
Lâm diễn ra không thường xuyên và được thực hiện bởi người Dao Thanh Y,
Dao Thanh Phán, Tày và Nùng. Các thầy lang người Sán Chỉ chỉ bốc thuốc tại
nhà chứ không mang thuốc ra chợ bán như các dân tộc khác. Hoạt động kinh
doanh cây thuốc hàng hoá chủ yếu theo nhu cầu thu gom của tư thương và hoạt
động trồng dược liệu hàng hoá đã bắt đầu được triển khai ừong xã.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Thị Thái Hằng, Lê Viết Hùng, Nguyễn Thanh Bình, và cs. (2005),
Kinh Tế Dược, NXB Y học, Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Thu Hường (2011), Điều tra tình hình sử dụng cây cỏ làm thuốc
của người Mường ở xã Mông Hoá - huyện Kỳ Son - tỉnh Hoà Bình, Khóa