BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN TRẦN PHƯƠNG THẢO
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ
KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ
CHỨNG KHOÁN VN INDEX
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN TRẦN PHƯƠNG THẢO
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ
KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ
CHỨNG KHOÁN VN INDEX
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐINH BẢO NGỌC
Đà Nẵng - Năm 2015
VNĐ: Việt Nam đồng
VNI: chỉ số Vn-Index
Vn-Index: Chỉ số giá chứng khoán trên SGDCK TP.HCM
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 3
5. Bố cục đề tài .......................................................................................... 3
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ............................................. 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ
GIÁ CHỨNG KHOÁN ................................................................................... 4
1.1.THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN
................................................................................................................................4
1.1.1. Thị trường chứng khoán ................................................................. 4
1.1.2. Chỉ số giá chứng khoán ................................................................. 10
1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN ...............................................14
1.2.1. Ảnh hưởng của lạm phát đến chỉ số giá chứng khoán .................. 15
1.2.2. Ảnh hưởng của chỉ số sản xuất công nghiệp đến chỉ số giá chứng
khoán ............................................................................................................... 16
1.2.3. Ảnh hưởng của lãi suất đến chỉ số giá chứng khoán .................... 17
1.2.4. Ảnh hưởng của tỷ giá đến chỉ số giá chứng khoán ....................... 19
1.2.5. Ảnh hưởng của cung tiền đến chỉ số giá chứng khoán ................. 20
1.2.6. Ảnh hưởng của giá xăng bán lẻ đến chỉ số giá chứng khoán ....... 21
1.2.7. Ảnh hưởng của giá vàng trong nước đến chỉ số giá chứng khoán 22
3.2.1. Ảnh hưởng của chỉ số giá tiêu dùng đến chỉ số Vn-Index ............ 66
3.2.2.Ảnh hưởng của chỉ số sản xuất công nghiệp đến chỉ số Vn-Index
.............................................................................................................................................70
3.2.3.Ảnh hưởng của lãi suất đến chỉ số Vn-Index ................................. 73
3.2.4.Ảnh hưởng của tỷ giá VNĐ/USD đến chỉ số Vn-Index ................ 76
3.2.5.Ảnh hưởng của giá xăng bán lẻ đến chỉ số Vn-Index .................... 81
3.2.6.Ảnh hưởng của chỉ số giá vàng đến chỉ số Vn-Index .................... 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3................................................................................ 91
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GỢI Ý VỀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ NHẰM PHÁT
TRIỂN ỔN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ............ 92
4.1.CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020 ...........................................................................92
4.1.1. Quan điểm phát triển ..................................................................... 92
4.1.2. Mục tiêu phát triển ........................................................................ 93
4.2. GỢI Ý VỀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ NHẰM PHÁT TRỂN ỔN ĐỊNH THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM. .......................................................94
4.2.1. Kiểm soát lạm phát kịp thời và hiệu quả ...................................... 95
4.2.2. Thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững .................... 97
4.2.3. Điều hành chính sách lãi suất linh hoạt hướng đến một ức lãi suất
chung theo thị trường ...................................................................................... 98
4.2.4. Nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tỷ giá VND/USD ......... 99
4.2.5. Thực hiện các biện pháp phát triển thị trường xăng dầu ............ 100
4.2.6. Liên thông thị trường vàng trong nước với thị trường vàng quốc tế
....................................................................................................................... 103
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4.............................................................................. 106
