ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PHẠM VĂN CHÂU
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bến Tre
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Xuân Kiên
Hà nội - 2004
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chƣơng 1 ...................................................................................................... 7
TÍNH TẤT YẾU VÀ NỘI DUNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA .............................................................................................................. 7
1.1. Tính tất yếu của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.1. Những khái niệm chung ............................................................... 7
1.1.2. Tính tất yếu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá .................................................. 14
1.1.3. Những nhân tố ảnh hƣởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp .......................................................................................... 18
1.2. Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hƣớng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ................................................................. 21
1.2.1. Một số vấn đề có tính quy luật trong việc chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp tỉnh Bến Tre đến năm 2010 ............................................... 81
3.2.1. Chính sách về phát triển thị trƣờng .......................................... 82
3.2.2. Chính sách tổ chức, quản lý ....................................................... 83
3.2.3. Chính sách về đào tạo nguồn nhân lực ...................................... 86
3.2.4. Chính sách về đầu tƣ, hỗ trợ và sử dụng vốn cho nông nghiệp 88
3.2.5. Chính sách về khoa học - công nghệ đối với nông nghiệp ........ 90
3.2.6. Chính sách về phát triển kết cấu hạ tầng vật chất ở nông thôn93
KẾT LUẬN ................................................................................................. 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 100
105
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10 năm 2001 - 2010 đã xác định:
“Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” và “Tăng
cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn”[7, tr 92].
Trong những năm đổi mới, gắn liền với việc thực hiện những
chủ trương, chính sách, cơ chế quản lí mới, nông nghiệp nước ta đã đạt được
những thành tựu đáng kể theo phương hướng trên. Những thành tựu đó đã
góp phần quan trọng vào ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Tuy
nhiên, kinh tế nước ta vẫn nặng về nông nghiệp (70%), trong nông nghiệp vẫn
nặng về trồng trọt (khoảng 80%), chăn nuôi mới chỉ chiếm 20%…Nhìn một
cách tổng quát, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta còn
chậm .
Bến Tre là một trong các tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long, là một tỉnh
đất hẹp người đông, nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm - ngư nghiệp. Theo số liệu thống kê từ năm 1990 đến nay,
vùng sinh thái. Tuy vậy, nền kinh tế của tỉnh cho đến nay chủ yếu vẫn dựa
vào nông nghiệp là chính, nhưng nông nghiệp của tỉnh còn mang tính chất
độc canh, sản xuất nhỏ còn phổ biến, chưa đưa khoa học - kỹ thuật vào sản
xuất
nên
năng
suất
lao
động
còn
thấp.
Hơn
thế
nữa,
đồng ruộng lại bị phân chia manh mún nên chưa thực hiện chuyên môn hoá
được, hiệu quả sản xuất lại thấp, sản xuất chưa thật sự gắn với thị trường, tình
trạng phân hoá giàu nghèo ngày càng mở rộng, đặc biệt là vùng nông thôn. Vì
thế, phát triển nông nghiệp, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo định hướng hợp lý là vấn đề cấp bách đang đặt ra ở tỉnh hiện nay.
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng trên phạm vi cả nước.
Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên phạm ùvi một địa phương cụ
thể rất ít được quan tâm. Riêng đề tài”Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre” chưa có tác
giả nào nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích của đề tài là đề ra các giải pháp nhằm thúc đẩy sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở tỉnh Bến Tre từ nay cho đến năm 2010.
3
3.2. Để đạt được mục đích này, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ nội dung của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh
trong những năm gần đây và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong những
năm tới.
- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh
Bến Tre.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1.Cơ sở lý luận:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng Sản
Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp nói riêng
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Về phương pháp chung: dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
những vấn đề đặt ra cần giải quyết .
Chương 3: Phương hướng và giải pháp thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp tỉnh Bến Tre đến năm 2010.
