ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRƢƠNG THỊ VÂN LÝ
QUẢN LÝ CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Ở HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2013
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRƢƠNG THỊ VÂN LÝ
QUẢN LÝ CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Ở HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN NGỌC HÙNG
Cố vấn học tập
ĐH
Đại học
ĐHQGHN
Đại học Quốc gia Hà Nội
HCTC
Học chế tín chỉ
HVTC
Học viện Tài chính
SV
Sinh viên
ii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn ...................................................................................................... i
Danh mục viết tắt ............................................................................................ ii
2.1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy ..........................................................................
iii
6
6
6
7
9
9
13
16
24
34
26
31
35
35
40
42
44
46
48
48
48
49
2.1.3. Hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ ở Học viện Tài chính .............. 50
2.1.4. Công tác cố vấn học tập ở Học viện Tài chính ..................................... 51
101
̣
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 104
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 108
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức về vai trò cố vấn học
tập (tính theo tỷ lệ %) ......................................................................................62
Bảng 2.2.Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức về vai trò cố vấn học
tập (tính theo điểm số).....................................................................................63
Bảng 2.3. Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức đội ngũ cố vấn học tập ..........67
Bảng 2.4. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý kế hoạch hoạt động cố
vấn học tập ......................................................................................................69
Bảng 2.5. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý tổ chức thực hiện công
tác cố vấn học tập ............................................................................................70
Bảng 2.6. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý ảnh hưởng đến thực
hiện công tác cố vấn học tập ...........................................................................71
Bảng 2.7. Kết quả khảo sát thực trạng kiểm tra, giám sát thực hiện hoạt
động cố vấn học tập.........................................................................................74
Bảng 2.8. Kết quả khảo sát đánh giá chung về công tác cố vấn học tập ........76
Bảng 3.1.Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết của các biện pháp đề
xuất tăng cường quản lý công tác cố vấn học tập ở Học viên Tài chính ........96
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất
tăng cường quản lý công tác cố vấn học tập ở Học viên Tài chính ................97
v
Một trong những đặc trưng cơ bản của học chế tín chỉ là kế hoạch đào
tạo được bố trí theo tinh thần “ lấy người học làm trung tâm” nghĩa là lớp học
được bố trí theo học phần mà người học lựa chọn, đơn vị học vụ là học kỳ.
Đầu mỗi học kỳ, SV được đăng ký các môn học thích hợp với năng lực, hoàn
cảnh của họ và phù hợp với quy định chung nhằm đạt được kiến thức theo
một ngành chuyên môn chính nào đó. Điều này giúp cho SV được chủ động
lựa chọn trong việc tích lũy nhóm kiến thức phù hợp với định hướng nghề
nghiệp, phù hợp năng lực, sở thích và phù hợp với kế hoạch cá nhân.
Vấn đề đặt ra là sinh viên có được trang bị kiến thức, kinh nghiệm để
thiết kế cho mình một kế hoạch học tập phù hợp với định hướng nghề nghiệp
của mình hay không? Do vậy, chương trình đào tạo tự chọn xuất hiện đã làm
dấy lên nhu cầu cần có những người cố vấn để hướng dẫn SV thực hiện tốt kế
hoạch học tập phù hợp với điều kiện và năng lực cá nhân SV. Daniel Coil
Gilmam, hiệu trưởng trường ĐH Hopkín (Mỹ) là người đã sử dụng thuật ngữ
“người cố vấn” để chỉ những người đưa ra định hướng cho SV những vấn đề
liên quan đến học tập, xã hội hay những vấn đề cá nhân (1886).
Đối với cấp bậc đại học, trên thế giới, trong mỗi khoa của một trường
đều có đội ngũ cố vấn học tập (advisor). Cố vấn học tập là những người am
hiểu cấu trúc chương trình đào tạo, nội dung của các khối kiến thức có trong
chương trình, nội dung và vị trí của từng môn học được nhà trường tổ chức
giảng dạy. Các CVHT hướng dẫn SV lựa chọn các môn học để xây dựng kế
hoạch học tập phù hợp với yêu cầu của ngành đào tạo và điều kiện riêng của
SV (năng lực, sở thích, điều kiện sinh hoạt, hoàn cảnh kinh tế). Bản đăng ký
các môn học của SV phải có chữ ký của CVHT xác nhận là đã được tham
1
khảo ý kiến thì mới được nhà trường xem xét để xếp lớp học. Không chỉ cung
viện Tài chính cũng đã rất nỗ lực trong việc đẩy mạnh và nâng cao vai trò của
công tác này, nhưng cho đến nay công tác CVHT tại Học viện Tài chính vẫn
chưa đạt hiệu quả như mong đợi. Làm thế nào để nâng cao vai trò của CVHT
cũng như phát huy hiệu quả của công tác CVHT trong đào tạo theo HCTC
vẫn đang là bài toán chưa có lời giải tối ưu.