KẾT LUẬN .................................................................................................. 107
MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU.................................................. 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bảng kết quả kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình
47
Bảng 2.5
Kết quả xác định độ trễ tối ưu của mô hình
49
Bảng 2.6
Bảng ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập
50
Bảng 2.7
Kết quả kiểm định đồng liên kết Johansen
51
Bảng 2.8
Tóm tắt kết quả mô hình VECM
52
Bảng 29
Hình 2.4
Kiểm định tự tương quan phần dư trong mô hình
56
Hình 3.1
Kết quả hàm phản ứng đẩy của mô hình
62
Hình 3.2
Kết quả ước lượng phân rã phương sai
64
Hình 3.3
Diễn biến CPI và VN-Index giai đoạn 2005-2014
66
Hình 3.4
Biến động CPI và VNI giai đoạn 2005-2014
67
Hình 3.10
Biến động EX và VNI giai đoạn 2005-2014
77
Hình 3.11
Diễn biến Giá dầu và VN-Index giai đoan 2005-2014
81
Hình 3.12
Biến động ROIL và VNI giai đoạn 2005-2014
82
Hình 3.13
Diễn biến Chỉ số GP và VN-Index giai đoan 2005-2014
86
Hình 3.14
Biến động GP và VNI giai đoạn 2005-2014
87
quả của sự tác động đó khi nghiên cứu ở quốc gia này lại có thể giống hoặc không
2
giống với quốc gia khác. Thậm chí, trong cùng một quốc gia nhưng kết quả vẫn có
thể khác nhau khi nghiên cứu ở những giai đoạn khác nhau. Vì vậy, việc sử dụng kết
quả của các nghiên cứu nước ngoài để áp dụng cho thị trường chứng khoán Việt Nam
là điều không thể. Do đó, nghiên cứu thực nghiệm tác động của các biến kinh tế vĩ
mô đến thị trường chứng khoán khi sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian tại Việt Nam là
điều vô cùng cần thiết. Đối với các nhà hoạch định chính sách, kết quả nghiên cứu
này là kim chỉ nan giúp họ có được sự lựa chọn tối ưu nhất khi muốn tác động vào
nền kinh tế theo đúng mục đích; còn đối với các nhà đầu tư, việc nắm rõ mối quan hệ
giữa giá chứng khoán với các biến kinh tế vĩ mô giúp họ có thể dự đoán được thị
trường và đưa ra các quyết định hợp lý. Chính vì lý do đó, tôi đã chọn đề tài nghiên
cứu: “Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng
khoán VN Index”
Tác động đến thị trường chứng khoán nói chung và chỉ số giá chứng khoán
nói riêng bao gồm các yếu tố nội sinh, các yếu tố ngoại sinh và những yếu tố khác
nữa. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này chúng ta chỉ quan tâm đến sự ảnh hưởng của
các nhân tố kinh tế vĩ mô (nhân tố ngoại sinh) đến chỉ số giá chứng khoán Vn-Index.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh
tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN-Index. Gồm những mục tiêu cụ thể sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm về sự ảnh
hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán.
- Xác định và phân tích ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá
chứng khoán Vn-Index.
- Gợi ý chính sách kinh tế vĩ mô nhằm phát triển ổn định thị trường chứng
khoán Việt Nam.
tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán Vn-Index trong
giai đoạn từ 12/2005 đến 09/2014. Từ đó, đề xuất một vài gợi ý về điều hành chính
sách kinh tế vĩ mô nhằm phát triền ổn định thị trường chứng khoán Việt Nam, đồng
thời giúp các nhà đầu tư trong và ngoài nươc giảm thiểu được rủi ro khi đầu tư vào
thị trường chứng khoán Việt Nam.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN
CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN
1.1. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN
1.1.1. Thị trường chứng khoán
a. Khái niệm
Hiện nay, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về thị trường chứng khoán:
Quan điểm thứ nhất cho rằng thị trường chứng khoán (TTCK) và thị trường
vốn là một, chỉ là tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm: Thị trường tư bản
(Capital Market). Nếu xét về mặt nội dung, thì thị trường vốn biểu hiện các quan hệ
bản chất bên trong của quá trình mua bán các chứng khoán. TTCK là biểu hiện bên
ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể. Do đó, các thị trường này không thể phân
biệt, tách rời nhau mà thống nhất và cùng phản ánh các quan hệ bên trong và bên
ngoài của thị trường tư bản.
Quan điểm thứ hai của đa số các nhà kinh tế cho rằng TTCK được đặc trưng
bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một. Như vậy, theo quan điểm này
TTCK và thị trường vốn là khác nhau; trong đó TTCK chỉ giao dịch, mua bán các
công cụ tài chính trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu
công ty. Còn các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường tiền tệ,
không thuộc phạm vi hoạt động của TTCK.