5
Chƣơng 1
TÍNH TẤT YẾU VÀ NỘI DUNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Tính tất yếu của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.1. Những khái niệm chung
1.1.1.1. Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là cấu trúc bên trong của quá trình tái sản xuất mở rộng nền
kinh tế quốc dân, là tổng thể những mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành
nền kinh tế: Các lĩnh vực kinh tế (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng);
các ngành kinh tế quốc dân (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ) ; các thành
phần kinh tế, các vùng kinh tế.
Trong các bộ phận cấu thành cơ cấu kinh tế thì cơ cấu ngành kinh tế là
bộ phận có tầm quan trọng đặc biệt, là” bộ xương” của cơ cấu kinh tế,
vì nó quyết định hướng sản xuất cái gì có hiệu quả; còn cơ cấu thành phần
kinh tế quyết định ai sản xuất có hiệu quả nhất và cơ cấu kỹ thuật quyết định
sử dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ nào có lợi nhất; cơ cấu lãnh thổ sẽ chỉ
ra sự bố trí cơ cấu ngành, thành phần, kỹ thuật ở đâu có hiệu quả nhất. Xem
xét cơ cấu kinh tế không chỉ xem xét tỷ lệ về số lượng những quá trình sản
xuất xã hội mà còn xem xét về chất lượng của những mối quan hệ đó.
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về số lượng và về chất
lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế hoặc các bộ phận của lực
sự
phát
triển
với
năng suất cao cho toàn bộ nền kinh tế. Có thể nói, cơ cấu kinh tế hợp lý là
điều kiện cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội
bền vững trong tương lai.
1.1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi cấu trúc, tỷ trọng, tốc
độ và chất lượng các mối quan hệ kinh tế ngành, vùng và thành phần kinh tế
nhằm đạt tới một cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, tạo thế và lực mới cho tăng
trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay nước ta đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đây là quá trình chuyển từ một nước
sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp thành một nước có
cơ cấu công - nông nghiệp và dịch vụ hiện đại, khoa học và công nghệ tiên
tiến, năng suất lao động cao trong các ngành kinh tế quốc dân.
Điều đó có nghĩa là tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng
tăng, còn tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm trong cơ cấu nền
kinh tế quốc dân.
7
Nông nghiệp là một bộ phận cấu thành trong tổng thể nền kinh tế
quốc dân. Sự vận động của nông nghiệp chịu sự tác động của sự vận động
nghiệp thì nông nghiệp theo xu hướng giảm tỷ trọng (trồng trọt giảm và chăn
nuôi tăng), trong khi đó, tỷ trọng lâm nghiệp và ngư nghiệp tăng lên.
Nghị quyết đại hội IX của Đảng đã định hướng việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là:”Dựa vào nguồn lực
trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây
dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và trên thế giới, hướng mạnh
về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước
sản xuất có hiệu quả.
Yêu cầu của việc thực hiện định hướng trên, theo Đại hội IX là phải gắn
quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động với đổi mới căn bản về
công nghiệp, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả và lâu bền của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đây là vấn đề lớn, cấp thiết trong quá trình xây
8
dựng cơ cấu kinh tế theo ngành cũng như cơ cấu kinh tế theo vùng và nó được
thực hiện.
1.1.1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Trong quá trình đổi mới, Đảng ta xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn là một trong những nội dung cơ bản của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới, để đưa
đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, Đại hội VI chủ
trương”phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được
ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng
xuất khẩu” và nhấn mạnh”các chương trình mục tiêu trên là cụ thể hoá nội
dung chính của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu
tiên”. Khi đất nước đã khắc phục được một bước quan trọng tình trạng khủng
để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; đồng
thời
chỉ
rõ
những
định
hướng
lớn
về
chính
sách
để
thực hiện nhiệm vụ này đến năm 2010.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương khoá IX đã đưa ra Nghị quyết về” Đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010”. Nghị quyết
trung ương 5 chỉ rõ:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh giá trị sản phẩm và lao động các
ngành công nghiệp, dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông
nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông
thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ
sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng,
văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân ở
nông thôn”[8, tr 93- 94].