Xuất phát từ ý nghĩa và tính cấp thiết trên, qua nhiều năm gắn bó với
công tác đào tạo, tác giả xin chọn đề tài: “Quản lý công tác cố vấn học tập trong
đào tạo theo học chế tín chỉ ở Học viện Tài chính” để thực hiện luận văn thạc sĩ,
nhằ m nghiên cứu cơ sở lý luận , đánh giá thực tra ̣ng quản lý công tác CVHT,
từ đó đề xuấ t kiế n nghi ̣mô ̣t số biê ̣n pháp quản lý cụ thể để nâng cao hiệu quả
hoạt động và phát huy vai trò tích cực của đội ngũ CVHT trong trường ĐH.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về công tác cố vấn học tập trong đào tạo đại học
theo học chế tín chỉ, đánh giá thực trạng quản lý công tác cố vấn hoc tập ở
Học viện Tài chính, luận văn đề xuất biện pháp quản lý công tác cố vấn học
tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở
Học viện Tài chính.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác cố vấn học tập và quản lý công
tác cố vấn hoc tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ,
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý công tác cố vấn hoc tập ở Học
viện Tài chính,
- Đề xuất các biện pháp quản lý công tác cố vấn học tập trong đào tạo
theo học chế tín chỉ,
- Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề
xuất.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác cố vấn hoc tập ở các trường đại học
chính và góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng tại Học viện Tài chính và các
cơ sở giáo dục đại học tổ chức theo HCTC trong cả nước, cung cấp thông tin
cho các nhà quản lý giáo dục.
4
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tổng hợp, hệ thống, phân tích và khái quát hoá các vấn đề lý luận từ
các tài liệu, văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, của Bộ
Giáo dục và Đào tạo cũng như các Bộ, Ngành liên quan, các công trình
nghiên cứu khoa học... có liên quan đến giáo dục ĐH và quản lý đào tạo ĐH
chính quy theo HCTC.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực trạng
- Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến đối với cán bộ
quản lý, giáo viên – CVHT.
- Phương pháp quan sát: Thăm lớp, tham khảo tài liệu, hồ sơ lưu trữ
của hệ ĐH chính quy.
- Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại: Gặp gỡ, trao đổi, phỏng vấn trực
tiếp cán bộ quản lý, giáo viên – CVHT.
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm.
8.3. Nhóm phương pháp hỗ trợ
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các nhà quản lý, giáo
viên giàu kinh nghiệm và giáo viên hướng dẫn khoa học.
- Phương pháp thống kê toán học, xử lý số liệu: Tổng hợp các ý kiến
điều tra, lập các bảng biểu, phân tích, đánh giá các số liệu.
9. Cấu trúc của luận văn
vấn chuyên nghiệp, hoặc SV năm trên, các thạc sỹ, nghiên cứu sinh) có thể
làm việc hiệu quả với người học để xây dựng nên đời sống tâm trí của họ
trong học tập – nghề nghiệp, phát triển cá nhân và xã hội.
Việc tìm kiếm và áp dụng nhiều lý thuyết tiếp cận từ góc độ khoa học
phát triển, từ các khoa học trong lĩnh vực xã hội – nhân văn, từ thực hành giáo
dục... sẽ giúp các CVHT nắm được một cách đầy đủ sự phát triển tâm – sinh
lý và xã hội của SV, nhìn nhận sâu sắc hơn những vấn đề của SV.
Có thể kể ra một số lý thuyết cụ thể đã đem lại hiệu quả cho hoạt động
CVHT, đó là lý thuyết về phát triển tâm lý – xã hội của con người, thuyết phát
triển nhu cầu, thuyết phát triển văn hóa xã hội v.v ... Để tiếp cận với hoạt
6
động của CVHT, các nhà nghiên cứu còn vận dụng các lý thuyết ứng dụng
trong giáo dục, quản lý, trong tham vấn. Các lý thuyết này giúp cho các
CVHT tiếp cận với SV một cách toàn diện. Ngoài ra, quá trình xã hội hóa cá
nhân liên quan đến vấn đề tôn giáo, sắc tộc, giới tính, phân tầng xã hội, vấn đề
người khuyết tật, người đồng tính... (King, 2005; McKewen, 2003) đã làm đa
dạng hóa các nhóm SV, chúng đòi hỏi các CVHT không thể không lưu ý khi
cố vấn cho SV.