Phân loại theo phương thức hoạt động của thị trường
- TTCK tập trung: là thị trường chính thức mà ở đó việc giao dịch các loại
chứng khoán đã niêm yết được thực hiện một cách tập trung. Hình thức điển hình của
TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) (Stock exchange), đây là tổ
chức có tư cách pháp nhân do nhà nước sở hữu hoặc công ty cổ phẩn hoặc một hiệp
hội được thành lập theo quy định của pháp luật sở hữu. Mọi việc mua, bán, chuyển
nhượng, trao đổi chứng khoán phải được tiến hành tại Sở giao dịch và thông qua các
thành viên của Sở giao dịch theo quy chế của Sở giao dịch chứng khoán.
6
- TTCK phi tập trung (Over the counter – OTC): là thị trường không có địa
điểm giao dịch cụ thể, các giao dịch sơ cấp và thứ cấp đều được tiến hành thông qua
mạng lưới của các công ty môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán… trên khắp
cả nước bằng hệ thống điện thoại và máy tính nối mạng. Cơ chế xác lập giá chủ yếu
dựa trên cơ sở thương lượng giá giữa bên mua và bên bán. Ngoài các công ty niêm
yết, thị trường OTC còn có sự tham gia của các công ty chưa đủ điều kiện niêm yết.
Phân loại theo sự luân chuyển các nguồn vốn
- Thị trường sơ cấp: là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.
Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua
việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới được phát hành. Hoạt động của thị trường
sơ cấp tạo ra một kênh huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhà phát hành trực tiếp
nhận được nguồn từ việc bán chứng khoán của họ. Qua hoạt động này của thị trường
sơ cấp, các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, trong các tổ chức kinh tế, xã hội được
chuyển thành vốn đầu tư dài hạn cho người phát hành chứng khoán.
- Thị trường thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên
thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. Đối
với nhà đầu tư đang nắm giữ chứng khoán, vì nhu cầu chuyển đổi thành tiền để đầu
tư vào kênh khác hoặc muốn hưởng chênh lệch giá mà họ chuyển nhượng lại chứng
khoán của mình. Đối với người mua, vì mục đích nắm giữ tài sản tài chính và nhận
chất, thời hạn và độ rủi ro; do đó các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hóa phù
hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chỉ số của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén
và chính xác. Giá của chứng khoán tăng lên cho thấy nhà đầu tư đang mở rộng hoạt
động của mình, do đó làm cho nền kinh tế tăng trường; và ngược lại, khi giá chứng
khoán giảm nghĩa là nền kinh tế đang tồn tại nhiều vấn đề tiêu cực. Vì thế, TTCK
được coi là một chỉ báo của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính Phủ
thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính Phủ có thể mua bán
trái phiếu Chính Phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm
phát. Ngoài ra, Chính Phủ còn có thể sử dụng các chính cách, biện pháp tác động vào
TTCK nhằm định hướng đầu tư, đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
8
Vai trò:
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán mà họ
đang sở hữu thành tiền hoặc các chứng khoán khác theo ý muốn. Khả năng thanh
khoản là một trong những đặc tính rất hấp dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tư.
Đây là yếu tố quan trọng cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt
động càng năng động và hiệu quả thì tính thanh khoản của chứng khoán càng được
nâng cao.
Đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh
một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các
doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện. Từ đó, tạo ra được một môi trường
cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế, kích
thích áp dụng công nghệ và cải tiến sản phẩm.
Hỗ trợ và thúc đẩy các công ty cổ phần ra đời và phát triển
trưng riêng mà có những hình thức quản lý khác nhau và thiết lập nên những cở quan
quản lý khác nhau.
Chủ thể phát hành
Chủ thể phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn và cung cấp hàng
hóa cho TTCK. Trên TTCK gồm có ba loại chủ thể phát hành sau:
- Chính Phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu
Chính Phủ và trái phiếu địa phương.