Theo cách hiểu trên thì công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn là quá trình hoàn thiện phương thức tổ chức, quản lý và ứng dụng những
thành tựu của khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và
kinh tế nông thôn, nhằm xóa bỏ cơ cấu kinh tế nông thôn truyền thống, tạo sự
tăng trưởng cao và lâu bền, đưa khu vực nông thôn phát triển bền vững. Và
10
như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn không chỉ
đơn giản bao gồm phát triển công nghiệp nông thôn và hiện đại hoá một số
công đoạn của sản xuất nông nghiệp như cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi
hóa
và
sinh
học
hóa,
thu
nhập
và
cải thiện đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, nông nghiệp theo nghĩa rộng gồm nông - lâm - ngư nghiệp, do
đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng có nghĩa là chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp là chuyển dịch theo
hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng lâm nghiệp,
ngư nghiệp nhằm khai thác hết thế mạnh, tiềm năng của tài nguyên,
đất đai, ao hồ, sông rạch…, đồng thời kết hợp chặt chẽ nông - lâm ngư nghiệp để hỗ trợ nhau phát triển.
11
Từ những vấn đề phân tích trên có thể kết luận rằng:
Sự hình thành từng bước cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá luôn luôn gắn liền với sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế do chính sự đổi mới công nghệ tạo ra và đến lượt nó, sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế lại là lực đẩy, bảo đảm tính hiệu quả và tính định hướng
của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát
triển và tăng trưởng bền vững với nhịp độ cao trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, cơ
cấu hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp, nhằm giải phóng mạnh mẽ
sức sản xuất, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải
Nông nghiệp là khu vực kinh tế truyền thống, tập trung tuyệt đại đa số
lao động của xã hội; nó chịu ảnh hưởng to lớn của điều kiện đất đai, khí hậu
và là khu vực duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm. Do những đặc
điểm nổi bật trên, kinh tế nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng đối với sự
12
phát triển toàn bộ kinh tế, đồng thời bản thân nó chịu ảnh hưởng to lớn của
quá trình đó.
Kinh nghiệm ở các nước cho thấy, muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hoá thì không chỉ nhấn mạnh một chiều việc mở rộng khu vực công nghiệp
hiện đại mà còn phải chú ý đến khu vực nông nghiệp; phải chú ý đến sự phát
triển hài hòa giữa thành thị và nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp,
có như vậy kinh tế nông thôn mới ổn định và là điều kiện để nền kinh tế phát
triển bền vững. Nếu không có sự kết hợp hài hòa đó thì nền kinh tế sẽ mất cân
đối và kìm hãm tốc độ phát triển. Điều này đã được minh chứng ở một số
nước như: Thái Lan, thời kỳ đầu của công nghiệp hóa cũng chỉ tập trung vào
công nghiệp hóa đô thị (vùng Băng Cốc), cho nên kinh tế trong thời kỳ ấy
không những không phát triển mà còn lâm vào tình trạng trì trệ, nông nghiệp
vẫn lạc hậu. Thấy được vấn đề, Thái Lan đã kịp thời chuyển hướng chiến lược
công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ chỗ đơn thuần tập trung vào công nghiệp
hóa đô thị, chuyển sang đa dạng hóa nền kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa
cả đô thị và nông thôn, cả công nghiệp và nông nghiệp đều hướng vào xuất
khẩu.
Thực
thi
những
năm
50,
ở Đài Loan nông nghiệp rất được chú trọng với khẩu hiệu “lấy nông nghiệp
bồi dưỡng công nghiệp”, chính điều này đã góp phần quan trọng
ổn định đời sống của nhân dân Đài Loan những năm sau chiến tranh.