Hendey (1999) đã cho rằng, thực tế có quá nhiều lý thuyết phát triển
khác nhau ứng dụng cho hoạt động CVHT, nhưng chúng đều đưa ra một cách
hiểu chính xác chung nhất về cố vấn phát triển hơn là gây khó khăn cho hoạt
động cố vấn trong trường học... Các CVHT không nên bị sa lầy vào một lý
thuyết phát triển cụ thể nào, mà cần có hiểu biết về một vài lý thuyết phát
triển cụ thể để ứng dụng trong công việc của mình.
Việc xây dựng lý thuyết cho hoạt động CVHT sẽ tạo ra các lăng kính
mà thông qua đó việc học tập của SV có thể hiện lên một cách rõ nét. Tuy
nhiên, một lăng kính không thể được sử dụng mãi mãi bởi vì người được quan
trường ĐH Viê ̣t Nam.
Chủ yếu những tài liệu tham khảo về công tác cố vấn học tập hiê ̣n nay
đều thông qua những bài báo, bài tham luận tại các hội thảo, hô ̣i nghi; ̣ mô ̣t số tài
liê ̣u về CVHT nước ngoà;i những quy định, quy chế liên quan đế n CVHT. Trong
giai đoa ̣n 2001 – 2009, chưa có đề tài nghiên cứu sâu sắ c đố i tươ ̣ng này. CVHT
vẫn là một khái niệm còn tương đối mới đối với đào tạo tại Việt Nam.
Đế n năm 2010, tác giả Trầ n Thi ̣Minh Đức (Đa ̣i ho ̣c Khoa ho ̣c xã hô ̣i
và Nhân văn ) đã tiến hành đề tài nghiên cứu đặc biệt cấp ĐH Quốc gia về
CVHT trong thời gian 02 năm (từ 04/2010 đến 04/2012) là “Xây dựng mô
hình hoạt động của cố vấn học tập trong đào tạo tín chỉ ở trường Đại học Viê ̣t
Nam”. Đề tài do Trường Đa ̣i ho ̣c Khoa ho ̣c xã hô ̣i và Nhân văn làm cơ quan
đảm nhâ ̣n thực hiê ̣n , phố i hơ ̣p với Trung tâm Nghiên cứu về phu ̣ nữ
-
ĐHQGHN thực hiện. Đề tài nghiên cứu về thực tra ̣ng đào tạo theo HCTC và
vai trò củ a CVHT trong đào tạo theo HCTC, đồ ng thời dựa trên lý thuyế t tiế p
câ ̣n và các mô hình CVHT các trường đa ̣i ho ̣c trên thế giới để xác đinh
̣ hoa ̣t
đô ̣ng của CVHT trong các trường Đa ̣i ho ̣c có
đào tạo theo HCTC tại Việt
Nam; từ đó đề xuấ t xây dựng mô hình CVHT.
Tháng 6/2011, Trường Đa ̣i ho ̣c Cầ n Thơ đã tổ chức Hô ̣i nghi ̣“Nâng
cao vai trò Cố vấ n ho ̣c tâ ̣p”, trong đó đề câ ̣p đế n vai trò , chức năng, nhiê ̣m vu ̣
của CVHT; những khó khăn và yêu cầ u đố i với đô ̣i ng ũ CVHT và biện pháp
nâng cao hiê ̣u quả hoa ̣t đô ̣ng của CVHT.
8
9
- Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào
hệ thống con người, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội.
- Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên
các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận
hành của đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định.
- Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ
hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của
môi trường.
Hiện nay, trong các sách về khoa học quản lý đã định nghĩa rõ hơn :
« Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các
hoạt động (chức năng) : kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm
tra. » [33, tr. 4]
Những định nghĩa trên đây khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều đề
cập tới các yếu tố cơ bản sau: Chủ thể quản lý; khách thể quản lý, mục tiêu
quản lý, ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp quản lý ) và công cụ
(hệ thống văn bản qui phạm pháp) quản lý .
Theo chúng tôi, có thể khái quát lại bản chất của quản lý là quá trình
tác động có mục đích, có kế hoạch và tổ chức đối với các nguồn lực nhằm đạt
tới mục tiêu đã xác định. Có thể hiểu đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn và
sửa sang, sắp xếp để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động
được ổn định và phát triển. Sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó
để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để
sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội. Bất luận một tổ
chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và
có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Quản
tương lai mà xác định rõ hệ thống các mục tiêu, nội dung hoạt động, các biện
pháp cần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn của tổ chức.