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như trái phiếu,
chứng chỉ thụ hưởng…phục vụ cho hoạt động của họ.
Nhà đầu tư
Nhà đầu tư (NĐT) là chủ thể tham gia chính trên TTCK khi thực hiện giao
dịch chứng khoán. NĐT được chia thành hai loại là NĐT cà nhân và NĐT tổ chức.
- NĐT cá nhân: là những cá nhân tham gia mua bán chứng khoán trên TTCK
và thương có những đặc điểm sau: Quy mô vốn nhỏ, khả năng chịu đựng rủi ro thấp;
thời hạn đầu tư ngắn; kiến thức kinh nghiệm về đầu tư chứng khoán là không đồng
đều và nhìn chung đều thấp.
10
- NĐT tổ chức: là các định chế đầu tư thực hiện giao dịch chứng khoán như
các công ty quản lý quỹ, ngân hàng, công ty đầu tư tài chính, công ty bảo hiểm,...
NĐT tổ chức có những đặc điểm sau: là tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, có kinh nghiệm
chuyên sâu trong việc phân tích đầu tư; có quy mô vốn lớn, thường xuyên giao dịch
với khối lượng nhiều, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá chứng khoán và xu hướng đầu
tư trên thị trường; có nguồn vốn đầu tư dài hạn nên có thể nắm giữ cổ phiếu trong
một thời gian dài – một điều mà NĐT cá nhân khó lòng đạt được. Mục đích của NĐT
tổ chức cũng khác hơn so với NĐT cá nhân ở. Họ có thể mua một khối lượng lớn cổ
phiếu để nắm giữ quyền chi phối hoạt động, thâu tóm doanh nghiệp và có cơ hội tốt
hơn NĐT cá nhân trong việc tiếp cận thông tin doanh nghiệp.
- Chỉ số giá chứng khoán phản ánh xu hướng vận động chung của toàn thị
trường nên nó là một thông tin không thể thiếu trong bất cứ một thông tin báo cáo
nào về hoạt động giao dịch trên TTCK.
- Chỉ số giá chứng khoán cung cấp thông tin cho các NĐT đánh giá và phân
tích TTCK một cách tổng quát vì nó cho thấy được tình hình biến động của giá chứng
khoán nói riêng và của cả thị trường nói chung. Chỉ số giá chứng khoán là cơ sở để
đưa ra những quyết định đầu tư mang tính chiến lược và dài hạn chứ không phải chỉ
nhằm mục tiêu kiếm lời từ những biến động giá tạm thời. Đây là thông tin rất quan
trọng đối với các công ty niêm yết, các NĐT trong việc đánh giá TTCK.
b. Phương pháp tính
Phương pháp bình quân giản đơn
Công thức của phương pháp này là lấy tổng thị giá của các chứng khoán đem
chia cho số lượng chứng khoán tham gia tính toán:
∑𝑛𝑖=1 𝑃𝑖
𝐼𝑝 =
𝑛
Trong đó:
Ip: chỉ số giá bình quân giản đơn
Pi: giá chứng khoán i
n: số lượng cổ phiếu đưa vào tính toán
Các chỉ số Dow Jones của Mỹ, Nikkei 225 của Nhật, MBI của Ý đều áp dụng
phương pháp này để tính toán. Đây là phương pháp tốt khi mức giá của các cổ phiếu
12
tham gia niêm yết khá đồng đều với nhau, khi đó độ lệch chuẩn của nó thấp.
Phương pháp Laspeyres
Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy
13
Các chỉ số KOSPI của Hàn Quốc, S&P 500 của Mỹ, FTSE 100 của Anh,
TOPIX của Nhật, CAC của Pháp, TSE của Đài Loan, Hangseng của Hồng Kông, các
chỉ số của Thụy Sỹ,…và chỉ số VN-Index của Việt Nam đều được tính theo phương
pháp này.
Phương pháp bình quân Fisher
Chỉ số giá bình quân Fisher là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá
Passcher và chỉ số giá Laspeyres. Phương pháp này trung hòa được yếu điểm của hai
phương pháp trên, tức là giá trị chỉ số tính toán ra phụ thuộc vào quyền số của cả hai
thời kỷ là kỳ gốc và kỳ tính toán.