Như vậy, nông nghiệp có vai trò rất quan trọng, nếu không muốn nói
nông nghiệp là khởi đầu của sự phát triển. Chú ý đến nông nghiệp trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là xu hướng được áp dụng phổ biến trong
những năm gần đây ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.
Đối với nước ta, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn có vai trò hết sức quan trọng:
1.1.2.1. Nông nghiệp, nông thôn là thị trường rộng lớn của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, vì đầu ra cho công nghiệp chính là nông nghiệp,
nông thôn.
Thật vậy, muốn công nghiệp phát triển phải có thị trường, thị trường chủ
yếu là nông dân, có nâng cao được sức mua của nông dân thì mới có đầu ra
cho công nghiệp. Với một thị trường đông dân và sức mua hiện nay còn rất
thấp, thì tiềm năng có thể khai thác là rất lớn. Có thể nói, sức mua của nông
dân có vai trò rất quan trọng, đôi khi là quyết định đối với qui mô và tốc độ
phát triển của công nghiệp và dịch vụ. Kinh nghiệm các nước và thực tiễn
nước ta trong những năm đổi mới đã và đang chứng minh mối quan hệ nhân
quả
đó.
nghiệp. Trong vòng 30 năm, từ 1965 -1995 tại nhiều nước châu á khi thực
hiện công nghiệp hoá, tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm đi khá nhanh và số
lao động đó được chuyển dịch vào các ngành công nghiệp và dịch vụ. ở
những nước có tốc độ công nghiệp hoá nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
thì tốc độ chuyển dịch lao động nông nghiệp càng lớn.
1.1.2.3. Nông nghiệp, nông thôn là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm
và nguyên liệu cho công nghiệp.
Xuất phát từ điều kiện cụ thể của Việt Nam, từ những vấn đề phân tích
trên, nhận thức đúng đắn vai trò của nông nghiệp, về mối quan hệ giữa công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển nông nghiệp, công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở nước ta phải bắt đầu từ nông nghiệp. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
xác định “Tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy
nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”,việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là vấn đề bức xúc, là một nhu cầu tất yếu
phải tiến hành.
Tuy nhiên, trong tổng giá trị nông sản của cả nước, sản phẩm trồng trọt vẫn
chiếm khoảng 80%, còn chăn nuôi chỉ chiếm 20%. Hiện nay cả nước có lực
lượng lao động gần 9 triệu người không có đủ việc làm, trong khi vẫn còn
khoảng 10 triệu ha đang hoang hóa , gần 1,4 triệu ha mặt nước có thể nuôi
trồng thủy sản nhưng chưa được khai thác sử dụng. Nước ta có nhiều loại
nông sản, nhưng sản xuất phân tán, manh mún với dần 12 triệu hộ sản xuất
trên gần 75 triệu thửa đất nhỏ. Công nghiệp mới chế biến được 60% sản
15
lượng
chè,
nghiệp chưa được khai thác sử dụng. Trong nhiều lĩnh vực nông - lâm - ngư
nghiệp lạc hậu, công nghiệp chế biến kém phát triển, khả năng cạnh tranh của
nông sản hàng hóa thấp, kết cấu hạ tầng nông thôn thấp kém, không đáp ứng
được yêu cầu sản xuất hàng hóa phát triển với qui mô lớn.
Do vậy, nếu vẫn giữ cơ cấu kinh tế nông nghiệp như hiện nay thì khó tạo ra
một sức bật mới trong nông thôn. Có chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp
thì mới đa dạng hóa được sản phẩm, biến một nền nông nghiệp mà cơ bản vẫn
là tự cấp tự túc thành một nền nông nghiệp hàng hóa. Vì thế, vấn đề bức xúc
đặt ra đối với nền kinh tế quốc dân nói chung và nông nghiệp nói riêng là phải
nhanh chóng chuyển mạnh theo con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đó
là yêu cầu cấp thiết, là hướng đi tất yếu nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý
đủ sức vượt lên thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, đuổi kịp các nước khác.