Lập kế hoạch bao gồm ba nội dung chủ yếu sau:
- Dự đoán, dự báo nhu cầu phát triển,
- Chuẩn đoán, đánh giá thực trạng phát triển của tổ chức,
11
- Xác định những mục tiêu, biện pháp và phương tiện cần thiết để thực
hiện mục tiêu đề ra.
+ Tổ chức thực hiện
Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp, phân phối các nguồn
lực để hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học
những con người, những công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác
động bộ phận tạo lên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều
so với tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần.
Công tác tổ chức gồm ba nhiệm vụ chính dưới đây:
- Xác định cấu trúc của bộ máy,
- Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy,
- Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức.
+ Chỉ đạo thực hiện
Chỉ đạo thực hiện là quá trình tác động, ảnh hưởng qua lại của chủ thể
quản lý đến hành vi thái độ của những thành viên trong tổ chức nhằm đạt
được những mục tiêu đã đề ra.
Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
- Chỉ huy, ra lệnh,
- Động viên, khen thưởng,
- Theo dõi, giám sát,
- Uốn nắn và điều chỉnh.
chỉ nhận thức, học vấn về những giá trị nhân cách trong một giai đoạn phát
triển lịch sử. Nhân cách được cụ thể hoá bằng hàng loạt những giá trị, nhất là
những giá trị tiêu biểu. Hệ thống giá trị nhân cách được định hướng theo
những chuẩn mực cho từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội, cho các cấp
bậc đào tạo.
Chuyên từ “đào tạo” thường được hiểu như một khái niệm để chỉ những
giá trị hiểu biết về kỹ năng nghề nghiệp, về khoa học, kỹ thuật, công nghệ…
Tất nhiên, khái niệm đào tạo không nằm ngoài khái niệm giáo dục. Đào tạo
phải có giá trị nhân cách, vì mục tiêu đào tạo là toàn diện: phải có đức, có tài,
có sức khỏe.
Giáo dục/đào tạo đại học được hiểu là bồi dưỡng đào tạo nhân cách ở
bậc sau phổ thông (bậc ĐH). Bậc ĐH theo nghĩa rộng gồm cấp cao đẳng, ĐH,
thạc sĩ và tiến sĩ. Thông thường còn sử dụng khái niệm đào tạo ĐH và đào tạo
13
sau ĐH. Đào tạo ĐH gồm bậc cao đẳng và ĐH. Đào tạo sau ĐH gồm bậc thạc
sĩ và tiến sĩ.
Như vậy, đại học là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân,
trường ĐH có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng. Trường ĐH có những
quyền hạn sau:
- Tổ chức hoạt động dạy, học và các hoạt động khác theo quy chế về tổ
chức và hoạt động của trường trình cơ quan chủ quản phê duyệt.
- Tuyển sinh và quản lý người học. Phối hợp với gia đình người học, các
tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục.
Về tổ chức và quản lý:
- Trường ĐH do Thủ tướng chính phủ cấp quyết định thành lập. Việc mở
trường phù hợp với qui hoạch mạng lưới trường học và nhu cầu phát triển
giáo dục của xã hội.
hoạt động đó nữa.
Quản lý giáo dục đã được các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đưa ra
một số định nghĩa dưới các góc độ khác nhau:
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo : “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan
là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công
tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [1]. Ngày nay, với sứ
mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn
ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ
cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc
dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
"Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy
động, tổ chức điều phối, điều chỉnh, giám sát... một cách có hiệu quả các
nguồn lực giáo dục (nhân lực, tài lực, vật lực) phục vụ cho mục tiêu phát
triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH” [21, tr.7].
Trong thực tế cho thấy quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức,
kế hoạch, tổ chức và hợp quy luật của các cơ quan quản lý giáo dục tới các
khâu của hệ thống giáo dục nhằm làm cho các cơ sở giáo dục vận hành được
bình thường và đạt tới các mục tiêu giáo dục đã đề ra.
15
Như vậy, quan niệm về quản lý giáo dục có thể có những cách diễn đạt
khác nhau, song trong mỗi cách định nghĩ đều đề cập tới các yếu tố cơ bản
sau : Chủ thể quản lý giáo dục; khách thể quản lý giáo dục, mục tiêu quản lý
giáo dục, ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục)
và công cụ (hệ thống văn bản qui phạm pháp) quản lý giáo dục.
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là sự điều hành, điều chỉnh và
phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục phục vụ con
người, phục vụ đời sống, vì hạnh phúc con người và sự phồn vinh xã hội. Đây