Công thức như sau:
𝐼𝐹 = √𝐼𝑃 × 𝐼𝐿
Trong đó:
IF: chỉ số Fisher
IP: chỉ số Passcher
IL: chỉ số Laspeyres
Về mặt lý thuyết có phương pháp này, nhưng trong thống kê không cho thấy
bất kỳ quốc gia nào áp dụng phương pháp này.
Phương pháp bình quân nhân giản đơn
Phương pháp này được sử dụng để tính toán chỉ số giá chứng khoán khi độ
lệch chuẩn của các chưng khoán là khá cao.
Công thức như sau :
𝑛
𝐼𝑝 = √𝜋𝑖=1
𝑃𝑖
Trong đó :
Granger và mô hình VECM để chỉ ra sự ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô vào
thị trường chứng khoán tại Hàn Quốc. Và gần đây hơn, Maysami và Koh (2000) cũng
đã sử dụng kiểm định đồng liên kết trong mô hình VECM và cho thấy thị trường
chứng khoán Singapore có đồng liên kết với các biến kinh tế vĩ mô.
Dựa vào khung lý thuyết nêu trên, nghiên cứu sẽ phân tích ảnh hưởng của các
15
nhân tố vĩ mô gồm: lạm phát, chỉ số sản xuất công nghiệp, lãi suất, tỷ giá, cung tiền,
giá dầu và chỉ số giá vàng đến chỉ số giá chứng khoán dựa trên các lý thuyết có liên
quan.
1.2.1. Ảnh hưởng của lạm phát đến chỉ số giá chứng khoán
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay
đổi tương đối của giá hàng hóa tiêu dùng theo thời gian. Sở dĩ chỉ là thay đổi tương
đối là vì chỉ số này được tính dựa vào một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng
hóa tiêu dùng. Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự
thay đổi của mức giá, chính là lạm phát. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất
giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế
khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.
Giá cả của hàng hóa dịch vụ luôn biến đổi theo thời gian, tuy nhiên nếu giá cả
thay đổi quá nhanh chóng nó có thể là một cú sốc đối với nền kinh tế. Sự thay đổi của
giá cả hàng hóa trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến các chứng khoán có lãi suất
cố định. Khi giá cả tăng, có nghĩa là đồng tiền đang bị mất giá, khi đó các khoản lãi
cố định sẽ có giá trị thực tế thấp hơn và do đó làm giảm mức sinh lợi của các chứng
khoán. Lạm phát cũng sẽ gây ảnh hưởng đến các khoản tiền lương, trợ cấp, hưu trí vì
chúng là các khoản tiền trả cố định. Biến động giá cả có thể ảnh hưởng xấu đến các
công ty, người ta thường kỳ vọng mức lạm phát nhẹ trong nền kinh tế đang tăng
trưởng, nhưng nếu giá cả của các yếu tố đầu vào tăng quá nhanh sẽ làm giảm lợi
nhuận của các nhà sản xuất.
chứng khoán
Chỉ số sản xuất công nghiệp là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị sản phẩm (vật
chất và dịch vụ) của toàn ngành công nghiệp được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất
định so với kỳ gốc. Thống kê chỉ tiêu giá trị sản xuất công nghiệp nhằm mục đích
tổng hợp, đánh giá kết quả sản xuất của ngành công nghiệp, là căn cứ để tính chỉ tiêu
tổng sản phẩm trong nước (GDP), phục vụ tính cơ cấu ngành kinh tế và tốc độ tăng
giảm kinh tế. Trong một nền kinh tế, để phản ánh tình hình hoạt động và sự tăng
trưởng kinh tế người ta thường sử dụng chỉ tiêu GDP để phân tích. Trong đó, giá trị
sản xuất công nghiệp là một nhân tố chiếm tỷ trọng khá cao, chính vì vậy bên cạnh
GDP thì giá trị sản xuất công nghiệp cũng được xem là một căn cứ của tăng trưởng