1.1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp
Như trên đã đề cập, cơ cấu kinh tế nông nghiệp được biểu hiện bằng sự
tương quan về số lượng và chất lượng của các mối quan hệ tương tác giữa các
16
yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực nông nghiệp
trong khoảng thời gian và điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể. Cơ cấu này phụ
thuộc vào nhiều nhân tố đa dạng và phức tạp, đó là những nhân tố chủ quan
và khách quan sau đây:
1.1.3.1. Vị trí địa lý, khí hậu và tài nguyên thiên nhiên
Cơ cấu kinh tế của một nước, một vùng, bao giờ cũng dựa trên ưu thế về
địa lý và khí hậu. Vì vậy, ở những vị trí địa lý khác nhau và vùng khí hậu
khác nhau thì việc xác định cơ cấu kinh tế cũng khác nhau. Nếu điều kiện
tự nhiên thuận lợi, con người có thể lợi dụng những yếu tố đầu vào
“miễn phí” để tạo ra những sản phẩm với chi phí thấp nhất và chất lượng cao
hoá,
hiện đại hoá.
1.1.3.2. Trình độ khoa học- công nghệ
Có thể nói, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ
đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đây là nhân tố giữ vai trò quyết định trong
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp
17
hoá, hiện đại hoá. Bởi lẻ, nó mở ra những triển vọng to lớn cho việc áp dụng
công nghệ mới vào sản xuất, tạo ra bước đột phá về giống cây, con có năng
suất, chất lượng cao, tạo ra sự phát triển cho ngành chế biến và bảo quản nông
sản phẩm, nâng cao sản xuất và chất lượng để sớm có thể hòa nhập vào thị
trường quốc tế. Nó cũng làm thay đổi vị trí của các ngành trong nền kinh tế
quốc dân, thay đổi vai trò của nguyên liệu trong quá trình lao động, đòi hỏi
phải có quan điểm mới trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên. Chính vì
vậy, ở đâu có sự tác động mạnh mẽ của tiến bộ khoa học và công nghệ thì ở
đó quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế càng nhanh chóng và thuận lợi.
1.1.3.3. Lực lượng lao động
Con người là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành cơ cấu
kinh tế. Tuy cơ cấu kinh tế mang tính khách quan nhưng quá trình chuyển
dịch của cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm, phù hợp hay không phù hợp lại do
sự tác động chủ quan của con người. Ví dụ: Một nước dân cư có trình độ học
vấn cao, thông minh có liên quan đến việc tiếp thu và ứng dụng các thành tựu
khoa học, công nghệ mới sản xuất, do đó thúc đẩy nhanh chóng chuyển dịch
cơ cấu kinh tế. Nhật Bản là một ví dụ sinh động, đó là một nước hiếm tài
nguyên nhưng nhờ phát huy nhân tố con người có trí tuệ nên đã nhanh chóng
18
1.1.3.4. Nhân tố chính trị và tổ chức
Thực tiễn đã chứng minh đường lối chủ trương chính sách của Đảng và
Nhà nước trong từng thời kỳ đều có hưởng đến sự hình thành và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế. Đặc biệt, hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của
Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng. Từ Đại hội VI trở về trước, theo tư duy
cũ, với chủ trương ưu tiên phát triển công nghiệp nặng đã tạo ra một cơ cấu
kinh tế kém năng động, trì trệ, kém hiệu quả. Từ Đại hội VI đến nay, với quan
điểm mới, chính sách mới đã tạo ra một bước ngoặt mới cho sự phát triển
kinh
tế
nói
chung
và
sự
chuyển
dịch
cơ
và nội bộ của ngành kinh tế nông nghiệp, đó là: tốc độ phát triển của ngành
công nghiệp và dịch vụ phải lớn hơn tốc độ phát triển của nông nghiệp; trong
nội bộ ngành nông nghiệp thì tốc độ phát triển của ngành chăn nuôi cao hơn
tốc độ phát triển của ngành trồng trọt; trong nội bộ ngành trồng trọt thì tốc độ
phát triển của cây công nghiệp và cây ăn quả cao hơn tốc độ phát triển của
cây lương thực; trong ngành chăn nuôi thì tốc độ phát triển chăn nuôi đại gia
súc cao hơn tốc độ phát triển chăn nuôi tiểu gia súc, gia cầm. Chính vì vậy, sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nổi lên
một số xu hướng mang tính quy luật như sau:
1.2.1.1. Giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và
dịch vụ trong GDP.
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên nên năng
suất lao động và hiệu quả thường rất thấp. Trong khi đó, phát triển tiểu thủ
công nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ vừa có ý nghĩa to lớn trong việc
tạo việc làm cho người lao động, vừa làm tăng hiệu quả cho kinh tế nông
thôn, nâng cao mức thu nhập và đời sống cho dân cư nông thôn.
Vì vậy, thực hiện nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
nông thôn còn phải giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng các ngành
sản xuất ngoài nông nghiệp
Phát triển mạnh nền nông nghiệp hàng hóa hướng vào xuất khẩu là nội
dung quan trọng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở
nước ta, là một định hướng quan trọng mà Đảng ta xác định hiện nay. Phát
triển công nghiệp chế biến và các hoạt động dịch vụ trên địa bàn nông thôn sẽ
tạo
điều
kiện
cho
giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công
nghiệp và dịch vụ ở nông thôn.
Phát triển mạnh mẽ các hoạt động dịch vụ ở nông thôn bao gồm cả các
hoạt động dịch vụ cho sản xuất (làm đất, tưới tiêu, vốn, dịch vụ đầu vào và
đầu ra) và dịch vụ đời sống (cung cấp các hàng hóa công nghệ phẩm, sản
phẩm văn hóa, phát triển chợ…) sẽ tạo điều kiện đáp ứng tốt nhất yêu cầu
của phát triển kinh tế hàng hóa. Sự phát triển của dịch vụ chính là
quá trình hoàn thiện sự phân công lao động xã hội, thúc đẩy quá trình phát
triển của kinh tế hàng hóa. Phát triển dịch vụ còn đáp ứng nhu cầu nâng cao
mức sống của nhân dân và yêu cầu mở cửa với bên ngoài, đồng thời còn là
biện pháp tạo ra nhiều việc làm trong nông thôn.
Đẩy mạnh công nghiệp chế biến để tạo ra giá trị gia tăng của nông sản
hàng hóa, tạo thêm nhiều việc làm tại chỗ cho dân cư nông thôn là nhiệm vụ
cấp bách của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
hiện
nay.
Một
nền
nông
nghiệp
đa
ngành,
tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, không chỉ phục vụ cho nhu cầu phát triển nông
nghiệp mà còn phục vụ cho cả nhu cầu phát triển công nghiệp, thương nghiệp
và dịch vụ. Như vậy, trong nông nghiệp, sự phân công lao động theo hướng
giảm lao động trồng lúa, tăng lao động trong các nghề chăn nuôi, trồng cây
công nghiệp, nuôi trồng thủy sản.
ở Việt Nam, tuy lực lượng lao động nông nghiệp chiếm khoảng 72% nhưng
tỷ trọng nông nghiệp trong GDP chỉ chiếm hơn 50%, với tốc độ đô thị hóa
như hiện nay, không thể hy vọng giải quyết số lao động dư ra ở nông thôn
bằng cách chuyển sang làm dịch vụ ở các đô thị, vì số lao động dư thừa ở đô
thị cũng ngày càng tăng. Vì vậy, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp cần phải gắn chặt với quá trình công nghiệp hoá nông thôn và
hiện hiện đại hoá nông nghiệp nhằm giải quyết việc làm ngay tại chỗ.
22